Sẽ sửa đổi Nghị định bảo hiểm nông nghiệp, tăng vai trò "lá chắn" trước rủi ro

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Ngày 15/1, Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính) phối hợp cùng với Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tổ chức Hội thảo tổng kết, đánh giá và định hướng sửa đổi, bổ sung Nghị định số 58/2018/NĐ-CP ngày 18/4/2018 về bảo hiểm nông nghiệp (Nghị định số 58). Nghị định sửa đổi dự kiến trình Chính phủ ban hành trong năm 2025.
aa

Trên cơ sở tổng kết thực hiện bảo hiểm nông nghiệp giai đoạn thí điểm từ năm 2011 - 2013 và tổng hợp ý kiến đề xuất của các địa phương, Bộ Tài chính đã phối hợp cùng với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Bộ NN&PTNT), các bộ, ngành liên quan xây dựng, trình Chính phủ ban hành Nghị định số 58/2018/NĐ-CP ngày 18/4/2018 của Chính phủ về bảo hiểm nông nghiệp.

Hỗ trợ thiết thực người dân, vì mục tiêu phát triển nông nghiệp

Nhìn lại thời gian thí điểm, bảo hiểm nông nghiệp được triển khai theo Quyết định số 315/QĐ-TTg ngày 01/03/2011 của Thủ tướng Chính phủ. Sau 3 năm thực hiện (2011 - 2013), chương trình thí điểm đã đạt được những kết quả tích cực về thiết lập được hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về thí điểm bảo hiểm trong nông nghiệp; đồng thời, hình thành sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp bao gồm cây lúa, vật nuôi và thủy sản. Từ đó, thu hút được các hộ dân ở các huyện, xã được lựa chọn thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp của 20 tỉnh, thành phố tham gia.

Sự phối kết hợp chặt chẽ giữa Bộ Tài chính và Bộ NN&PTNT, sự ủng hộ của các địa phương, nỗ lực của các doanh nghiệp bảo hiểm tham gia triển khai. Đáng chú ý, quá trình thực hiện thí điểm góp phần hình thành 03 sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp đối với cây trồng (cây lúa), vật nuôi (trâu, bò, gia cầm) và thủy sản (tôm, cá tra).

Sẽ sửa đổi Nghị định bảo hiểm nông nghiệp, tăng vai trò
Sửa đổi Nghị định bảo hiểm nông nghiệp năm 2025, nêu cao vai trò "lá chắn" trước rủi ro tài chính trước thiên tai, dịch bệnh. Ảnh TL

Phát biểu tại hội thảo, đại diện Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm cho biết, chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp được thực hiện phù hợp với khả năng cân đối ngân sách trong từng thời kỳ, thông qua việc hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp cho một số tổ chức, cá nhân sản xuất nông nghiệp, đối tượng bảo hiểm, rủi ro được bảo hiểm và trong phạm vi địa bàn nhất định nhằm thực hiện chính sách an sinh xã hội và thực hiện các chương trình mục tiêu phát triển sản xuất nông nghiệp của Chính phủ.

Thông tin từ Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm cho thấy, trong 5 năm triển khai thực hiện, từ năm 2019 - nay, có 4/29 địa phương triển khai chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp: Nghệ An, Thái Bình (đối với cây lúa); Hà Giang, Bình Định (đối với vật nuôi là trâu, bò). Tổng số hộ nông dân/tổ chức sản xuất tham gia bảo hiểm: 20.261 (17.871 hộ nghèo và hộ cận nghèo, 2.499 hộ thường). Tổng giá trị được bảo hiểm: 217,3 tỷ đồng; tổng số phí bảo hiểm là 9,47 tỷ đồng, trong đó ngân sách nhà nước hỗ trợ là 8,02 tỷ đồng.

Hiện nay, chính sách hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp được thực hiện theo Quyết định số 13/2022/QĐ-TTg ngày 09/5/2022 (thay thế Quyết định 22/2019/QĐ-TTg ngày 26/6/2019). Theo đó, 29 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là các địa bàn được hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp, thời gian thực hiện đến hết 31/12/2025.

Triển khai quyết định nêu trên, rủi ro được bảo hiểm mở rộng hơn về đối tượng bảo hiểm được hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp và địa bàn hỗ trợ. Theo đó, rủi ro được bảo hiểm gồm: cây lúa 19 rủi ro thiên tai, 12 rủi ro dịch bệnh (mở rộng thêm 5 rủi ro dịch bệnh); cây cao su, hồ tiêu, điều, cà phê: 9 rủi ro thiên tai; vật nuôi (trâu, bò , lợn): 17 rủi ro thiên tai, 4 rủi ro dịch bệnh (mở rộng thêm 2 rủi ro dịch bệnh); nuôi trồng thủy sản: 16 rủi ro thiên tai.

