Ngân hàng Nhà nước đã tiếp nhận 11 hồ sơ đề nghị cấp phép sản xuất vàng miếng từ doanh nghiệp và ngân hàng

(TBTCO) - Tại họp báo chiều ngày 14/4, Cục trưởng Cục Quản lý ngoại hối Đào Xuân Tuấn cho biết, Ngân hàng Nhà nước đã tiếp nhận 11 hồ sơ đề nghị cấp phép sản xuất vàng miếng từ doanh nghiệp và ngân hàng; đồng thời, đang phối hợp các bộ, ngành xem xét các đơn vị có đủ điều kiện.
aa
Ngân hàng Nhà nước "sàng lọc" 9 hồ sơ xin cấp phép sản xuất vàng miếng Đồng loạt 26 ngân hàng giảm lãi suất, tín dụng tăng 3,18% sau quý I/2026 Bán tháo vàng và bạc tăng mạnh khi nỗi lo lạm phát bao trùm thị trường toàn cầu

Thông tin từ buổi họp báo do Ngân hàng Nhà nước tổ chức chiều ngày 14/4, ông Đào Xuân Tuấn - Cục trưởng Cục Quản lý ngoại hối cho biết, Ngân hàng Nhà nước đã nhận được 11 hồ sơ đề nghị cấp giấy phép sản xuất vàng miếng của doanh nghiệp, ngân hàng thương mại.

Ngân hàng Nhà nước đã tiếp nhận 11 hồ sơ đề nghị cấp phép sản xuất vàng miếng từ doanh nghiệp và ngân hàng
Ngân hàng Nhà nước tổ chức họp báo chiều ngày 14/4.

"Ngân hàng Nhà nước đang phối hợp với các bộ, ngành, cơ quan liên quan xem xét cấp phép sản xuất vàng miếng cho các đơn vị đủ điều kiện. Sau khi các đơn vị được cấp giấy phép sản xuất vàng miếng, Ngân hàng Nhà nước sẽ xem xét cấp phép nhập khẩu vàng cho các đơn vị đáp ứng đầy đủ điều kiện theo quy định" - Cục trưởng Cục Quản lý ngoại hối nhấn mạnh.

Trước đó, tại buổi họp báo Ngân hàng Nhà nước tổ chức cuối năm 2025, cơ quan quản lý thông tin, đã có 9 ngân hàng và doanh nghiệp xin cấp phép sản xuất vàng miếng theo quy định mới.

Báo cáo từ Ngân hàng Nhà nước cũng cho thấy, giá vàng biến động ở mức cao trong 3 tháng đầu năm 2026 gắn liền với những tác động từ tình hình căng thẳng địa chính trị, xung đột quân sự, cạnh tranh chiến lược gia tăng trên phạm vi toàn cầu.

Giá vàng trong nước phiên 14/4 bật tăng mạnh trở lại sau nhịp điều chỉnh trước đó. Giá vàng SJC tại Công ty TNHH MTV Vàng bạc đá quý Sài Gòn - SJC, Tập đoàn Vàng bạc đá quý DOJI... đồng loạt tăng khoảng 2 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào và 1,5 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra so với hôm qua, lên mức phổ biến 170,5 - 173 triệu đồng/lượng.

Đây là phiên hồi phục đáng chú ý khi giá vàng đã trải qua một nhịp giảm sâu vào cuối tháng 3 xuống vùng đáy quanh 163 triệu đồng/lượng, trước khi phục hồi và dao động tích lũy trong biên độ 169 - 175 triệu đồng/lượng gần đây.

Cuộc đàm phán hòa bình giữa Mỹ và Iran thất bại vào cuối tuần qua đã làm gia tăng lo ngại về lạm phát, qua đó, tác động đến nhu cầu toàn cầu đối với vàng. Trong bối cảnh đó, giá vàng giao ngay đang dao động quanh 4.700 - 4.800 USD/ounce. Diễn biến này cho thấy nỗi lo lạm phát tiếp tục là yếu tố chi phối thị trường kim loại quý.

Theo Cục Thống kê Lao động Mỹ (BLS), chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3 của nước này tăng 0,9%, cao hơn đáng kể so với mức 0,3% của tháng 2, dù vẫn thấp hơn mức dự báo 1% của giới phân tích. Tính chung, lạm phát của Mỹ hiện ở mức 3,3%, phù hợp với kỳ vọng thị trường.

Việc lạm phát gia tăng trong bối cảnh rủi ro địa chính trị leo thang khiến nhà đầu tư điều chỉnh kỳ vọng theo hướng thắt chặt chính sách tiền tệ lâu hơn, hoặc giảm kỳ vọng về việc cắt giảm lãi suất. Theo các chuyên gia, điều này sẽ khiến giá vàng tiếp tục biến động mạnh, lên xuống theo các thông tin liên quan đến tiến trình đàm phán và tình hình địa chính trị.

