Sẽ sửa đổi Nghị định bảo hiểm nông nghiệp, tăng vai trò "lá chắn" trước rủi ro

(TBTCO) - Ngày 15/1, Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính) phối hợp cùng với Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tổ chức Hội thảo tổng kết, đánh giá và định hướng sửa đổi, bổ sung Nghị định số 58/2018/NĐ-CP ngày 18/4/2018 về bảo hiểm nông nghiệp (Nghị định số 58). Nghị định sửa đổi dự kiến trình Chính phủ ban hành trong năm 2025.
aa

Trên cơ sở tổng kết thực hiện bảo hiểm nông nghiệp giai đoạn thí điểm từ năm 2011 - 2013 và tổng hợp ý kiến đề xuất của các địa phương, Bộ Tài chính đã phối hợp cùng với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Bộ NN&PTNT), các bộ, ngành liên quan xây dựng, trình Chính phủ ban hành Nghị định số 58/2018/NĐ-CP ngày 18/4/2018 của Chính phủ về bảo hiểm nông nghiệp.

Hỗ trợ thiết thực người dân, vì mục tiêu phát triển nông nghiệp

Nhìn lại thời gian thí điểm, bảo hiểm nông nghiệp được triển khai theo Quyết định số 315/QĐ-TTg ngày 01/03/2011 của Thủ tướng Chính phủ. Sau 3 năm thực hiện (2011 - 2013), chương trình thí điểm đã đạt được những kết quả tích cực về thiết lập được hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về thí điểm bảo hiểm trong nông nghiệp; đồng thời, hình thành sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp bao gồm cây lúa, vật nuôi và thủy sản. Từ đó, thu hút được các hộ dân ở các huyện, xã được lựa chọn thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp của 20 tỉnh, thành phố tham gia.

Sự phối kết hợp chặt chẽ giữa Bộ Tài chính và Bộ NN&PTNT, sự ủng hộ của các địa phương, nỗ lực của các doanh nghiệp bảo hiểm tham gia triển khai. Đáng chú ý, quá trình thực hiện thí điểm góp phần hình thành 03 sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp đối với cây trồng (cây lúa), vật nuôi (trâu, bò, gia cầm) và thủy sản (tôm, cá tra).

Sẽ sửa đổi Nghị định bảo hiểm nông nghiệp, tăng vai trò
Sửa đổi Nghị định bảo hiểm nông nghiệp năm 2025, nêu cao vai trò "lá chắn" trước rủi ro tài chính trước thiên tai, dịch bệnh. Ảnh TL

Phát biểu tại hội thảo, đại diện Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm cho biết, chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp được thực hiện phù hợp với khả năng cân đối ngân sách trong từng thời kỳ, thông qua việc hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp cho một số tổ chức, cá nhân sản xuất nông nghiệp, đối tượng bảo hiểm, rủi ro được bảo hiểm và trong phạm vi địa bàn nhất định nhằm thực hiện chính sách an sinh xã hội và thực hiện các chương trình mục tiêu phát triển sản xuất nông nghiệp của Chính phủ.

Thông tin từ Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm cho thấy, trong 5 năm triển khai thực hiện, từ năm 2019 - nay, có 4/29 địa phương triển khai chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp: Nghệ An, Thái Bình (đối với cây lúa); Hà Giang, Bình Định (đối với vật nuôi là trâu, bò). Tổng số hộ nông dân/tổ chức sản xuất tham gia bảo hiểm: 20.261 (17.871 hộ nghèo và hộ cận nghèo, 2.499 hộ thường). Tổng giá trị được bảo hiểm: 217,3 tỷ đồng; tổng số phí bảo hiểm là 9,47 tỷ đồng, trong đó ngân sách nhà nước hỗ trợ là 8,02 tỷ đồng.

Hiện nay, chính sách hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp được thực hiện theo Quyết định số 13/2022/QĐ-TTg ngày 09/5/2022 (thay thế Quyết định 22/2019/QĐ-TTg ngày 26/6/2019). Theo đó, 29 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là các địa bàn được hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp, thời gian thực hiện đến hết 31/12/2025.

Triển khai quyết định nêu trên, rủi ro được bảo hiểm mở rộng hơn về đối tượng bảo hiểm được hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp và địa bàn hỗ trợ. Theo đó, rủi ro được bảo hiểm gồm: cây lúa 19 rủi ro thiên tai, 12 rủi ro dịch bệnh (mở rộng thêm 5 rủi ro dịch bệnh); cây cao su, hồ tiêu, điều, cà phê: 9 rủi ro thiên tai; vật nuôi (trâu, bò , lợn): 17 rủi ro thiên tai, 4 rủi ro dịch bệnh (mở rộng thêm 2 rủi ro dịch bệnh); nuôi trồng thủy sản: 16 rủi ro thiên tai.