Tính từ năm 2022 đến nay, tổng số hộ nông dân/tổ chức sản xuất tham gia bảo hiểm là 3.630, gồm 3.390 hộ nghèo, 227 hộ cận nghèo, 13 hộ thường. Tổng giá trị được bảo hiểm 70,97 tỷ đồng; tổng số phí bảo hiểm 2,6 tỷ đồng, trong đó ngân sách nhà nước hỗ trợ là 2,3 tỷ đồng.

Gióng hồi chuông nhìn lại vai trò bảo hiểm nông nghiệp

Chia sẻ tại hội thảo, đại diện Bộ NN&PTNT cho biết, ngành Nông nghiệp khẳng định vị thế quan trọng, là động lực và trụ đỡ của nền kinh tế nước nhà. Nông nghiệp vừa bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia, vừa hội nhập quốc tế mạnh mẽ và sâu rộng. Nhiều mặt hàng nông sản thế mạnh, chủ lực tiếp tục được mở rộng thị trường. Năm 2024, ngành nông nghiệp lập nhiều kỷ lục mới, với nhiều con số ấn tượng, đặc biệt tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thuỷ sản đạt 62,5 tỷ USD, tăng 18,7% so với năm 2023.

Tuy nhiên, ngành nông nghiệp cũng đối mặt không ít thách thức do tác động mạnh mẽ của biến đổi khí hậu gây ra hiện tượng thời tiết khác thường, tác động tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp. Một trong những tác động lớn nhất năm vừa qua phải kể đến hậu quả nặng nề để lại từ cơn bão Yagi.

Cơn bão số 3 gây nên thiệt hại nặng nề, đặc biệt thiệt hại với sản xuất nông lâm thủy sản lên tới 31.800 tỷ đồng và gây suy giảm tăng trưởng 0,3-0,5 điểm phần trăm toàn ngành trong năm 2024.

"Những thiệt hại này còn ảnh hưởng nghiêm trọng tới sản xuất và chuỗi cung ứng trong sản xuất nông nghiệp và gây ra những hậu quả lớn đến các đối tượng nông dân, hợp tác xã" - đại diện Bộ NN&PTNT bày tỏ.

Sẽ sửa đổi Nghị định bảo hiểm nông nghiệp, tăng vai trò

Nhiều đại biểu đề xuất nâng mức hỗ trợ cho cá nhân sản xuất nông nghiệp không thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo tối đa 40-50% phí bảo hiểm nông nghiệp, thay vì mức 20%.

Để chính sách hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp phát huy hiệu quả, nhiều nội sung sửa đổi chính sách đã được đề xuất, đại diện Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm dự kiến sẽ mở rộng đối tượng bảo hiểm theo các sản phẩm nông nghiệp chủ lực quốc gia và sản phẩm nông nghiệp chủ lực địa phương, mở rộng rủi ro bảo hiểm được hỗ trợ và mở rộng địa bàn được hỗ trợ.

Cùng với đó, đề nghị bỏ quy định về phê chuẩn sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp để đáp ứng quy định của Luật Kinh doanh bao hiểm 2022, doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm chủ động thỏa thuận về phạm vi bảo hiểm và mức phí bảo hiểm phù hợp, kịp thời đảm bảo tính mùa vụ trong nông nghiệp phù hợp với nhu cầu, đặc trưng riêng có của từng địa phương.

Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm cũng đề xuất tăng mức hỗ trợ phí bảo hiểm, đặc biệt cho các tổ chức sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp quy mô lớn. Quy định đơn vị đầu mối hỗ trợ chia sẻ dữ liệu về tình hình, mức độ và giá trị thiệt hại cho doanh nghiệp bảo hiểm làm cơ sở xây dựng sản phẩm bảo hiểm, xác định phí bảo hiểm.

Ngoài ra, đẩy mạnh thực hiện các giải pháp tuyên truyền, hướng dẫn để người dân thực hiện tuân thủ quy trình sản xuất, đảm bảo các điều kiện để được bồi thường bảo hiểm./.

