Nới dư địa thanh khoản để kéo giảm lãi suất, đón tín dụng tăng tốc cuối năm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Theo dữ liệu của VNDIRECT, Ngân hàng Nhà nước kéo dài kỳ hạn phát hành trên kênh OMO, trong đó kỳ hạn 63 ngày và 91 ngày chiếm 32% và 13% tổng lượng phát hành, nhằm chuẩn bị thanh khoản, hạn chế biến động lãi suất liên ngân hàng khi tín dụng tăng tốc cuối năm. Cùng phối hợp chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, mặt bằng lãi suất được kỳ vọng giảm dần từ quý IV/2026.
aa
Nhiều nguyên do gốc rễ chưa được tháo gỡ, lãi suất “hạ nhịp” nhưng dễ đảo chiều Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng “giải khát” thanh khoản 143.000 tỷ đồng “Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng

Kéo dài kỳ hạn bơm OMO, giảm biến động lãi suất liên ngân hàng

Tại báo cáo tiền tệ - trái phiếu mới phát hành, Khối Phân tích và Tư vấn đầu tư Công ty Cổ phần Chứng khoán VNDIRECT cho rằng, áp lực hạ nhiệt trong ngắn hạn, Ngân hàng Nhà nước chủ động kéo dài kỳ hạn hỗ trợ thanh khoản.

Theo ghi nhận của Khối Phân tích và Tư vấn đầu tư VNDIRECT, lãi suất liên ngân hàng biến động trong tháng 7/2026, trạng thái thanh khoản liên tục chuyển đổi giữa dồi dào và căng thẳng trong thời gian ngắn.

Sau khi tăng vọt vào cuối quý II/2026 (kỳ hạn qua đêm có thời điểm lên 12%/năm, kỳ hạn 1 tuần 8,3%/năm), lãi suất liên ngân hàng hạ nhiệt, với kỳ hạn qua đêm có thời điểm xuống 0,5%/năm - mức thấp nhất kể từ tháng 3/2024; kỳ hạn 1 tuần về 4,1%/năm, kéo chênh lệch lãi suất VND/USD thu hẹp về quanh 0%.

Nới dư địa thanh khoản để kéo giảm lãi suất, đón tín dụng tăng tốc cuối năm

Thanh khoản vẫn chịu sức ép

Áp lực thanh khoản có thể quay trở lại do: tăng trưởng tín dụng tiếp tục tăng nhanh hơn huy động, tín dụng toàn hệ thống tăng 8,38% tính đến 29/7 trong khi huy động tăng 5,75%; áp lực lãi suất từ môi trường bên ngoài vẫn neo cao khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục giữ lãi suất ở mức cao, cùng với căng thẳng địa chính trị chưa hoàn toàn được giải quyết.

Tuy nhiên, áp lực thanh khoản nhanh chóng quay trở lại trong những ngày cuối tháng khi nhu cầu vốn VND phục vụ dự trữ bắt buộc và thanh toán cuối kỳ tăng mạnh, trong khi lượng thanh khoản dư thừa đã được Ngân hàng Nhà nước rút bớt qua nghiệp vụ thị trường mở (OMO).

Kết quả, lãi suất ở hầu hết các kỳ hạn tăng trở lại vùng 4,5 - 7%/năm tính đến tháng 8.

Diễn biến hạ nhiệt chủ yếu do hiệu ứng nền cao của tháng 6, cùng với nhu cầu giải ngân chững lại, khiến nhu cầu vay mượn vốn ngắn hạn giữa các ngân hàng giảm theo. Do đó, đây chưa phải tín hiệu đảo chiều cho xu hướng lãi suất trung - dài hạn, trong khi thực tế lãi suất liên ngân hàng ở các kỳ hạn dài hơn như 1 tháng vẫn được neo ở mức trung bình khoảng 6%.

Trong bối cảnh đó, Ngân hàng Nhà nước duy trì trạng thái hút ròng qua nghiệp vụ thị trường mở (OMO) trong phần lớn tháng 7, trước khi quay lại bơm ròng vào cuối tháng.

Đáng lưu ý, trong tháng 7 Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh hỗ trợ khối lượng phát hành nghiệp vụ thị trường mở lên các mức kỳ hạn cao hơn, với lượng phát hành kỳ hạn 63 ngày và 91 ngày ghi nhận tăng mạnh, chiếm lần lượt là 32% (33,4 nghìn tỷ đồng) và 13% (14,1 nghìn tỷ đồng) tổng lượng phát hành.

Động thái Ngân hàng Nhà nước kéo dài kỳ hạn hỗ trợ vốn này nhằm chủ động chuẩn bị thanh khoản cho giai đoạn nhu cầu tín dụng tăng tốc trong nửa cuối năm.

