Đại hội đồng cổ đông ABBank: Tận dụng "lương khô" và nguồn thu mới, nhắm đỉnh lãi kỷ lục 4.500 tỷ đồng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - ABBank đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế 4.500 tỷ đồng trong năm 2026, tăng 28% so với năm 2025, tăng trưởng tín dụng 9%, nợ xấu kiểm soát dưới 1,5% cùng kế hoạch tăng vốn lên 20.000 tỷ đồng và chuẩn bị chuyển sàn sang HOSE. Lãnh đạo ABBank nhấn mạnh động lực tăng trưởng từ nguồn “lương khô” xử lý nợ xấu và phát triển các nguồn thu mới.
aa
Vực dậy tăng trưởng, Ngân hàng ABBank nhắm mốc 1.800 tỷ đồng lợi nhuận năm 2025 ABBank sắp chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng, chuẩn bị tăng vốn kỷ lục lên 14.000 tỷ đồng ABBank tái định vị thương hiệu, hướng tới “Ngân hàng kiến tạo hạnh phúc”

Tín dụng tăng 9%, tổng tài sản sát ngưỡng 300.000 tỷ đồng

Ngày 28/4, tại Hà Nội, Ngân hàng TMCP An Bình (ABBank - mã Ck: ABB) tổ chức Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) thường niên 2026 với nhiều nội dung quan trọng liên quan đến kế hoạch kinh doanh năm 2026, phương án phân phối lợi nhuận, tăng vốn điều lệ và lộ trình niêm yết cổ phiếu trên HOSE.

Tổng số cổ đông của ABBank là 20.891 cổ đông. Tại thời điểm khai mạc đại hội, có 174 cổ đông tham dự trực tiếp và ủy quyền, đại diện cho khoảng 865,4 triệu cổ phần, tương ứng 83,607% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết.

Đại hội đồng cổ đông ABBank: Tăng tốc trước thềm niêm yết HOSE, lãi 4.500 tỷ đồng, tín dụng tăng 9%
ABBank tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026.

Báo cáo định hướng hoạt động kinh doanh năm 2026, Tổng Giám đốc ABBank Lê Mạnh Hùng nêu rõ, ABBank ưu tiên nguồn vốn cho hoạt động bán lẻ, xác định bán lẻ là trụ cột tăng trưởng chủ đạo, hướng tới mục tiêu thu nhập từ hoạt động bán lẻ chiếm khoảng 70% tổng thu nhập trong những năm tới.

Kiểm soát nợ xấu dưới 1,5%

Theo kế hoạch, năm 2026, ABBank đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế đạt 4.500 tỷ đồng, tăng 28% so với năm 2025. Cùng với đó, dư nợ tín dụng tăng 9% lên 138.930 tỷ đồng. Một trong những điểm đáng chú ý là ngân hàng đặt mục tiêu kiểm soát tỷ lệ nợ xấu dưới 1,5%, cho thấy định hướng tăng trưởng đi kèm kiểm soát rủi ro chặt chẽ.

Về kế hoạch năm 2026, ABBank đặt mục tiêu tổng tài sản đạt 291.000 tỷ đồng, tăng 32% so với năm trước; huy động từ khách hàng (bao gồm giấy tờ có giá) dự kiến tăng 53%, lên 247.417 tỷ đồng.

Nền tảng cho kế hoạch tham vọng này đến từ kết quả kinh doanh năm 2025, với nhiều chỉ tiêu tăng trưởng vượt bậc.

Với việc thiết lập kế hoạch sớm và thực thi quyết liệt, thông tin từ đại hội cũng cho thấy, lợi nhuận trước thuế quý I/2026 của ABBank đã đạt 1.500 tỷ đồng.

Đại hội đồng cổ đông ABBank: Tận dụng
Nguồn: ABBank.

Tiếp tục chào bán cổ phiếu tăng vốn lên 20.000 tỷ đồng, ABB sẵn sàng lên HOSE

Một nội dung chiến lược khác được Đại hội thông qua là kế hoạch tăng vốn điều lệ, tạo trụ cột tài chính vững chắc cho giai đoạn bứt tốc.

