Thị trường bảo hiểm khởi sắc với doanh thu phí tăng 5,4%, ngân hàng đồng loạt nhập cuộc

Ánh Tuyết
(TBTCO) - 4 tháng đầu năm 2025, thị trường bảo hiểm tiếp tục duy trì đà tăng tích cực, với tổng doanh thu phí ước đạt 74.889 tỷ đồng, tăng 5,4%; tổng tài sản toàn ngành ước đạt hơn 1 triệu tỷ đồng, tăng 8,79%. Cùng với đó, nhiều ngân hàng rục rịch bước chân vào lĩnh vực bảo hiểm, mở rộng hệ sinh thái tài chính.
aa
Thị trường bảo hiểm nhìn từ sự nhập cuộc của "người chơi mới" Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ tính toán bước đi trong cuộc đua thị phần Hai "ông lớn" hợp sức thành lập công ty bảo hiểm nhân thọ vốn 1.300 tỷ đồng

Theo báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và 4 tháng năm 2025, trong lĩnh vực bảo hiểm, 4 tháng đầu năm 2025, tổng doanh thu phí bảo hiểm ước đạt 74.889 tỷ đồng, tăng 5,4% so với cùng kỳ; trong đó, mảng phi nhân thọ tăng trưởng nhanh hơn, ước tăng 11%.

Nhiều chỉ tiêu giữ đà tăng trưởng

Trước đó, cuối năm 2024, tổng doanh thu phí bảo hiểm vẫn sụt giảm nhẹ 0,26% so với cùng kỳ năm trước, đạt 227.495 tỷ đồng; trong đó, doanh thu phí bảo hiểm lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ tăng 10,21%; còn lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ giảm 5%.

Tài sản vượt mốc 1 triệu tỷ đồng

Theo báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và 4 tháng năm 2025, tổng tài sản ngành bảo hiểm ước đạt 1.032.213 tỷ đồng, tăng 8,79%; tổng vốn chủ sở hữu 211.928 tỷ đồng, tăng 4,14%. Tổng dự phòng nghiệp vụ 695.202 tỷ đồng, tăng 13,82%.

Các chỉ tiêu khác cũng ghi nhận tốc độ tăng trưởng khả quan trong 4 tháng đầu năm 2025. Theo đó, tổng vốn đầu tư trở lại nền kinh tế của các doanh nghiệp bảo hiểm đạt 874.664 tỷ đồng, tăng 9,24%, chủ yếu vào trái phiếu Chính phủ và tiền gửi.

Cùng với đó, các doanh nghiệp bảo hiểm chi trả quyền lợi ước đạt 24.758 tỷ đồng, tăng 9,34%.

Thị trường bảo hiểm cũng đón nhận nhiều tín hiệu tích cực những tháng đầu năm, khi nhiều ngân hàng đang lên kế hoạch thành lập doanh nghiệp bảo hiểm riêng, nhằm thúc đẩy phát triển và mở rộng hệ sinh thái tài chính.

Thị trường bảo hiểm khởi sắc với doanh thu phí tăng 5,4%, ngân hàng đồng loạt nhập cuộc
Thị trường bảo hiểm khởi sắc với doanh thu phí tăng 5,4%, ngân hàng đồng loạt nhập cuộc. Ảnh: T.L

Ngân hàng “lấn sân” bảo hiểm, mở rộng hệ sinh thái

Tại Đại hội đồng cổ đông mới được tổ chức, ngân hàng VPBank thông qua phương án góp vốn để thành lập công ty con hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ. Công ty con này sẽ có vốn điều lệ dự kiến là 2.000 tỷ đồng, với mức cụ thể sẽ do Hội đồng Quản trị ngân hàng quyết định dựa trên thỏa thuận.

Lĩnh vực hoạt động của công ty con sẽ bao gồm các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ cơ bản, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm liên kết chung và các nghiệp vụ bảo hiểm khác theo quy định của pháp luật và được Bộ Tài chính chấp thuận.

Tỷ lệ tham gia của VPBank và các bên liên quan tối đa trong phạm vi pháp luật cho phép (100%). Tỷ lệ tham gia cụ thể của VPBank sẽ tùy thuộc vào việc thỏa thuận với các bên liên quan và, hoặc đối tác hợp tác và các quy định có liên quan trên cơ sở phù hợp các quy định pháp luật và công ty bảo hiểm mới được thành lập trở thành công ty con của ngân hàng.

Doanh thu phí bảo hiểm tăng 5,4%, tài sản ngành vượt mốc 1 triệu tỷ đồng
Nhiều ngân hàng rục rịch bước chân vào lĩnh vực bảo hiểm, mở rộng hệ sinh thái tài chính. Ảnh minh hoạ.