“Việc kéo dài kỳ hạn phát hành giúp ngân hàng thương mại có nguồn vốn ổn định hơn, giảm áp lực phải liên tục quay vòng các khoản vay ngắn hạn (7 - 14 ngày), qua đó, giảm bớt biến động lãi suất liên ngân hàng mỗi khi đến kỳ đáo hạn” - Khối Phân tích và Tư vấn đầu tư VNDIRECT đánh giá.

Đồng thời, việc kéo dài kỳ hạn cũng phản ánh chủ đích của Ngân hàng Nhà nước trong việc duy trì trạng thái hỗ trợ thanh khoản xuyên suốt quý III/2026.

Áp lực vốn còn cao, lãi suất kỳ vọng có dư địa giảm từ quý IV/2026

Về biến động lãi suất huy động, trong tháng 7, lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng niêm yết tại các ngân hàng thương mại thuộc danh sách theo dõi của nhóm phân tích Chứng khoán VNDIRECT tiếp tục duy trì không đổi so với tháng trước.

hoạt động giao dịch tại các ngân hàng thương mại ảnh Đức Thanh
Kỳ vọng mặt bằng lãi suất sẽ có dư địa giảm dần từ quý IV/2026, khi các chính sách hỗ trợ bắt đầu thẩm thấu rõ nét hơn. Ảnh: Đức Thanh.

“Trong khi đó, lãi suất huy động 12 tháng đối với các chương trình ưu đãi trong theo dõi và thu thập của chúng tôi vẫn neo cao và nhích tăng nhẹ theo từng tuần, dao động 6,3 - 6,8%/năm tại một số ngân hàng thương mại lớn và lên tới 8,5 - 9,3%/năm ở một số ngân hàng thương mại tư nhân vừa và nhỏ, nhích tăng nhẹ khoảng 0,05 - 0,2% so với tháng trước” - Khối Phân tích và Tư vấn đầu tư VNDIRECT nêu rõ.

Nhìn chung, dù lãi suất huy động niêm yết đã chững lại trong vài tháng gần đây, mặt bằng lãi suất thực vẫn neo cao để giữ chân các dòng tiền lớn.

Dù áp lực thanh khoản trên thị trường 2 đã có những dấu hiệu hạ nhiệt tạm thời trong ngắn hạn, qua việc lãi suất liên ngân hàng giảm xuống mức thấp và dư nợ nghiệp vụ thị trường mở thu hẹp về mức thấp nhất 1 năm, tuy nhiên, nhu cầu vốn từ ngắn đến dài hạn tại các ngân hàng thương mại vẫn duy trì cao. Do ngân hàng luôn cần huy động thêm để bù đắp khoảng cách tín dụng - huy động, nhằm đảm bảo các chỉ số an toàn hoạt động theo quy định của Ngân hàng Nhà nước trong khi vẫn đáp ứng nhu cầu giải ngân.

Trong bối cảnh này, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục duy trì phối hợp chính sách tiền tệ và tài khóa tạo thêm dư địa giảm lãi suất.

Mới đây, Ngân hàng Nhà nước đã triển khai thêm một số giải pháp gồm: nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc Nhà nước được tính vào nguồn vốn huy động lên 50% (từ 20% trước đó), giúp các ngân hàng thương mại quốc doanh có thêm nguồn vốn ổn định hơn, qua đó giảm áp lực huy động trên thị trường 1.

Cùng với đó, triển khai gói tín dụng ưu đãi 220.000 tỷ đồng dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các biện pháp này được kỳ vọng sẽ mở rộng dư địa tín dụng, đồng thời cải thiện khả năng tiếp cận vốn của khu vực doanh nghiệp, đặc biệt là nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Đồng thời, Bộ Tài chính cũng đề xuất không quy định cụ thể hạn mức tiền gửi có kỳ hạn tại Nghị định của Chính phủ, mà giao Bộ Tài chính chủ động điều hành. Theo đó, đề xuất bỏ trần tiền gửi Kho bạc Nhà nước, dự kiến có hiệu lực từ 1/1/2027.

