Sẽ sửa đổi Nghị định bảo hiểm nông nghiệp, tăng vai trò "lá chắn" trước rủi ro

(TBTCO) - Ngày 15/1, Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính) phối hợp cùng với Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tổ chức Hội thảo tổng kết, đánh giá và định hướng sửa đổi, bổ sung Nghị định số 58/2018/NĐ-CP ngày 18/4/2018 về bảo hiểm nông nghiệp (Nghị định số 58). Nghị định sửa đổi dự kiến trình Chính phủ ban hành trong năm 2025.
aa

Trên cơ sở tổng kết thực hiện bảo hiểm nông nghiệp giai đoạn thí điểm từ năm 2011 - 2013 và tổng hợp ý kiến đề xuất của các địa phương, Bộ Tài chính đã phối hợp cùng với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Bộ NN&PTNT), các bộ, ngành liên quan xây dựng, trình Chính phủ ban hành Nghị định số 58/2018/NĐ-CP ngày 18/4/2018 của Chính phủ về bảo hiểm nông nghiệp.

Hỗ trợ thiết thực người dân, vì mục tiêu phát triển nông nghiệp

Nhìn lại thời gian thí điểm, bảo hiểm nông nghiệp được triển khai theo Quyết định số 315/QĐ-TTg ngày 01/03/2011 của Thủ tướng Chính phủ. Sau 3 năm thực hiện (2011 - 2013), chương trình thí điểm đã đạt được những kết quả tích cực về thiết lập được hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về thí điểm bảo hiểm trong nông nghiệp; đồng thời, hình thành sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp bao gồm cây lúa, vật nuôi và thủy sản. Từ đó, thu hút được các hộ dân ở các huyện, xã được lựa chọn thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp của 20 tỉnh, thành phố tham gia.

Sự phối kết hợp chặt chẽ giữa Bộ Tài chính và Bộ NN&PTNT, sự ủng hộ của các địa phương, nỗ lực của các doanh nghiệp bảo hiểm tham gia triển khai. Đáng chú ý, quá trình thực hiện thí điểm góp phần hình thành 03 sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp đối với cây trồng (cây lúa), vật nuôi (trâu, bò, gia cầm) và thủy sản (tôm, cá tra).

Sẽ sửa đổi Nghị định bảo hiểm nông nghiệp, tăng vai trò
Sửa đổi Nghị định bảo hiểm nông nghiệp năm 2025, nêu cao vai trò "lá chắn" trước rủi ro tài chính trước thiên tai, dịch bệnh. Ảnh TL

Phát biểu tại hội thảo, đại diện Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm cho biết, chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp được thực hiện phù hợp với khả năng cân đối ngân sách trong từng thời kỳ, thông qua việc hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp cho một số tổ chức, cá nhân sản xuất nông nghiệp, đối tượng bảo hiểm, rủi ro được bảo hiểm và trong phạm vi địa bàn nhất định nhằm thực hiện chính sách an sinh xã hội và thực hiện các chương trình mục tiêu phát triển sản xuất nông nghiệp của Chính phủ.

Thông tin từ Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm cho thấy, trong 5 năm triển khai thực hiện, từ năm 2019 - nay, có 4/29 địa phương triển khai chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp: Nghệ An, Thái Bình (đối với cây lúa); Hà Giang, Bình Định (đối với vật nuôi là trâu, bò). Tổng số hộ nông dân/tổ chức sản xuất tham gia bảo hiểm: 20.261 (17.871 hộ nghèo và hộ cận nghèo, 2.499 hộ thường). Tổng giá trị được bảo hiểm: 217,3 tỷ đồng; tổng số phí bảo hiểm là 9,47 tỷ đồng, trong đó ngân sách nhà nước hỗ trợ là 8,02 tỷ đồng.

Hiện nay, chính sách hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp được thực hiện theo Quyết định số 13/2022/QĐ-TTg ngày 09/5/2022 (thay thế Quyết định 22/2019/QĐ-TTg ngày 26/6/2019). Theo đó, 29 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là các địa bàn được hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp, thời gian thực hiện đến hết 31/12/2025.

Triển khai quyết định nêu trên, rủi ro được bảo hiểm mở rộng hơn về đối tượng bảo hiểm được hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp và địa bàn hỗ trợ. Theo đó, rủi ro được bảo hiểm gồm: cây lúa 19 rủi ro thiên tai, 12 rủi ro dịch bệnh (mở rộng thêm 5 rủi ro dịch bệnh); cây cao su, hồ tiêu, điều, cà phê: 9 rủi ro thiên tai; vật nuôi (trâu, bò , lợn): 17 rủi ro thiên tai, 4 rủi ro dịch bệnh (mở rộng thêm 2 rủi ro dịch bệnh); nuôi trồng thủy sản: 16 rủi ro thiên tai.