Trước bối cảnh giá vàng biến động khó lường, Ngân hàng Nhà nước cho biết sẽ tiếp tục theo dõi sát diễn biến thị trường vàng trong nước và quốc tế, triển khai quy định tại Nghị định số 24/2012/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 232/2025/NĐ-CP ngày 26/8/2025), đồng thời phối hợp với các cơ quan hữu quan để tăng cường công tác quản lý và có biện pháp ổn định thị trường vàng theo thẩm quyền./.

Để được cấp phép sản xuất vàng miếng, các ngân hàng và doanh nghiệp phải đáp ứng nhiều điều kiện; trong đó, doanh nghiệp cần có vốn điều lệ từ 1.000 tỷ đồng trở lên, còn ngân hàng tối thiểu 50.000 tỷ đồng. Xét theo quy mô vốn điều lệ, chỉ một số doanh nghiệp lớn đáp ứng ngưỡng từ 1.000 tỷ đồng trở lên như: PNJ, DOJI, SJC. Về phía ngân hàng, các tổ chức có vốn điều lệ trên 50.000 tỷ đồng gồm: Vietcombank, VPBank, Techcombank, BIDV, MB, VietinBank và Agribank.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Mở rộng bao phủ bảo hiểm xã hội, không để lao động nền tảng đứng ngoài an sinh

Mở rộng bao phủ bảo hiểm xã hội, không để lao động nền tảng đứng ngoài an sinh

(TBTCO) - Khoảng 2 triệu người tại Việt Nam đang có việc làm thông qua các nền tảng số, nhưng chỉ khoảng 1/5 lao động được khảo sát tham gia bảo hiểm xã hội. Thực tế này đặt ra yêu cầu hoàn thiện chính sách theo hướng linh hoạt, phù hợp hơn với đặc điểm việc làm và thu nhập của lao động nền tảng.
VietinBank hợp tác Finviet xây dựng hệ sinh thái tài chính số dành cho hộ kinh doanh

VietinBank hợp tác Finviet xây dựng hệ sinh thái tài chính số dành cho hộ kinh doanh

(TBTCO) - Ngày 21/9/2026, VietinBank và Finviet đã ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác chiến lược (MOU - Memorandum of Understanding) nhằm xây dựng hệ sinh thái tài chính số dành cho hộ kinh doanh tại Việt Nam.
Tỷ giá USD hôm nay (22/9): USD nhích nhẹ, DXY dao động hẹp khi Mỹ đề xuất rót 5 tỷ USD tái thiết Trung Đông

Tỷ giá USD hôm nay (22/9): USD nhích nhẹ, DXY dao động hẹp khi Mỹ đề xuất rót 5 tỷ USD tái thiết Trung Đông

(TBTCO) - Sáng 22/9, tỷ giá trung tâm tăng 3 đồng, lên 25.640 đồng/USD, trong khi chỉ số DXY dao động rất hẹp quanh 100,43 điểm. Diễn biến thị trường được chú ý khi chính quyền Tổng thống Donald Trump đề xuất rót 5 tỷ USD vào quỹ hỗ trợ tái thiết hạ tầng Trung Đông, nhà đầu tư cũng chờ thêm tín hiệu từ các quan chức Fed để xác định hướng đi tiếp theo.
VietinBank đồng hành cùng khách hàng qua các thế hệ

VietinBank đồng hành cùng khách hàng qua các thế hệ

(TBTCO) - Mới đây, tại TP. Hồ Chí Minh, VietinBank tổ chức Tọa đàm chuyên sâu “Kiến tạo nền móng - Khởi dựng tương lai” dành cho khách hàng ưu tiên, mở đầu chuỗi hoạt động về quản trị, gìn giữ, phát triển và chuyển giao giá trị cho thế hệ kế cận.
Công đoàn Vietcombank: Vinh danh học sinh, sinh viên xuất sắc, tiêu biểu năm 2026

Công đoàn Vietcombank: Vinh danh học sinh, sinh viên xuất sắc, tiêu biểu năm 2026

(TBTCO) - Sáng 19/9/2026, tại Đền thờ danh sư Chu Văn An, Khu di tích quốc gia Phượng Hoàng, TP. Hải Phòng, Công đoàn Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) trang trọng tổ chức Lễ vinh danh học sinh, sinh viên xuất sắc, tiêu biểu năm học 2025 - 2026.
KienlongBank ra mắt Visa Signature: Đặc quyền độc bản, trải nghiệm tinh hoa