“Trong bối cảnh chính sách tài khóa và tiền tệ đẩy mạnh phối hợp theo hướng hỗ trợ tăng trưởng, chúng tôi duy trì kỳ vọng mặt bằng lãi suất sẽ có dư địa giảm dần từ quý IV/2026, khi các chính sách hỗ trợ bắt đầu thẩm thấu rõ nét hơn và tiến độ giải ngân đầu tư công được đẩy mạnh” - nhóm phân tích VNDIRECT kỳ vọng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 18/8: Vàng trong nước đồng loạt tăng, vàng nhẫn lên 145,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 18/8: Vàng trong nước đồng loạt tăng, vàng nhẫn lên 145,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong khi vàng trong nước tăng mạnh, vàng nhẫn có nơi đạt 145,5 triệu đồng/lượng.
Nghiệm thu công trình do Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới tài trợ tại Bát Mọt, tỉnh Thanh Hóa

Nghiệm thu công trình do Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới tài trợ tại Bát Mọt, tỉnh Thanh Hóa

(TBTCO) - Lãnh đạo Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam vừa phối hợp với đại diện của Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex (PJICO) tiến hành nghiệm thu công trình “Đề phòng hạn chế tổn thất tai nạn giao thông đường bộ trên tuyến đường từ trung tâm xã Bát Mọt đi bản Vịn và bản Đục xã Bát Mọt, tỉnh Thanh Hóa”.
KienlongBank tăng cường lá chắn số, tự động cảnh báo và chặn giao dịch khi phát hiện tài khoản thụ hưởng có dấu hiệu gian lận

KienlongBank tăng cường lá chắn số, tự động cảnh báo và chặn giao dịch khi phát hiện tài khoản thụ hưởng có dấu hiệu gian lận

(TBTCO) - Nhằm đối phó với các thủ đoạn lừa đảo ngày càng tinh vi, Ngân hàng TMCP Kiên Long (KienlongBank) chính thức ra mắt tính năng cảnh báo rủi ro - tự động cảnh báo và chặn giao dịch khi phát hiện tài khoản thụ hưởng có dấu hiệu gian lận từ ngày 17/08/2026. KienlongBank là một trong những ngân hàng đầu tiên trên thị trường hoàn tất tích hợp, đưa tính năng vào phục vụ khách hàng.
Áp dụng tỷ lệ an toàn khác: Phải rõ tiêu chí, tránh lạm dụng

Áp dụng tỷ lệ an toàn khác: Phải rõ tiêu chí, tránh lạm dụng

(TBTCO) - Về việc Ngân hàng nhà nước cho phép áp dụng tỷ lệ an toàn khác với mức quy định, Chủ tịch Quốc hội yêu cầu phải có hướng dẫn, tiêu chí xác định trường hợp để thực hiện yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tránh bị lạm dụng và đặc biệt phải có cơ chế giám sát, kiểm soát rủi ro.
Làm rõ cơ chế bù đắp khi Ngân hàng nhà nước chi lớn hơn thu

Làm rõ cơ chế bù đắp khi Ngân hàng nhà nước chi lớn hơn thu

(TBTCO) - Về cơ chế thu chi của Ngân hàng Nhà nước, Uỷ ban Kinh tế và Tài chính đề nghị nghiên cứu nguyên tắc bù đắp chênh lệch chi lớn hơn thu bằng Quỹ dự phòng tài chính và các khoản dự phòng rủi ro. Khi quỹ và các khoản dự phòng rủi ro không còn, cần có cơ chế bù đắp phần chênh lệch.
Mở rộng “lá chắn” bảo hiểm nông nghiệp, tạo bệ đỡ cho dòng vốn tín dụng

Mở rộng “lá chắn” bảo hiểm nông nghiệp, tạo bệ đỡ cho dòng vốn tín dụng

(TBTCO) - Bảo hiểm nông nghiệp tại Đồng bằng sông Cửu Long từng bước mở rộng, nhưng độ phủ vẫn còn thấp so với quy mô sản xuất và rủi ro thiên tai, dịch bệnh. Những giải pháp mở rộng độ phủ bảo hiểm đang được thúc đẩy, phát huy tốt hơn vai trò chia sẻ rủi ro cho người sản xuất, qua đó, giảm áp lực trả nợ, hạn chế rủi ro tín dụng và thúc đẩy ngân hàng “bơm” vốn dài hạn vào nông nghiệp.
Giá vàng hôm nay ngày 16/8: Giá vàng trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 16/8: Giá vàng trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt tăng, đưa vàng miếng lên 144,4 triệu đồng/lượng và vàng nhẫn cao nhất đạt 144,7 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (15/8): USD tự do giảm sâu 2.000 đồng từ đỉnh, thị trường chờ tín hiệu từ biên bản FOMC

Tỷ giá USD hôm nay (15/8): USD tự do giảm sâu 2.000 đồng từ đỉnh, thị trường chờ tín hiệu từ biên bản FOMC