Tính từ năm 2022 đến nay, tổng số hộ nông dân/tổ chức sản xuất tham gia bảo hiểm là 3.630, gồm 3.390 hộ nghèo, 227 hộ cận nghèo, 13 hộ thường. Tổng giá trị được bảo hiểm 70,97 tỷ đồng; tổng số phí bảo hiểm 2,6 tỷ đồng, trong đó ngân sách nhà nước hỗ trợ là 2,3 tỷ đồng.

Gióng hồi chuông nhìn lại vai trò bảo hiểm nông nghiệp

Chia sẻ tại hội thảo, đại diện Bộ NN&PTNT cho biết, ngành Nông nghiệp khẳng định vị thế quan trọng, là động lực và trụ đỡ của nền kinh tế nước nhà. Nông nghiệp vừa bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia, vừa hội nhập quốc tế mạnh mẽ và sâu rộng. Nhiều mặt hàng nông sản thế mạnh, chủ lực tiếp tục được mở rộng thị trường. Năm 2024, ngành nông nghiệp lập nhiều kỷ lục mới, với nhiều con số ấn tượng, đặc biệt tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thuỷ sản đạt 62,5 tỷ USD, tăng 18,7% so với năm 2023.

Tuy nhiên, ngành nông nghiệp cũng đối mặt không ít thách thức do tác động mạnh mẽ của biến đổi khí hậu gây ra hiện tượng thời tiết khác thường, tác động tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp. Một trong những tác động lớn nhất năm vừa qua phải kể đến hậu quả nặng nề để lại từ cơn bão Yagi.

Cơn bão số 3 gây nên thiệt hại nặng nề, đặc biệt thiệt hại với sản xuất nông lâm thủy sản lên tới 31.800 tỷ đồng và gây suy giảm tăng trưởng 0,3-0,5 điểm phần trăm toàn ngành trong năm 2024.

"Những thiệt hại này còn ảnh hưởng nghiêm trọng tới sản xuất và chuỗi cung ứng trong sản xuất nông nghiệp và gây ra những hậu quả lớn đến các đối tượng nông dân, hợp tác xã" - đại diện Bộ NN&PTNT bày tỏ.

Sẽ sửa đổi Nghị định bảo hiểm nông nghiệp, tăng vai trò

Nhiều đại biểu đề xuất nâng mức hỗ trợ cho cá nhân sản xuất nông nghiệp không thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo tối đa 40-50% phí bảo hiểm nông nghiệp, thay vì mức 20%.

Để chính sách hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp phát huy hiệu quả, nhiều nội sung sửa đổi chính sách đã được đề xuất, đại diện Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm dự kiến sẽ mở rộng đối tượng bảo hiểm theo các sản phẩm nông nghiệp chủ lực quốc gia và sản phẩm nông nghiệp chủ lực địa phương, mở rộng rủi ro bảo hiểm được hỗ trợ và mở rộng địa bàn được hỗ trợ.

Cùng với đó, đề nghị bỏ quy định về phê chuẩn sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp để đáp ứng quy định của Luật Kinh doanh bao hiểm 2022, doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm chủ động thỏa thuận về phạm vi bảo hiểm và mức phí bảo hiểm phù hợp, kịp thời đảm bảo tính mùa vụ trong nông nghiệp phù hợp với nhu cầu, đặc trưng riêng có của từng địa phương.

Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm cũng đề xuất tăng mức hỗ trợ phí bảo hiểm, đặc biệt cho các tổ chức sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp quy mô lớn. Quy định đơn vị đầu mối hỗ trợ chia sẻ dữ liệu về tình hình, mức độ và giá trị thiệt hại cho doanh nghiệp bảo hiểm làm cơ sở xây dựng sản phẩm bảo hiểm, xác định phí bảo hiểm.

Ngoài ra, đẩy mạnh thực hiện các giải pháp tuyên truyền, hướng dẫn để người dân thực hiện tuân thủ quy trình sản xuất, đảm bảo các điều kiện để được bồi thường bảo hiểm./.

