Sẽ sửa đổi Nghị định bảo hiểm nông nghiệp, tăng vai trò "lá chắn" trước rủi ro

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Ngày 15/1, Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính) phối hợp cùng với Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tổ chức Hội thảo tổng kết, đánh giá và định hướng sửa đổi, bổ sung Nghị định số 58/2018/NĐ-CP ngày 18/4/2018 về bảo hiểm nông nghiệp (Nghị định số 58). Nghị định sửa đổi dự kiến trình Chính phủ ban hành trong năm 2025.
aa

Trên cơ sở tổng kết thực hiện bảo hiểm nông nghiệp giai đoạn thí điểm từ năm 2011 - 2013 và tổng hợp ý kiến đề xuất của các địa phương, Bộ Tài chính đã phối hợp cùng với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Bộ NN&PTNT), các bộ, ngành liên quan xây dựng, trình Chính phủ ban hành Nghị định số 58/2018/NĐ-CP ngày 18/4/2018 của Chính phủ về bảo hiểm nông nghiệp.

Hỗ trợ thiết thực người dân, vì mục tiêu phát triển nông nghiệp

Nhìn lại thời gian thí điểm, bảo hiểm nông nghiệp được triển khai theo Quyết định số 315/QĐ-TTg ngày 01/03/2011 của Thủ tướng Chính phủ. Sau 3 năm thực hiện (2011 - 2013), chương trình thí điểm đã đạt được những kết quả tích cực về thiết lập được hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về thí điểm bảo hiểm trong nông nghiệp; đồng thời, hình thành sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp bao gồm cây lúa, vật nuôi và thủy sản. Từ đó, thu hút được các hộ dân ở các huyện, xã được lựa chọn thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp của 20 tỉnh, thành phố tham gia.

Sự phối kết hợp chặt chẽ giữa Bộ Tài chính và Bộ NN&PTNT, sự ủng hộ của các địa phương, nỗ lực của các doanh nghiệp bảo hiểm tham gia triển khai. Đáng chú ý, quá trình thực hiện thí điểm góp phần hình thành 03 sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp đối với cây trồng (cây lúa), vật nuôi (trâu, bò, gia cầm) và thủy sản (tôm, cá tra).

Sẽ sửa đổi Nghị định bảo hiểm nông nghiệp, tăng vai trò
Sửa đổi Nghị định bảo hiểm nông nghiệp năm 2025, nêu cao vai trò "lá chắn" trước rủi ro tài chính trước thiên tai, dịch bệnh. Ảnh TL

Phát biểu tại hội thảo, đại diện Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm cho biết, chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp được thực hiện phù hợp với khả năng cân đối ngân sách trong từng thời kỳ, thông qua việc hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp cho một số tổ chức, cá nhân sản xuất nông nghiệp, đối tượng bảo hiểm, rủi ro được bảo hiểm và trong phạm vi địa bàn nhất định nhằm thực hiện chính sách an sinh xã hội và thực hiện các chương trình mục tiêu phát triển sản xuất nông nghiệp của Chính phủ.

Thông tin từ Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm cho thấy, trong 5 năm triển khai thực hiện, từ năm 2019 - nay, có 4/29 địa phương triển khai chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp: Nghệ An, Thái Bình (đối với cây lúa); Hà Giang, Bình Định (đối với vật nuôi là trâu, bò). Tổng số hộ nông dân/tổ chức sản xuất tham gia bảo hiểm: 20.261 (17.871 hộ nghèo và hộ cận nghèo, 2.499 hộ thường). Tổng giá trị được bảo hiểm: 217,3 tỷ đồng; tổng số phí bảo hiểm là 9,47 tỷ đồng, trong đó ngân sách nhà nước hỗ trợ là 8,02 tỷ đồng.

Hiện nay, chính sách hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp được thực hiện theo Quyết định số 13/2022/QĐ-TTg ngày 09/5/2022 (thay thế Quyết định 22/2019/QĐ-TTg ngày 26/6/2019). Theo đó, 29 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là các địa bàn được hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp, thời gian thực hiện đến hết 31/12/2025.

Triển khai quyết định nêu trên, rủi ro được bảo hiểm mở rộng hơn về đối tượng bảo hiểm được hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp và địa bàn hỗ trợ. Theo đó, rủi ro được bảo hiểm gồm: cây lúa 19 rủi ro thiên tai, 12 rủi ro dịch bệnh (mở rộng thêm 5 rủi ro dịch bệnh); cây cao su, hồ tiêu, điều, cà phê: 9 rủi ro thiên tai; vật nuôi (trâu, bò , lợn): 17 rủi ro thiên tai, 4 rủi ro dịch bệnh (mở rộng thêm 2 rủi ro dịch bệnh); nuôi trồng thủy sản: 16 rủi ro thiên tai.