Tính từ năm 2022 đến nay, tổng số hộ nông dân/tổ chức sản xuất tham gia bảo hiểm là 3.630, gồm 3.390 hộ nghèo, 227 hộ cận nghèo, 13 hộ thường. Tổng giá trị được bảo hiểm 70,97 tỷ đồng; tổng số phí bảo hiểm 2,6 tỷ đồng, trong đó ngân sách nhà nước hỗ trợ là 2,3 tỷ đồng.

Gióng hồi chuông nhìn lại vai trò bảo hiểm nông nghiệp

Chia sẻ tại hội thảo, đại diện Bộ NN&PTNT cho biết, ngành Nông nghiệp khẳng định vị thế quan trọng, là động lực và trụ đỡ của nền kinh tế nước nhà. Nông nghiệp vừa bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia, vừa hội nhập quốc tế mạnh mẽ và sâu rộng. Nhiều mặt hàng nông sản thế mạnh, chủ lực tiếp tục được mở rộng thị trường. Năm 2024, ngành nông nghiệp lập nhiều kỷ lục mới, với nhiều con số ấn tượng, đặc biệt tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thuỷ sản đạt 62,5 tỷ USD, tăng 18,7% so với năm 2023.

Tuy nhiên, ngành nông nghiệp cũng đối mặt không ít thách thức do tác động mạnh mẽ của biến đổi khí hậu gây ra hiện tượng thời tiết khác thường, tác động tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp. Một trong những tác động lớn nhất năm vừa qua phải kể đến hậu quả nặng nề để lại từ cơn bão Yagi.

Cơn bão số 3 gây nên thiệt hại nặng nề, đặc biệt thiệt hại với sản xuất nông lâm thủy sản lên tới 31.800 tỷ đồng và gây suy giảm tăng trưởng 0,3-0,5 điểm phần trăm toàn ngành trong năm 2024.

"Những thiệt hại này còn ảnh hưởng nghiêm trọng tới sản xuất và chuỗi cung ứng trong sản xuất nông nghiệp và gây ra những hậu quả lớn đến các đối tượng nông dân, hợp tác xã" - đại diện Bộ NN&PTNT bày tỏ.

Sẽ sửa đổi Nghị định bảo hiểm nông nghiệp, tăng vai trò

Nhiều đại biểu đề xuất nâng mức hỗ trợ cho cá nhân sản xuất nông nghiệp không thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo tối đa 40-50% phí bảo hiểm nông nghiệp, thay vì mức 20%.

Để chính sách hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp phát huy hiệu quả, nhiều nội sung sửa đổi chính sách đã được đề xuất, đại diện Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm dự kiến sẽ mở rộng đối tượng bảo hiểm theo các sản phẩm nông nghiệp chủ lực quốc gia và sản phẩm nông nghiệp chủ lực địa phương, mở rộng rủi ro bảo hiểm được hỗ trợ và mở rộng địa bàn được hỗ trợ.

Cùng với đó, đề nghị bỏ quy định về phê chuẩn sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp để đáp ứng quy định của Luật Kinh doanh bao hiểm 2022, doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm chủ động thỏa thuận về phạm vi bảo hiểm và mức phí bảo hiểm phù hợp, kịp thời đảm bảo tính mùa vụ trong nông nghiệp phù hợp với nhu cầu, đặc trưng riêng có của từng địa phương.

Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm cũng đề xuất tăng mức hỗ trợ phí bảo hiểm, đặc biệt cho các tổ chức sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp quy mô lớn. Quy định đơn vị đầu mối hỗ trợ chia sẻ dữ liệu về tình hình, mức độ và giá trị thiệt hại cho doanh nghiệp bảo hiểm làm cơ sở xây dựng sản phẩm bảo hiểm, xác định phí bảo hiểm.

Ngoài ra, đẩy mạnh thực hiện các giải pháp tuyên truyền, hướng dẫn để người dân thực hiện tuân thủ quy trình sản xuất, đảm bảo các điều kiện để được bồi thường bảo hiểm./.