Trao đổi tại hội thảo, nhiều đại biểu chia sẻ vướng mắc về việc thiếu thốn dữ liệu thống kê về mức độ thiệt hại làm cơ sở xác định phí bảo hiểm; mức phí hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo, hỗ trợ tổ chức cá nhân, hộ gia đình còn thấp; thủ tục phê duyệt đối tượng được hỗ trợ kinh phí từ ngân sách chưa mang tính kịp thời…

Thực hiện nhiệm vụ được Chính phủ giao tại Nghị quyết số 26/NQ-CP ngày 27/02/2023, Bộ Tài chính đang nghiên cứu các nội dung sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 58/2018/NĐ-CP và sẽ sớm có văn bản lấy ý kiến rộng rãi. Trên cơ sở đó, Nghị định sửa đổi Nghị định số 58/2018/NĐ-CP dự kiến trình Chính phủ ban hành trong năm 2025./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) vừa chính thức ra mắt PRUKhỏe Linh Hoạt, sản phẩm bảo hiểm bán cùng được thiết kế theo định hướng cá nhân hóa các kế hoạch bảo hiểm sức khỏe, trao cho khách hàng quyền chủ động lựa chọn hạn mức hàng năm, phạm vi địa lý và quyền lợi bảo hiểm tùy chọn để xây dựng kế hoạch phù hợp với nhu cầu, khả năng tài chính và từng giai đoạn cuộc sống.
Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

(TBTCO) - Thông tư số 96/2026/TT-BTC yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm thông báo cụ thể các trường hợp và căn cứ tăng, giảm phí bảo hiểm xe cơ giới. Quy định mới không chỉ đặt ra giới hạn đối với việc giảm phí, mà còn hướng hoạt động cạnh tranh vào thực chất, bảo đảm giá phí tương xứng với mức độ rủi ro và quyền lợi của khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (14/9): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY giữ 99 điểm trước quyết định lãi suất của Fed, BoJ và BoE

Tỷ giá USD hôm nay (14/9): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY giữ 99 điểm trước quyết định lãi suất của Fed, BoJ và BoE

(TBTCO) - Sáng 14/9, tỷ giá trung tâm tăng 11 đồng lên 25.607 đồng, trong khi chỉ số DXY tăng 0,09% lên 99,21 điểm. Lạm phát cơ bản Mỹ tháng 8 tăng 0,3% so với tháng trước, cao hơn dự báo 0,2%, làm gia tăng kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang (Fed) tăng lãi suất; Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) và Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) cũng quyết định lãi suất trong tuần này.
Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 34 USD/ounce, xuống 4.333 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giao dịch trong khoảng 142,5 - 147 triệu đồng/lượng.
NCB sẽ tài trợ vốn cho dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội

NCB sẽ tài trợ vốn cho dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội

(TBTCO) - Tại Hội nghị giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính - ngân hàng phục vụ tăng trưởng kinh tế Thủ đô giai đoạn 2026 - 2030 vừa tổ chức, Ngân hàng NCB và Công ty TNHH Đầu tư Hạ tầng và Đô thị Bắc Hà Nội đã chính thức ký kết thỏa thuận hợp tác toàn diện, đồng hành cùng triển khai xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội.
Hà Nội thúc vốn cho dự án, mở thêm kênh huy động dài hạn

Hà Nội thúc vốn cho dự án, mở thêm kênh huy động dài hạn

(TBTCO) - Tại Hội nghị “Giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính - ngân hàng phục vụ tăng trưởng kinh tế Thủ đô giai đoạn 2026 - 2030” do UBND TP. Hà Nội phối hợp với Ngân hàng Nhà nước tổ chức chiều 12/9, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước và TP. Hà Nội thống nhất nhiều giải pháp nhằm khơi thông dòng vốn, tháo gỡ điểm nghẽn cho các dự án và đa dạng hóa nguồn lực tài chính phục vụ tăng trưởng.
Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới

Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới

(TBTCO) - Trong 8 tháng đầu năm 2026, huy động vốn trên địa bàn Hà Nội tăng 10,78%, dư nợ tín dụng tăng 13,05%, đưa Thủ đô tiếp tục dẫn đầu cả nước về quy mô huy động và cho vay.
Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

