Bán tháo vàng và bạc tăng mạnh khi nỗi lo lạm phát bao trùm thị trường toàn cầu

Hoàng Lê
(TBTCO) - Vàng và bạc cùng tham gia đợt bán tháo trên diện rộng vào ngày 19/3, với giá giảm lần lượt khoảng 5% và 10%, do lo ngại về cuộc chiến tại Iran và lạm phát bao trùm thị trường toàn cầu.
aa
Bán tháo vàng và bạc tăng mạnh khi nỗi lo lạm phát bao trùm thị trường toàn cầu

Giá vàng và bạc giảm mạnh khi xung đột tại Trung Đông kéo dài làm lu mờ triển vọng lãi suất. Ảnh TL

Vào lúc 8:43 sáng giờ ET ngày 19/3, giá vàng giao ngay giảm 4,9% xuống còn hơn 4.600 USD/ounce. Hợp đồng tương lai vàng kỳ hạn gần nhất.giảm 5,8% xuống còn 4.612 USD.

Cổ phiếu ngành khai thác mỏ và các quỹ ETF liên quan đến vàng và bạc cũng giảm trong giao dịch trước giờ mở cửa. Quỹ ProShares Ultra Silver ETF giảm 20% trước khi chuông mở cửa phiên giao dịch ngày 19/3 vang lên, trong khi quỹ iShares Silver Trust ETF, vốn là tâm điểm của giao dịch meme hồi đầu năm nay, đã giảm gần 10%. Quỹ ETF Cổ phiếu Bạc Vật chất của Aberdeen giảm 9,9%.

Trong số các cổ phiếu khai thác mỏ, Teck Resources là công ty có mức thua lỗ lớn nhất., giảm 8,9%, trong khi First Majestic Silver và Coeur Mining giảm lần lượt 10% và 9,9%.

Việc bán tháo cổ phiếu các công ty khai thác mỏ cũng được ghi nhận trong phiên giao dịch châu Âu, với chỉ số Stoxx Europe Basic Resources khu vực giảm 6%. Cổ phiếu của các công ty hàng đầu thế giới về sản xuất bạc và vàng, giảm 9,3%, trong khi tập đoàn khai thác mỏ khổng lồ Antofagasta... giảm hơn 8,2%.

Diễn biến giá vàng và bạc diễn ra trong bối cảnh tâm lý né tránh rủi ro lan rộng, khiến thị trường chứng khoán toàn cầu và trái phiếu chính phủ đồng loạt giảm điểm. Chứng khoán châu Âu giảm mạnh trong phiên giao dịch đầu ngày, trong khi giá hợp đồng tương lai cũng cho thấy thị trường chứng khoán Mỹ có thể giảm điểm khi mở cửa.

Các nhà đầu tư đang theo dõi sát sao chiến sự Mỹ - Iran đang diễn ra khi xung đột bước sang tuần thứ ba. Cuộc chiến này đang làm dấy lên lo ngại về một cú sốc năng lượng, gây thêm áp lực lạm phát cho các nền kinh tế trên toàn cầu. Giá dầu và khí đốt đã tăng vọt vào thứ Ba sau khi các cơ sở năng lượng ở Iran và Qatar bị tấn công.

Các ngân hàng trung ương cũng đang theo dõi sát sao những diễn biến ở Trung Đông. Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đã giữ nguyên lãi suất vào thứ Tư và viện dẫn những tác động “không chắc chắn” phát sinh từ cuộc xung đột. Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) cũng giữ nguyên lãi suất, lưu ý rằng rủi ro lạm phát hiện đang nghiêng về phía tăng do chiến tranh Iran.

Một loạt các ngân hàng trung ương ở châu Âu, bao gồm cả ngân hàng trung ương của Anh và khu vực đồng Euro đã quyết định giữ nguyên lãi suất vào cuối ngày thứ Năm.

Ngân hàng trung ương Thụy Sĩ cũng đã đề cập đến cuộc chiến ở Iran khi công bố quyết định giữ lãi suất chính sách ở mức 0%. Ngân hàng này cho biết họ sẵn sàng can thiệp vào thị trường ngoại hối khi cuộc chiến kéo dài.

Vàng và bạc đều có những đợt tăng giá kỷ lục trong năm 2025, tăng lần lượt 66% và 135% trong suốt năm. Tuy nhiên, hai kim loại quý này đã chứng kiến ​​sự biến động mạnh hơn nhiều trong năm 2026, với hợp đồng tương lai bạc chịu cú sốc lớn nhất trong một ngày kể từ những năm 1980 vào cuối tháng Giêng.