Trao đổi tại hội thảo, nhiều đại biểu chia sẻ vướng mắc về việc thiếu thốn dữ liệu thống kê về mức độ thiệt hại làm cơ sở xác định phí bảo hiểm; mức phí hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo, hỗ trợ tổ chức cá nhân, hộ gia đình còn thấp; thủ tục phê duyệt đối tượng được hỗ trợ kinh phí từ ngân sách chưa mang tính kịp thời…

Thực hiện nhiệm vụ được Chính phủ giao tại Nghị quyết số 26/NQ-CP ngày 27/02/2023, Bộ Tài chính đang nghiên cứu các nội dung sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 58/2018/NĐ-CP và sẽ sớm có văn bản lấy ý kiến rộng rãi. Trên cơ sở đó, Nghị định sửa đổi Nghị định số 58/2018/NĐ-CP dự kiến trình Chính phủ ban hành trong năm 2025./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

ACB và UEH mở đầu hành trình Học bổng ACB - Trần Mộng Hùng: Tiếp nối niềm tin vào con người

ACB và UEH mở đầu hành trình Học bổng ACB - Trần Mộng Hùng: Tiếp nối niềm tin vào con người

(TBTCO) - Ngày 9/9, tại TP. Hồ Chí Minh, Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) và Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh (UEH) chính thức ký kết thỏa thuận hợp tác triển khai Chương trình Học bổng ACB - Trần Mộng Hùng.
Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới tăng cường trao đổi kinh nghiệm quản lý

Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới tăng cường trao đổi kinh nghiệm quản lý

(TBTCO) - Đoàn công tác Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới Việt Nam vừa thăm, làm việc với Hiệp hội Bảo hiểm Trung Quốc, Công ty Bảo hiểm Thái Bình Dương CPIC và tìm hiểu hoạt động của Trung tâm sửa chữa ô tô điện Lý Tưởng tại Bắc Kinh. Chuyến công tác tập trung trao đổi kinh nghiệm về quản lý bảo hiểm xe cơ giới, giám định, bồi thường, phòng chống trục lợi và ứng dụng dữ liệu.
Tỷ giá USD hôm nay (10/9): Tỷ giá trung tâm giảm, thị trường chờ ECB tăng lãi suất lần hai thêm 25 điểm cơ bản

Tỷ giá USD hôm nay (10/9): Tỷ giá trung tâm giảm, thị trường chờ ECB tăng lãi suất lần hai thêm 25 điểm cơ bản

(TBTCO) - Sáng 10/9, tỷ giá trung tâm giảm 3 đồng xuống 25.591 đồng, trong khi chỉ số DXY dao động quanh 98,79 điểm. Tâm điểm thị trường là cuộc họp của Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB), với kỳ vọng tăng lãi suất lần thứ hai trong năm nay, thêm 25 điểm cơ bản lên 2,5% khi lạm phát khu vực đồng euro vượt 3%.
Dư địa tỷ USD của y tế tư nhân, cho thuê tài chính nhiều lợi thế "mở khóa” dòng vốn

Dư địa tỷ USD của y tế tư nhân, cho thuê tài chính nhiều lợi thế "mở khóa” dòng vốn

(TBTCO) - Lĩnh vực y tế tư nhân Việt Nam đang có dư địa phát triển lớn khi nhu cầu chăm sóc sức khỏe, khám, chữa bệnh kết hợp du lịch gia tăng, kéo theo thị trường thiết bị y tế có thể đạt 4 tỷ USD/năm trong thời gian tới. Trong khi khả năng tiếp cận vốn trung - dài hạn của bệnh viện, phòng khám tư nhân còn hạn chế, cho thuê tài chính nổi lên với nhiều lợi thế trong việc giải bài toán vốn.
Tập đoàn Sun Life ghi nhận tăng trưởng tích cực, tiếp tục mở rộng mạng lưới tại Việt Nam

Tập đoàn Sun Life ghi nhận tăng trưởng tích cực, tiếp tục mở rộng mạng lưới tại Việt Nam

(TBTCO) - Tập đoàn Sun Life vừa công bố kết quả kinh doanh quý II/2026 với nhiều điểm sáng trên toàn cầu và tại khu vực châu Á, tiếp tục khẳng định hiệu quả của chiến lược phát triển bền vững, đa dạng hóa hoạt động kinh doanh và đẩy mạnh đổi mới sáng tạo. Tại Việt Nam, Sun Life Việt Nam cũng ghi nhận những kết quả khả quan trong nửa đầu năm 2026, đồng thời tăng cường năng lực tài chính để thực hiện cam kết đồng hành và bảo vệ khách hàng trước những rủi ro trong cuộc sống.
Giá vàng hôm nay ngày 9/9: Vàng thế giới giảm mạnh, vàng trong nước quay đầu giảm

Giá vàng hôm nay ngày 9/9: Vàng thế giới giảm mạnh, vàng trong nước quay đầu giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 55 USD, xuống còn 4.356 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng quay đầu giảm từ 1,1 - 1,2 triệu đồng/lượng.
Vốn trung - dài hạn chỉ chiếm 16%, bơm ròng mạnh cùng mở “van” tái cấp vốn tiếp sức thanh khoản