Theo ông Bùi Hải Quân - Phó Chủ tịch Hội đồng Quản trị VPBank, ngân hàng vượt ra khỏi khuôn khổ là một ngân hàng đơn lẻ và xây dựng một tập đoàn đa ngành và đang muốn hoàn thiện thêm hai mảnh ghép là bảo hiểm nhân thọ và công ty quản lý quỹ.

"Nếu chỉ hợp tác phân phối bảo hiểm với các đối tác khác, chúng ta sẽ luôn bị động về sản phẩm, mô hình kinh doanh và đặc biệt là việc quản lý, chăm sóc khách hàng. Do đó, chúng tôi xác định phải chủ động nguồn kinh doanh, từ sản phẩm cho tới tệp khách hàng và quy trình khai thác" - lãnh đạo VPBank cho biết.

Hơn nữa, bảo hiểm nhân thọ và ngân hàng có sự gắn kết rất chặt chẽ về mô hình kinh doanh cũng như sự tương tác trong hệ sinh thái khách hàng. Dù việc thành lập công ty này sẽ liên quan đến một số vấn đề thủ tục và cam kết với đối tác hiện tại, nhưng ngân hàng sẽ triển khai các phương án hợp lý và có lợi nhất cho ngân hàng.

Với kinh nghiệm vận hành OPES, lãnh đạo VPBank cho rằng việc thành lập công ty bảo hiểm nhân thọ lần này sẽ giúp tổ chức này vận hành hiệu quả, ứng dụng công nghệ mạnh mẽ ngay từ đầu và mang lại hiệu quả tối ưu. Công ty mới này cũng sẽ vận hành độc lập về tài chính, vốn chủ sở hữu.

Ngân hàng Techcombank cũng ghi nhận mảng bảo hiểm bắt đầu phát triển rõ nét. Hiện nay Techcombank đã triển khai sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ từ liên kết với công ty bảo hiểm và tài chính tiêu dùng, bao gồm bảo hiểm nhà, ô tô, an ninh mạng... Trong mảng bảo hiểm nhân thọ, Techcombank vẫn đang chờ hoàn tất các quy trình cấp phép từ Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước.

Hoạt động bảo hiểm đang ghi nhận sự tăng trưởng trở lại tại ngân hàng này. Theo báo cáo quý I/2025, doanh thu từ phí bảo hiểm của Techcombank tăng 27% so với cùng kỳ năm trước và đặc biệt bứt tốc mạnh, tăng tới 1.718% so với quý IV/2024.

Đại diện Techcombank đánh giá bancassurance là một trong những điểm sáng trong quý, sau khi phục hồi trở lại từ giai đoạn sụt giảm mạnh do chấm dứt hợp đồng phân phối độc quyền với Manulife.

Trước đó, ngày 20/3, Hội đồng Quản trị Techcombank thông qua nghị quyết góp vốn thành lập Công ty cổ phần Bảo hiểm Nhân thọ Kỹ Thương (TCLife) với vốn điều lệ 1.300 tỷ đồng. Sau khi thành lập, TCLife sẽ có hai cổ đông lớn gồm Techcombank nắm 80% vốn (tương đương 1.040 tỷ đồng) và Vingroup.

Vào cuối năm 2024, Techcombank đã ra mắt thương hiệu bảo hiểm phi nhân thọ Công ty cổ phần Bảo hiểm Phi nhân thọ Kỹ Thương (TCGIns), doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ thứ 31 tại Việt Nam, với vốn điều lệ 500 tỷ đồng; trong đó, Techcombank góp 11% vốn (55 tỷ đồng)./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

(TBTCO) - Thông tư số 25/2026/TT-NHNN nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ 30% lên 40% từ ngày 1/7, tạo thêm dư địa tín dụng ước 1,3 - 1,5 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, dư địa lớn hơn không đồng nghĩa hạ chuẩn an toàn, các ngân hàng cần đồng thời củng cố ba trụ cột cốt lõi, để vừa thúc đẩy tăng trưởng vừa bảo đảm an toàn hệ thống.
Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

(TBTCO) - Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm số đông, nhưng dư nợ dành cho khu vực này mới chiếm khoảng 20% tín dụng toàn nền kinh tế. Bên cạnh các chính sách mới mở đường, việc gỡ "nút thắt" tài sản bảo đảm, đa dạng hóa giải pháp tín dụng của ngân hàng, doanh nghiệp cần chủ động nâng cao tính minh bạch mở rộng cơ hội tiếp cận vốn.
Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

(TBTCO) - Trải qua 32 năm phát triển, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) từng bước mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả hoạt động, qua đó khẳng định vị thế trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Đáng chú ý, trong giai đoạn 2020 - 2025, tổng nộp ngân sách nhà nước của Ngân hàng đạt gần 5.300 tỷ đồng và quy mô tài sản tăng gấp hơn 4,6 lần, phản ánh rõ nét chiến lược phát triển bền vững gắn với hiệu quả, tuân thủ và đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