Paul Surguy, giám đốc điều hành kiêm người đứng đầu bộ phận quản lý đầu tư và đề xuất tại Kingswood Group, cho biết, vàng đã ”được hưởng lợi từ xu hướng tăng trưởng khá tốt trong một thời gian”, nhưng bối cảnh rộng hơn có thể đang khuyến khích các nhà đầu tư xem xét lại lượng vàng mà họ đang nắm giữ.

“Thị trường toàn cầu đã chứng kiến ​​những đợt bán tháo trên diện rộng khi các nhà đầu tư tìm kiếm những tài sản có thể bán nhanh nhất, có lẽ chúng ta đang chứng kiến ​​giai đoạn tiếp theo của quá trình này, khi các tài sản được coi là nơi trú ẩn an toàn bị bán đi để hỗ trợ cho việc mua tài sản có thể đã phản ứng thái quá trước tình hình hiện tại”, ông nói.

“Với việc không phận và các tuyến đường vận chuyển hàng hải cũng bị đóng cửa, việc vận chuyển vàng giờ đây sẽ trở nên đắt đỏ hơn, hoặc thậm chí là không thể - cần nhớ rằng khi mua tài sản trú ẩn an toàn tối thượng, bạn đang nắm giữ một thứ vật chất - thứ cần phải được sở hữu để thực sự mang lại sự an toàn đó”, chuyên gia của Kingswood Group cho biết.

Iain Barnes, Giám đốc đầu tư (CIO) tại công ty quản lý tài sản Netwealth của Anh, nói rằng sự biến động giá vàng gia tăng phản ánh việc kim loại quý này ngày càng được ưa chuộng như một tài sản tài chính trong các danh mục đầu tư.

“Các nhà đầu tư tài chính, chứ không phải các nhà đầu tư cơ bản, là những người mua vàng ở mức độ nhỏ và chúng tôi nhận thấy họ đang giảm rủi ro trên diện rộng”, ông cho biết. ”Điều này đặc biệt đúng đối với các quỹ đầu tư nhanh, sử dụng đòn bẩy cao, vốn phải đối mặt với chi phí vay cao hơn”.

Theo Dan Coatsworth, người đứng đầu bộ phận thị trường tại AJ Bell, sự sụt giảm giá vàng cho thấy các nhà đầu tư hoặc đang thanh lý các tài sản đã từng sinh lời tốt cho họ, hoặc đang phản ứng trước sự tăng giá hơn nữa của đồng đô la Mỹ.

“Giá vàng thường giảm khi đồng đô la Mỹ tăng giá vì kim loại này trở nên đắt hơn đối với người mua các loại tiền tệ khác”, ông nói.

Hoàng Lê
Tổng hợp từ WSJ, CNBC

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 23/6: Thế giới tăng thêm 36 USD/ounce, trong nước quay đầu giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 23/6: Thế giới tăng thêm 36 USD/ounce, trong nước quay đầu giảm nhẹ

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 36 USD/ounce so với phiên trước, giao dịch quanh mức 4.192 USD/ounce. Trong nước, ghi nhận sáng ngày 23/6, giá vàng miếng và vàng nhẫn lại quay đầu giảm nhẹ ở nhiều doanh nghiệp vàng lớn.
Giá vàng hôm nay ngày 22/6: Vàng miếng, vàng nhẫn bật tăng thêm cả triệu

Giá vàng hôm nay ngày 22/6: Vàng miếng, vàng nhẫn bật tăng thêm cả triệu

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng 22/6 tiếp tục bật tăng khá mạnh. Ghi nhận đầu giờ, cả giá vàng miếng và vàng nhẫn ở các cửa hàng kinh doanh vàng đều tăng từ 1,5 - 2 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 21/6: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt tăng giá trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 21/6: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt tăng giá trở lại

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đảo chiều đi lên ở cả phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn, đưa mặt bằng giá phổ biến trở lại vùng 143,7 - 147,2 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 20/6: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm mạnh

Giá vàng hôm nay ngày 20/6: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm mạnh

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm xuống còn 4.156 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt đi xuống tại nhiều doanh nghiệp lớn, với mức giảm cao nhất lên tới 5,1 triệu đồng/lượng.
Goldman Sachs hạ dự báo giá vàng thêm 500 USD do Fed không cắt giảm lãi suất

Goldman Sachs hạ dự báo giá vàng thêm 500 USD do Fed không cắt giảm lãi suất

(TBTCO) - Tập đoàn Goldman Sachs đã cắt giảm dự báo giá vàng cuối năm thêm 500 USD/ounce do Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) không còn được kỳ vọng sẽ giảm lãi suất trong năm 2026.
Giá vàng hôm nay ngày 19/6: Vàng nhẫn đồng loạt điều chỉnh giảm