(TBTCO) - Sáng 15/8, tỷ giá trung tâm ở mức 25.561 đồng, tăng 98 đồng trong tuần, đẩy tỷ giá trần lên 26.839 đồng, trong khi USD tự do lùi xuống vùng thấp nhất khoảng 1,5 năm, giảm 2.130 đồng từ đỉnh. Còn chỉ số DXY giảm 0,33%, chốt tuần ở 99,63 điểm khi bán lẻ Mỹ suy yếu, gây áp lực lên đồng USD. Tuần tới, tâm điểm thị trường chuyển sang biên bản cuộc họp tháng 7 của FOMC.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,700 ▲200K 144,200 ▲100K
Hà Nội - PNJ 140,700 ▲200K 144,200 ▲100K
Đà Nẵng - PNJ 140,700 ▲200K 144,200 ▲100K
Miền Tây - PNJ 140,700 ▲200K 144,200 ▲100K
Tây Nguyên - PNJ 140,700 ▲200K 144,200 ▲100K
Đông Nam Bộ - PNJ 140,700 ▲200K 144,200 ▲100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,130 ▲10K 14,430 ▲10K
Miếng SJC Nghệ An 14,130 ▲10K 14,430 ▲10K
Miếng SJC Thái Bình 14,130 ▲10K 14,430 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,130 ▲10K 14,480 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,130 ▲10K 14,480 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,130 ▲10K 14,480 ▲10K
NL 99.99 13,500 ▲50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,400 ▲50K
Trang sức 99.9 13,790 ▲10K 14,390 ▲10K
Trang sức 99.99 13,800 ▲10K 14,400 ▲10K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,413 ▲1K 14,432 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,413 ▲1K 14,433 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,408 ▲1K 1,438 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,408 ▲1K 1,439 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,378 ▲1K 1,423 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,891 ▲99K 140,891 ▲99K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,086 ▲75K 106,886 ▲75K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,124 ▲68K 96,924 ▲68K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,162 ▲61K 86,962 ▲61K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,319 ▲58K 83,119 ▲58K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,695 ▲42K 59,495 ▲42K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Cập nhật: 18/08/2026 15:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18052 18327 18908
CAD 18342 18618 19232
CHF 31610 31990 32634
CNY 0 3830 3940
EUR 29661 29883 30959
GBP 34605 34997 35925
HKD 0 3207 3409
JPY 157 160 167
KRW 0 17 19
NZD 0 15073 15663
SGD 19943 20225 20792
THB 707 770 823
USD (1,2) 25913 0 0
USD (5,10,20) 25953 0 0
USD (50,100) 25982 25996 26362
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,995 25,995 26,375
USD(1-2-5) 24,956 - -
USD(10-20) 24,956 - -
EUR 29,708 29,732 31,140
JPY 159.64 159.93 169.57
GBP 34,808 34,902 36,105
AUD 18,256 18,322 19,015
CAD 18,523 18,582 19,266
CHF 31,870 31,969 32,912
SGD 20,067 20,129 20,915
CNY - 3,808 3,954
HKD 3,270 3,280 3,418
KRW 17.11 17.84 19.41
THB 755.63 764.96 818.99
NZD 15,077 15,217 15,669
SEK - 2,703 2,799
DKK - 3,984 4,125
NOK - 2,729 2,831
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,031.54 - 6,813.12
TWD 742.37 - 899.32
SAR - 6,854.96 7,220.03
KWD - 82,987 88,296
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,970 26,000 26,380
EUR 29,747 29,866 31,062
GBP 34,825 34,965 36,000
HKD 3,271 3,284 3,401
CHF 31,718 31,845 32,769
JPY 159.96 160.60 168.54
AUD 18,253 18,326 18,925
SGD 20,139 20,220 20,817
THB 772 775 812
CAD 18,534 18,608 19,201
NZD 15,157 15,703
KRW 17.72 19.72
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25990 25990 26360
AUD 18255 18355 19286
CAD 18522 18622 19637
CHF 31859 31889 33491
CNY 3821.5 3846.5 3981.9
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29853 29883 31613
GBP 34944 34994 36754
HKD 0 3330 0
JPY 160.6 161.1 171.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15225 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20109 20239 20962
THB 0 737.7 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14130000 14130000 14430000
SBJ 12500000 12500000 14430000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,040 26,090 26,410
USD20 25,990 26,090 26,809
USD1 24,301 26,090 26,859
AUD 18,335 18,435 19,562
EUR 29,706 29,806 31,494
CAD 18,494 18,594 19,921
SGD 20,212 20,362 20,947
JPY 161.36 162.86 168.59
GBP 34,909 35,059 36,160
XAU 14,178,000 0 14,482,000
CNY 0 3,737 0
THB 0 773 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 18/08/2026 15:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80