Vốn trung - dài hạn chỉ chiếm 16%, bơm ròng mạnh cùng mở “van” tái cấp vốn tiếp sức thanh khoản

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đã bơm ròng 60,2 nghìn tỷ đồng trong tháng 8, khi nhu cầu vốn ngắn hạn tăng. Cùng với các điều chỉnh về LDR, cơ cấu nguồn vốn và tiền gửi Kho bạc Nhà nước, cơ chế tái cấp vốn dự kiến tiếp tục hỗ trợ thanh khoản, khi vốn trung và dài hạn chỉ chiếm 16% tổng nguồn vốn huy động.
Shinhan hợp tác cùng Công ty Quản lý và Kinh doanh chợ Bình Điền, mở rộng giải pháp tài chính cho thương nhân

Shinhan hợp tác cùng Công ty Quản lý và Kinh doanh chợ Bình Điền, mở rộng giải pháp tài chính cho thương nhân

(TBTCO) - Ngày 8/9, tại TP. Hồ Chí Minh, Ngân hàng TNHH MTV Shinhan Việt Nam và Công ty Quản lý và Kinh doanh Chợ Bình Điền chính thức ký kết biên bản ghi nhớ hợp tác, hướng đến mở rộng khả năng tiếp cận các giải pháp tài chính phù hợp cho thương nhân và hộ kinh doanh đang hoạt động tại chợ Bình Điền.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,200 146,500
Hà Nội - PNJ 143,200 146,500
Đà Nẵng - PNJ 143,200 146,500
Miền Tây - PNJ 143,200 146,500
Tây Nguyên - PNJ 143,200 146,500
Đông Nam Bộ - PNJ 143,200 146,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,360 14,660
Miếng SJC Nghệ An 14,360 14,660
Miếng SJC Thái Bình 14,360 14,660
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,320 14,660
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,320 14,660
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,320 14,660
NL 99.99 13,650
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,550
Trang sức 99.9 13,970 14,570
Trang sức 99.99 13,980 14,580
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,436 14,662
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,436 14,663
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 1,461
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 1,462
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,406 1,451
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,663 143,663
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,186 108,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,028 98,828
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,887 8,867
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,952 84,752
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,863 60,663
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Cập nhật: 11/09/2026 01:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18127 18402 18978
CAD 18227 18503 19122
CHF 31308 31687 32335
CNY 0 3823 3919
EUR 29508 29729 30810
GBP 34283 34674 35623
HKD 0 3175 3377
JPY 161 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14816 15404
SGD 19938 20220 20790
THB 701 764 818
USD (1,2) 25660 0 0
USD (5,10,20) 25698 0 0
USD (50,100) 25726 25740 26110
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,720 25,720 26,100
USD(1-2-5) 24,692 - -
USD(10-20) 24,692 - -
EUR 29,561 29,585 30,988
JPY 164.25 164.55 174.53
GBP 34,496 34,589 35,787
AUD 18,363 18,429 19,129
CAD 18,414 18,473 19,158
CHF 31,631 31,729 32,669
SGD 20,077 20,139 20,929
CNY - 3,788 3,933
HKD 3,237 3,247 3,384
KRW 17.85 18.62 20.25
THB 751.04 760.32 814.39
NZD 14,828 14,966 15,411
SEK - 2,656 2,751
DKK - 3,965 4,106
NOK - 2,767 2,870
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,950.87 - 6,718.86
TWD 742 - 899.01
SAR - 6,779.73 7,146.27
KWD - 82,216 87,489
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,690 25,720 26,100
EUR 29,582 29,701 30,892
GBP 34,480 34,618 35,648
HKD 3,236 3,249 3,366
CHF 31,450 31,576 32,506
JPY 164.56 165.22 173.18
AUD 18,347 18,421 19,017
SGD 20,142 20,223 20,820
THB 767 770 807
CAD 18,424 18,498 19,092
NZD 14,906 15,447
KRW 18.51 20.46
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25740 25740 26100
AUD 18338 18438 19364
CAD 18419 18519 19530
CHF 31568 31598 33180
CNY 3803.9 3828.9 3964
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29705 29735 31458
GBP 34614 34664 36416
HKD 0 3330 0
JPY 165.12 165.62 176.16
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2790 0
NZD 0 14950 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2705 0
SGD 20107 20237 20958
THB 0 731.6 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14350000 14350000 14650000
SBJ 13000000 13000000 14650000
Cập nhật: 11/09/2026 01:30
Ngân hàng