(TBTCO) - Thông tư 25/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước được kỳ vọng giúp giảm áp lực huy động vốn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn, qua đó tăng khả năng cung ứng tín dụng cho các dự án hạ tầng, đầu tư quy mô lớn và hỗ trợ thanh khoản hệ thống.
TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

(TBTCO) - Đồng hành cùng Tinh Hà Say Hi với vai trò Nhà tài trợ Kim cương là Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) - luôn được biết đến với hình ảnh “ngân hàng dành cho giới trẻ” và chiến lược “lifestyle banking” - đưa banking đồng hành trong từng hơi thở của nhịp sống hiện đại.
Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 73,41 USD/ounce xuống còn khoảng 4.110 USD/ounce. Bên cạnh đó, vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt đi xuống tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn.
Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) chính thức triển khai chiến dịch Be The One - Start As One | Khởi đầu từ vị thế Tiên phong, chương trình tuyển dụng và phát triển thế hệ tư vấn viên mới, nhằm góp phần nâng cao chuẩn mực nghề tư vấn viên tài chính và hướng đến trải nghiệm khách hàng toàn diện hơn.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,300 14,600
Kim TT/AVPL 14,300 14,600
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 14,600
Nguyên Liệu 99.99 13,100 13,300
Nguyên Liệu 99.9 13,050 13,250
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 14,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 14,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 14,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 146,000
Hà Nội - PNJ 143,000 146,000
Đà Nẵng - PNJ 143,000 146,000
Miền Tây - PNJ 143,000 146,000
Tây Nguyên - PNJ 143,000 146,000
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 146,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 14,620
Miếng SJC Nghệ An 14,250 14,620
Miếng SJC Thái Bình 14,250 14,620
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 14,550
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 14,550
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 14,550
NL 99.90 12,900
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,740 14,440
Trang sức 99.99 13,750 14,450
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,432 14,622
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,432 14,623
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 1,461
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 1,462
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,411 1,446
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,168 143,168
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 108,611
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,988 98,488
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,865 88,365
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,496 8,446
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,954 60,454
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Cập nhật: 26/06/2026 07:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17605 17878 18457
CAD 17946 18221 18839
CHF 31737 32118 32766
CNY 0 3830 3923
EUR 29226 29446 30527
GBP 33851 34241 35178
HKD 0 3226 3428
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14531 15118
SGD 19743 20025 20594
THB 704 767 820
USD (1,2) 26051 0 0
USD (5,10,20) 26092 0 0
USD (50,100) 26121 26135 26456
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,136 26,136 26,456
USD(1-2-5) 25,091 - -
USD(10-20) 25,091 - -
EUR 29,435 29,459 30,794
JPY 158.56 158.85 168.05
GBP 34,096 34,188 35,284
AUD 17,842 17,906 18,537
CAD 18,173 18,231 18,856
CHF 32,067 32,167 33,029
SGD 19,906 19,968 20,699
CNY - 3,797 3,932
HKD 3,295 3,305 3,436
KRW 15.71 16.38 17.77
THB 752.21 761.5 813.84
NZD 14,557 14,692 15,096
SEK - 2,657 2,745
DKK - 3,938 4,067
NOK - 2,629 2,716
LAK - 0.9 1.25
MYR 5,979.03 - 6,738.5
TWD 748.34 - 904.41
SAR - 6,902.61 7,253.07
KWD - 83,317 88,439
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,116 26,136 26,456
EUR 29,333 29,451 30,630
GBP 34,037 34,174 35,183
HKD 3,290 3,303 3,419
CHF 31,856 31,984 32,893
JPY 158.69 159.33 167.11
AUD 17,806 17,878 18,464
SGD 19,942 20,022 20,598
THB 768 771 806
CAD 18,162 18,235 18,794
NZD 14,615 15,144
KRW 16.30 17.91
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26120 26120 26456
AUD 17812 17912 18837
CAD 18140 18240 19255
CHF 32047 32077 33651
CNY 3811 3836 3971.7
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29460 29490 31213
GBP 34208 34258 36013
HKD 0 3355 0
JPY 159.14 159.64 170.15
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14662 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19916 20046 20774
THB 0 733.9 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14320000 14320000 14620000
SBJ 13000000 13000000 14620000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,101 26,101 26,456
USD20 26,101 26,101 26,456
USD1 26,101 26,101 26,456
AUD 17,845 17,945 19,058
EUR 29,617 29,617 31,023
CAD 18,087 18,187 19,495
SGD 19,991 20,141 20,706
JPY 159.67 161.17 165.74
GBP 34,090 34,440 35,584
XAU 14,318,000 0 14,622,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/06/2026 07:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80