Trao đổi tại hội thảo, nhiều đại biểu chia sẻ vướng mắc về việc thiếu thốn dữ liệu thống kê về mức độ thiệt hại làm cơ sở xác định phí bảo hiểm; mức phí hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo, hỗ trợ tổ chức cá nhân, hộ gia đình còn thấp; thủ tục phê duyệt đối tượng được hỗ trợ kinh phí từ ngân sách chưa mang tính kịp thời…

Thực hiện nhiệm vụ được Chính phủ giao tại Nghị quyết số 26/NQ-CP ngày 27/02/2023, Bộ Tài chính đang nghiên cứu các nội dung sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 58/2018/NĐ-CP và sẽ sớm có văn bản lấy ý kiến rộng rãi. Trên cơ sở đó, Nghị định sửa đổi Nghị định số 58/2018/NĐ-CP dự kiến trình Chính phủ ban hành trong năm 2025./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 16/7: Thế giới giữ trên 4.060 USD/ounce, trong nước quay lại giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 16/7: Thế giới giữ trên 4.060 USD/ounce, trong nước quay lại giảm nhẹ

(TBTCO) - Vàng thế giới tăng nhẹ lên 4.064 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước quay lại giảm nhẹ. Ghị nhận vào sáng nay (16/7), bình quân giá giảm khoảng từ 200 - 500 nghìn đồng/lượng đối với cả vàng miếng và vàng nhẫn.
Khẩn trương thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, triển khai lộ trình Basel III toàn hệ thống ngân hàng

Khẩn trương thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, triển khai lộ trình Basel III toàn hệ thống ngân hàng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đang đẩy nhanh lộ trình triển khai chuẩn mực vốn Basel trên toàn hệ thống. Tại cuộc họp ngày 15/7, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước yêu cầu khẩn trương hoàn thiện các dự thảo văn bản, trong đó có dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN; đồng thời xây dựng kế hoạch tập huấn, giải đáp các vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai.
Thị trường vàng trước nhiều lực kéo trái chiều, khó sinh lời đột biến

Thị trường vàng trước nhiều lực kéo trái chiều, khó sinh lời đột biến

(TBTCO) - Sau khi giảm hơn 28% so với đỉnh đầu năm 2026, giá vàng thế giới vẫn chịu sức ép từ kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) duy trì lãi suất cao, đồng USD mạnh và áp lực chốt lời của nhà đầu tư. Trong khi đó, giá vàng trong nước vẫn neo cao do các chính sách mới chưa tạo chuyển biến rõ rệt, giới chuyên gia cho rằng vàng khó còn mang lại mức sinh lời đột biến như trước.
Thêm dư địa hỗ trợ tăng trưởng, kỳ vọng loạt giải pháp kéo giảm lãi suất từ quý IV/2026

Thêm dư địa hỗ trợ tăng trưởng, kỳ vọng loạt giải pháp kéo giảm lãi suất từ quý IV/2026

Theo đánh giá của Công ty cổ phần Chứng khoán VNDIRECT, lạm phát hạ nhiệt, tỷ giá dịu bớt mở ra dư địa để hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, chênh lệch tín dụng - huy động nới rộng hơn khiến thanh khoản tiếp tục chịu sức ép. VNDIRECT kỳ vọng một số giải pháp điều hành sẽ giúp lãi suất hạ nhiệt rõ hơn từ quý IV/2026.
Tỷ giá USD hôm nay (15/7): Ngân hàng bán USD cách xa tỷ giá trần, CPI Mỹ giảm mạnh nhất 6 năm

Tỷ giá USD hôm nay (15/7): Ngân hàng bán USD cách xa tỷ giá trần, CPI Mỹ giảm mạnh nhất 6 năm

(TBTCO) - Sáng 15/7, tỷ giá trung tâm tăng 8 đồng, lên 25.233 đồng, trong khi tỷ giá USD bán ra tại các ngân hàng diễn biến trái chiều, lùi xa so với tỷ giá trần. Chỉ số DXY giảm còn 100,79 điểm khi CPI Mỹ tháng 6 giảm 0,4%, mức giảm theo tháng mạnh nhất kể từ tháng 4/2020.
Giá vàng hôm nay ngày 15/7: Giá vàng trong nước quay đầu tăng trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 15/7: Giá vàng trong nước quay đầu tăng trở lại

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng trở lại lên trên 4.000 USD/ounce. Giá vàng miếng và giá vàng nhẫn trong nước cũng quay đầu tăng trở lại.
VietABank điều chỉnh phương án chia cổ phiếu, tăng vốn điều lệ đợt 1 lên hơn 9.000 tỷ đồng

VietABank điều chỉnh phương án chia cổ phiếu, tăng vốn điều lệ đợt 1 lên hơn 9.000 tỷ đồng

(TBTCO) - VietABank vừa điều chỉnh phương án chia cổ phiếu để tăng vốn điều lệ từ nguồn vốn chủ sở hữu, giảm tỷ lệ phát hành từ 15% xuống 10,5%, tương ứng phát hành hơn 85,7 triệu cổ phiếu. Sau phát hành, vốn điều lệ VietABank dự kiến tăng lên hơn 9.020 tỷ đồng.
Đưa dịch vụ tài sản mã hóa vào nhóm báo cáo về phòng, chống rửa tiền