KienlongBank ra mắt Visa Signature: Đặc quyền độc bản, trải nghiệm tinh hoa

(TBTCO) - KienlongBank vừa ra mắt thẻ tín dụng cao cấp Visa Signature dành riêng cho giới tinh hoa. Với nhiều đặc quyền, phí chuyển đổi ngoại tệ thấp nhất thị trường và hoàn tiền không giới hạn, chiếc thẻ không chỉ giúp chủ thẻ quản lý chi tiêu mà còn khẳng định vị thế độc bản qua hệ sinh thái tiện ích đẳng cấp toàn cầu.
Giá vàng hôm nay ngày 21/9: Vàng thế giới giữ mốc 4.300 USD, trong nước đứng giá

Giá vàng hôm nay ngày 21/9: Vàng thế giới giữ mốc 4.300 USD, trong nước đứng giá

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì trên mốc 4.300 USD/ounce, trong khi giá vàng miếng tiếp tục giao dịch ở vùng giá 144,6 - 147,6 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng lên 4.378 USD/ounce sau một tuần biến động, trong khi giá vàng trong nước đi ngang, với vàng miếng bán ra ở mức 147,6 triệu đồng/lượng.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
Hà Nội - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
Đà Nẵng - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
Miền Tây - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
Tây Nguyên - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 ▲60K 14,550 ▲60K
Miếng SJC Nghệ An 14,250 ▲60K 14,550 ▲60K
Miếng SJC Thái Bình 14,250 ▲60K 14,550 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▲60K 14,600 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▲60K 14,600 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▲60K 14,600 ▲60K
NL 99.99 13,550
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450
Trang sức 99.9 13,910 ▲60K 14,510 ▲60K
Trang sức 99.99 13,920 ▲60K 14,520 ▲60K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,425 ▲6K 14,552 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,425 ▲6K 14,553 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 142 ▼1272K 145 ▼1299K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 142 ▼1272K 1,451 ▲6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,395 ▲6K 144 ▼1290K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,574 ▲122076K 142,574 ▲128376K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,361 ▲450K 108,161 ▲450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,828 ▼79044K 9,808 ▼87864K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,199 ▲366K 87,999 ▲366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,431 ▼66530K 8,411 ▼75350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,404 ▲250K 60,204 ▲250K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Cập nhật: 23/09/2026 12:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17923 18197 18771
CAD 17917 18192 18810
CHF 30980 31358 32002
CNY 0 3832 3928
EUR 29061 29281 30360
GBP 33799 34188 35124
HKD 0 3182 3384
JPY 158 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14508 15096
SGD 19824 20106 20674
THB 697 760 813
USD (1,2) 25718 0 0
USD (5,10,20) 25757 0 0
USD (50,100) 25785 25799 26166
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 29,109 29,132 30,514
JPY 160.34 160.63 170.38
GBP 33,977 34,069 35,261
AUD 18,115 18,180 18,874
CAD 18,108 18,166 18,835
CHF 31,235 31,332 32,259
SGD 19,938 20,000 20,793
CNY - 3,801 3,947
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.71 18.47 20.1
THB 746.35 755.57 809.01
NZD 14,495 14,630 15,070
SEK - 2,591 2,685
DKK - 3,904 4,042
NOK - 2,698 2,795
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,958.4 - 6,728.7
TWD 739.4 - 895.83
SAR - 6,802.09 7,165.12
KWD - 82,284 87,558
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,800 25,830 26,210
EUR 29,226 29,343 30,542
GBP 34,081 34,218 35,242
HKD 3,249 3,262 3,380
CHF 31,163 31,288 32,234
JPY 161.15 161.80 169.78
AUD 18,171 18,244 18,837
SGD 20,049 20,130 20,721
THB 765 768 806
CAD 18,162 18,235 18,824
NZD 14,629 15,171
KRW 18.41 20.39
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25810 25810 26170
AUD 18107 18207 19132
CAD 18105 18205 19216
CHF 31227 31257 32839
CNY 3815.9 3840.9 3976.1
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29259 29289 31015
GBP 34111 34161 35929
HKD 0 3315 0
JPY 161.38 161.88 172.42
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6490 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14621 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19988 20118 20842
THB 0 727.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14250000 14250000 14550000
SBJ 13000000 13000000 14550000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,716 25,836 26,210
USD20 25,686 25,836 26,210
USD1 25,666 25,836 26,210
AUD 18,188 18,288 19,397
EUR 29,098 29,198 30,864
CAD 18,074 18,174 19,487
SGD 20,082 20,232 20,801
JPY 161.98 163.48 169.08
GBP 34,058 34,208 35,281
XAU 14,188,000 0 14,492,000
CNY 0 3,731 0
THB 0 765 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 23/09/2026 12:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30