Giá vàng hôm nay ngày 19/6: Vàng nhẫn đồng loạt điều chỉnh giảm

(TBTCO) - Giá vàng miếng tiếp tục duy trì phổ biến ở mức 148,8 - 151,3 triệu đồng/lượng tại nhiều doanh nghiệp, trong khi vàng nhẫn giảm tại nhiều thương hiệu, có nơi lùi về vùng 145,8 - 149,8 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 18/6: Giá vàng quay đầu giảm tại nhiều doanh nghiệp lớn

Giá vàng hôm nay ngày 18/6: Giá vàng quay đầu giảm tại nhiều doanh nghiệp lớn

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt điều chỉnh giảm tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn, đưa giá vàng miếng về mức 148,8 - 151,3 triệu đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn cũng ghi nhận xu hướng đi xuống trên diện rộng.
Giá vàng hôm nay ngày 17/6: Vàng trong nước đồng loạt tăng, vàng nhẫn chạm 152 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 17/6: Vàng trong nước đồng loạt tăng, vàng nhẫn chạm 152 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt tăng tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn. Vàng miếng phổ biến ở mức 149 - 151,5 triệu đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn có nơi được niêm yết tới 152 triệu đồng/lượng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Kim TT/AVPL 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Nguyên Liệu 99.99 13,100 ▼200K 13,300 ▼200K
Nguyên Liệu 99.9 13,050 ▼200K 13,250 ▼200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▼200K 14,200 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▼200K 14,150 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▼200K 14,130 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Nghệ An 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Thái Bình 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
NL 99.90 12,900 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950 ▼50K
Trang sức 99.9 13,740 ▼50K 14,440 ▼50K
Trang sức 99.99 13,750 ▼50K 14,450 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,432 ▲1288K 14,622 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,432 ▲1288K 14,623 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 ▼8K 1,461 ▼8K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 ▼8K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,411 ▼8K 1,446 ▼8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,168 ▲122472K 143,168 ▲128772K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▼600K 108,611 ▼600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,988 ▼544K 98,488 ▼544K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,865 ▼488K 88,365 ▼488K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,496 ▼67931K 8,446 ▼76481K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,954 ▼334K 60,454 ▼334K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cập nhật: 25/06/2026 11:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17625 17898 18473
CAD 17973 18248 18865
CHF 31818 32199 32841
CNY 0 3829 3921
EUR 29300 29521 30598
GBP 33905 34295 35228
HKD 0 3228 3430
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14540 15125
SGD 19765 20047 20614
THB 704 767 820
USD (1,2) 26068 0 0
USD (5,10,20) 26109 0 0
USD (50,100) 26137 26152 26456
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,136 26,136 26,456
USD(1-2-5) 25,091 - -
USD(10-20) 25,091 - -
EUR 29,435 29,459 30,794
JPY 158.56 158.85 168.05
GBP 34,096 34,188 35,284
AUD 17,842 17,906 18,537
CAD 18,173 18,231 18,856
CHF 32,067 32,167 33,029
SGD 19,906 19,968 20,699
CNY - 3,797 3,932
HKD 3,295 3,305 3,436
KRW 15.71 16.38 17.77
THB 752.21 761.5 813.84
NZD 14,557 14,692 15,096
SEK - 2,657 2,745
DKK - 3,938 4,067
NOK - 2,629 2,716
LAK - 0.9 1.25
MYR 5,979.03 - 6,738.5
TWD 748.34 - 904.41
SAR - 6,902.61 7,253.07
KWD - 83,317 88,439
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,116 26,136 26,456
EUR 29,333 29,451 30,630
GBP 34,037 34,174 35,183
HKD 3,290 3,303 3,419
CHF 31,856 31,984 32,893
JPY 158.69 159.33 167.11
AUD 17,806 17,878 18,464
SGD 19,942 20,022 20,598
THB 768 771 806
CAD 18,162 18,235 18,794
NZD 14,615 15,144
KRW 16.30 17.91
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26140 26140 26456
AUD 17803 17903 18828
CAD 18148 18248 19261
CHF 32032 32062 33644
CNY 3805.5 3830.5 3966
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29459 29489 31211
GBP 34178 34228 35996
HKD 0 3355 0
JPY 159.32 159.82 170.34
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14650 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19918 20048 20781
THB 0 732.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14320000 14320000 14620000
SBJ 13000000 13000000 14620000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,160 26,101 26,456
USD20 26,160 26,101 26,456
USD1 23,938 26,101 26,456
AUD 17,876 17,976 19,091
EUR 29,624 29,624 31,046
CAD 18,102 18,202 19,515
SGD 20,013 20,163 20,726
JPY 159.89 161.39 166.02
GBP 34,100 34,450 35,584
XAU 14,398,000 0 14,702,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 769 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/06/2026 11:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80