(TBTCO) - Trước yêu cầu tăng trưởng GRDP từ 11% trở lên trong năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030, Hà Nội xác định khơi thông các nguồn lực tài chính, đặc biệt là vốn tín dụng và nguồn lực doanh nghiệp, là nhiệm vụ trọng tâm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 146,100 ▲100K
Hà Nội - PNJ 143,000 146,100 ▲100K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 146,100 ▲100K
Miền Tây - PNJ 143,000 146,100 ▲100K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 146,100 ▲100K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 146,100 ▲100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,320 ▲20K 14,620 ▲20K
Miếng SJC Nghệ An 14,320 ▲20K 14,620 ▲20K
Miếng SJC Thái Bình 14,320 ▲20K 14,620 ▲20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,320 ▲20K 14,670 ▲20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,320 ▲20K 14,670 ▲20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,320 ▲20K 14,670 ▲20K
NL 99.99 13,650 ▲50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,550 ▲50K
Trang sức 99.9 13,980 ▲20K 14,580 ▲20K
Trang sức 99.99 13,990 ▲20K 14,590 ▲20K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 ▲1283K 1,456 ▲1310K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,426 ▲1283K 14,562 ▼40K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,426 ▲1283K 14,563 ▼40K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,421 ▼4K 1,451 ▼4K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,421 ▼4K 1,452 ▼4K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,396 ▲1256K 1,441 ▼4K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,673 ▼396K 142,673 ▼396K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,436 ▼300K 108,236 ▼300K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,348 ▲79486K 98,148 ▲88306K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,826 ▼70678K 8,806 ▼79498K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,369 ▼233K 84,169 ▼233K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,446 ▼167K 60,246 ▼167K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 ▲1283K 1,456 ▲1310K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 ▲1283K 1,456 ▲1310K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 ▲1283K 1,456 ▲1310K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 ▲1283K 1,456 ▲1310K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 ▲1283K 1,456 ▲1310K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 ▲1283K 1,456 ▲1310K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 ▲1283K 1,456 ▲1310K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 ▲1283K 1,456 ▲1310K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 ▲1283K 1,456 ▲1310K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 ▲1283K 1,456 ▲1310K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 ▲1283K 1,456 ▲1310K
Cập nhật: 14/09/2026 15:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18009 18284 18868
CAD 18192 18468 19082
CHF 31082 31460 32111
CNY 0 3831 3927
EUR 29391 29612 30689
GBP 34253 34644 35583
HKD 0 3182 3384
JPY 161 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14711 15297
SGD 19922 20205 20774
THB 698 761 814
USD (1,2) 25719 0 0
USD (5,10,20) 25758 0 0
USD (50,100) 25786 25800 26167
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,760 25,760 26,140
USD(1-2-5) 24,730 - -
USD(10-20) 24,730 - -
EUR 29,401 29,425 30,822
JPY 163.6 163.9 173.82
GBP 34,394 34,487 35,691
AUD 18,190 18,256 18,946
CAD 18,351 18,410 19,089
CHF 31,301 31,398 32,332
SGD 20,015 20,077 20,866
CNY - 3,794 3,940
HKD 3,241 3,251 3,388
KRW 17.77 18.53 20.16
THB 745.41 754.62 808.02
NZD 14,684 14,820 15,260
SEK - 2,619 2,711
DKK - 3,944 4,083
NOK - 2,739 2,836
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,947.71 - 6,713.47
TWD 737.77 - 893.86
SAR - 6,790.46 7,153.41
KWD - 82,264 87,538
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,700 25,730 26,110
EUR 29,475 29,593 30,790
GBP 34,415 34,553 35,582
HKD 3,237 3,250 3,367
CHF 31,175 31,300 32,234
JPY 164.54 165.20 173.18
AUD 18,181 18,254 18,848
SGD 20,090 20,171 20,766
THB 763 766 803
CAD 18,351 18,425 19,017
NZD 14,783 15,323
KRW 18.43 20.39
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25800 25800 26160
AUD 18193 18293 19218
CAD 18367 18467 19483
CHF 31323 31353 32931
CNY 3812.5 3837.5 3972.9
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29565 29595 31318
GBP 34544 34594 36363
HKD 0 3305 0
JPY 164.87 165.37 175.88
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14818 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20078 20208 20932
THB 0 727.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14350000 14350000 14650000
SBJ 13000000 13000000 14650000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,645 25,745 26,110
USD20 25,595 25,745 26,110
USD1 24,327 25,745 26,876
AUD 18,276 18,376 19,497
EUR 29,406 29,506 31,184
CAD 18,279 18,379 19,696
SGD 20,151 20,301 20,864
JPY 165.77 167.27 172.88
GBP 34,432 34,582 35,660
XAU 14,268,000 0 14,572,000
CNY 0 3,713 0
THB 0 764 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 14/09/2026 15:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30