Đưa dịch vụ tài sản mã hóa vào nhóm báo cáo về phòng, chống rửa tiền

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề xuất bổ sung đối tượng báo cáo là dịch vụ tài sản mã hóa và các dấu hiệu đáng ngờ trong lĩnh vực tài sản mã hóa vào Luật Phòng, chống rửa tiền nhằm bảo đảm cơ quan quản lý có công cụ rà soát, phòng ngừa đối với hoạt động có tiềm ẩn rủi ro cao về rửa tiền xuyên biên giới.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 14,850
Kim TT/AVPL 14,350 14,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,350 14,750
Nguyên Liệu 99.99 13,200 13,400
Nguyên Liệu 99.9 13,150 13,350
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 14,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 14,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 14,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,500 147,000 ▼500K
Hà Nội - PNJ 143,500 147,000 ▼500K
Đà Nẵng - PNJ 143,500 147,000 ▼500K
Miền Tây - PNJ 143,500 147,000 ▼500K
Tây Nguyên - PNJ 143,500 147,000 ▼500K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,500 147,000 ▼500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,520 ▼30K 14,820 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 14,520 ▼30K 14,820 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 14,520 ▼30K 14,820 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,370 ▼30K 14,720 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,370 ▼30K 14,720 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,370 ▼30K 14,720 ▼30K
NL 99.99 13,000
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,910 ▼30K 14,610 ▼30K
Trang sức 99.99 13,920 ▼30K 14,620 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,452 ▼3K 14,822 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,452 ▼3K 14,823 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,442 ▼3K 1,477 ▲1329K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,442 ▼3K 1,478 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,417 ▲1275K 1,457 ▲1311K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,257 ▼297K 144,257 ▼297K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,636 ▼225K 109,436 ▼225K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,436 ▲80472K 99,236 ▲89292K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,236 ▼183K 89,036 ▼183K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,302 ▼175K 85,102 ▼175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,113 ▼125K 60,913 ▼125K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Cập nhật: 16/07/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17838 18112 18684
CAD 18156 18432 19047
CHF 31927 32308 32949
CNY 0 3839 3932
EUR 29478 29699 30776
GBP 34729 35121 36051
HKD 0 3219 3421
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 15060 15647
SGD 19838 20120 20690
THB 698 761 814
USD (1,2) 25994 0 0
USD (5,10,20) 26035 0 0
USD (50,100) 26064 26078 26437
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,070 26,070 26,450
USD(1-2-5) 25,028 - -
USD(10-20) 25,028 - -
EUR 29,609 29,633 31,047
JPY 157.58 157.86 167.38
GBP 34,901 34,995 36,195
AUD 18,031 18,096 18,779
CAD 18,348 18,407 19,086
CHF 32,212 32,312 33,264
SGD 19,948 20,010 20,797
CNY - 3,805 3,950
HKD 3,282 3,292 3,430
KRW 16.27 16.97 18.46
THB 745.19 754.39 807.86
NZD 15,005 15,144 15,593
SEK - 2,690 2,785
DKK - 3,961 4,100
NOK - 2,671 2,766
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,029.63 - 6,804.78
TWD 736.81 - 892.54
SAR - 6,873.64 7,239.79
KWD - 83,064 88,374
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,050 26,070 26,450
EUR 29,568 29,687 30,881
GBP 34,916 35,056 36,093
HKD 3,282 3,295 3,412
CHF 32,074 32,203 33,139
JPY 157.94 158.57 166.49
AUD 18,031 18,103 18,699
SGD 20,027 20,107 20,698
THB 762 765 801
CAD 18,370 18,444 19,023
NZD 15,101 15,646 0
KRW 16.90 18.71
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26080 26080 26440
AUD 18008 18108 19031
CAD 18334 18434 19449
CHF 32160 32190 33773
CNY 3818.2 3843.2 3978.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29649 29679 31404
GBP 35004 35054 36822
HKD 0 3355 0
JPY 158.45 158.95 169.5
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15131 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19988 20118 20842
THB 0 725.9 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14520000 14520000 14820000
SBJ 13000000 13000000 14820000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,089 26,139 26,450
USD20 26,089 26,139 26,450
USD1 26,089 26,139 26,450
AUD 18,055 18,155 19,273
EUR 29,445 29,545 31,209
CAD 18,284 18,384 19,692
SGD 20,072 20,222 20,776
JPY 158.95 160.45 165.99
GBP 34,913 35,063 36,119
XAU 14,518,000 0 14,822,000
CNY 0 3,728 0
THB 0 761 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 16/07/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80