Tính từ năm 2022 đến nay, tổng số hộ nông dân/tổ chức sản xuất tham gia bảo hiểm là 3.630, gồm 3.390 hộ nghèo, 227 hộ cận nghèo, 13 hộ thường. Tổng giá trị được bảo hiểm 70,97 tỷ đồng; tổng số phí bảo hiểm 2,6 tỷ đồng, trong đó ngân sách nhà nước hỗ trợ là 2,3 tỷ đồng.

Gióng hồi chuông nhìn lại vai trò bảo hiểm nông nghiệp

Chia sẻ tại hội thảo, đại diện Bộ NN&PTNT cho biết, ngành Nông nghiệp khẳng định vị thế quan trọng, là động lực và trụ đỡ của nền kinh tế nước nhà. Nông nghiệp vừa bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia, vừa hội nhập quốc tế mạnh mẽ và sâu rộng. Nhiều mặt hàng nông sản thế mạnh, chủ lực tiếp tục được mở rộng thị trường. Năm 2024, ngành nông nghiệp lập nhiều kỷ lục mới, với nhiều con số ấn tượng, đặc biệt tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thuỷ sản đạt 62,5 tỷ USD, tăng 18,7% so với năm 2023.

Tuy nhiên, ngành nông nghiệp cũng đối mặt không ít thách thức do tác động mạnh mẽ của biến đổi khí hậu gây ra hiện tượng thời tiết khác thường, tác động tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp. Một trong những tác động lớn nhất năm vừa qua phải kể đến hậu quả nặng nề để lại từ cơn bão Yagi.

Cơn bão số 3 gây nên thiệt hại nặng nề, đặc biệt thiệt hại với sản xuất nông lâm thủy sản lên tới 31.800 tỷ đồng và gây suy giảm tăng trưởng 0,3-0,5 điểm phần trăm toàn ngành trong năm 2024.

"Những thiệt hại này còn ảnh hưởng nghiêm trọng tới sản xuất và chuỗi cung ứng trong sản xuất nông nghiệp và gây ra những hậu quả lớn đến các đối tượng nông dân, hợp tác xã" - đại diện Bộ NN&PTNT bày tỏ.

Sẽ sửa đổi Nghị định bảo hiểm nông nghiệp, tăng vai trò

Nhiều đại biểu đề xuất nâng mức hỗ trợ cho cá nhân sản xuất nông nghiệp không thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo tối đa 40-50% phí bảo hiểm nông nghiệp, thay vì mức 20%.

Để chính sách hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp phát huy hiệu quả, nhiều nội sung sửa đổi chính sách đã được đề xuất, đại diện Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm dự kiến sẽ mở rộng đối tượng bảo hiểm theo các sản phẩm nông nghiệp chủ lực quốc gia và sản phẩm nông nghiệp chủ lực địa phương, mở rộng rủi ro bảo hiểm được hỗ trợ và mở rộng địa bàn được hỗ trợ.

Cùng với đó, đề nghị bỏ quy định về phê chuẩn sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp để đáp ứng quy định của Luật Kinh doanh bao hiểm 2022, doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm chủ động thỏa thuận về phạm vi bảo hiểm và mức phí bảo hiểm phù hợp, kịp thời đảm bảo tính mùa vụ trong nông nghiệp phù hợp với nhu cầu, đặc trưng riêng có của từng địa phương.

Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm cũng đề xuất tăng mức hỗ trợ phí bảo hiểm, đặc biệt cho các tổ chức sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp quy mô lớn. Quy định đơn vị đầu mối hỗ trợ chia sẻ dữ liệu về tình hình, mức độ và giá trị thiệt hại cho doanh nghiệp bảo hiểm làm cơ sở xây dựng sản phẩm bảo hiểm, xác định phí bảo hiểm.

Ngoài ra, đẩy mạnh thực hiện các giải pháp tuyên truyền, hướng dẫn để người dân thực hiện tuân thủ quy trình sản xuất, đảm bảo các điều kiện để được bồi thường bảo hiểm./.

Trao đổi tại hội thảo, nhiều đại biểu chia sẻ vướng mắc về việc thiếu thốn dữ liệu thống kê về mức độ thiệt hại làm cơ sở xác định phí bảo hiểm; mức phí hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo, hỗ trợ tổ chức cá nhân, hộ gia đình còn thấp; thủ tục phê duyệt đối tượng được hỗ trợ kinh phí từ ngân sách chưa mang tính kịp thời…

Thực hiện nhiệm vụ được Chính phủ giao tại Nghị quyết số 26/NQ-CP ngày 27/02/2023, Bộ Tài chính đang nghiên cứu các nội dung sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 58/2018/NĐ-CP và sẽ sớm có văn bản lấy ý kiến rộng rãi. Trên cơ sở đó, Nghị định sửa đổi Nghị định số 58/2018/NĐ-CP dự kiến trình Chính phủ ban hành trong năm 2025./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17780 18054 18629
CAD 18528 18805 19418
CHF 32621 33005 33653
CNY 0 3470 3830
EUR 29840 30113 31141
GBP 34394 34786 35728
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14983 15570
SGD 20001 20283 20811
THB 719 782 835
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80