Trước đó, ngày 3/3/2026, ABBank đã hoàn tất đợt chào bán cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu (30%) và phát hành cổ phiếu cho cán bộ, nhân viên (5%) theo chương trình ESOP, qua đó, nâng vốn điều lệ từ 10.350,4 tỷ đồng lên 13.972 tỷ đồng.

Với đợt chào bán cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu, cổ đông đã nộp tiền mua hơn 184 triệu cổ phiếu, tương ứng khoảng 1.845 tỷ đồng, đạt gần 59% tổng lượng chào bán. Số cổ phiếu chưa phân phối hết và phần lẻ quyền mua (hơn 126 triệu cổ phiếu), tiếp tục được bán cho 24 cá nhân với giá 10.000 đồng/cổ phiếu và bị hạn chế chuyển nhượng trong vòng 1 năm.

Đại hội đồng cổ đông ABBank: Tăng tốc trước thềm niêm yết HOSE, lãi 4.500 tỷ đồng, tín dụng tăng 9%
Đồ họa: Ánh Tuyết.

ABBank dự kiến tăng thêm 6.112 tỷ đồng, nâng tổng vốn điều lệ lên hơn 20.000 tỷ đồng thông qua 2 đợt. Trình bày phương án tăng vốn điều lệ, ông Nguyễn Danh Lương - Thành viên Hội đồng Quản trị ABBank nêu rõ, kế hoạch được chia thành hai đợt.

Sau hai đợt phát hành, vốn điều lệ của ABBank dự kiến tăng từ 13.972 tỷ đồng lên 20.084,8 tỷ đồng, tức tăng 6.112 tỷ đồng so với đợt gần nhất. Đây sẽ là đợt tăng vốn lớn nhất trong lịch sử của ABBank.

Đợt 1 phát hành hơn 209,5 triệu cổ phiếu để trả cổ tức với tỷ lệ 15%, dự kiến triển khai trong quý II/2026, qua đó tăng vốn gần 2.096 tỷ đồng.

Đợt 2 chào bán 321 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu với tỷ lệ 20%, giá 10.000 đồng/cổ phiếu, dự kiến thực hiện trong quý IV/2026 sau khi hoàn tất đợt 1. Cùng với đó, phát hành hơn 80 triệu cổ phiếu theo chương trình ESOP cho nhân viên với tỷ lệ 5%, dự kiến triển khai vào quý I/2027.

Một nội dung đáng chú ý khác là kế hoạch chuyển niêm yết cổ phiếu ABB từ UPCoM sang HOSE, phiên giao dịch đầu tiên dự kiến thực hiện vào quý IV/2026. Việc chuyển sàn HOSE không chỉ tăng cường uy tín khi nâng tầm minh bạch, mà còn giúp ABBank tiếp cận dòng vốn trung - dài hạn, đưa cổ phiếu ABB vào “tầm ngắm” của các tổ chức, định chế tài chính nước ngoài.

Tận dụng “lương khô” từ xử lý nợ xấu, mở rộng nguồn thu

Tại đại hội, cổ đông của ABBank đặc biệt quan tâm đến động lực tăng trưởng lợi nhuận năm 2026; đẩy mạnh các nguồn thu ngoài lãi trong bối cảnh hạn chế room tín dụng toàn ngành. Bên cạnh đó, các vấn đề khác cũng được đặt ra như kiểm soát nợ xấu và chất lượng tài sản, cân đối nguồn vốn và sử dụng vốn như thế nào để đảm bảo hiệu quả khi huy động tăng mạnh hơn tín dụng; khả năng hấp thụ các đợt chào bán cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu.

Ngoài ra, cổ đông cũng nhấn mạnh yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động, tối ưu chi phí, gắn ESOP với hiệu suất, đồng thời quan tâm tới tác động của việc thay đổi nhận diện thương hiệu và nhân sự cấp cao tới chiến lược và năng lực quản trị của ngân hàng.

Để hoàn thành kế hoạch năm 2026, Chủ tịch ABBank Vũ Văn Tiền nhấn mạnh tinh thần xuyên suốt là đột phá, sáng tạo và hiệu quả.

“Nguồn “lương khô” từ xử lý nợ xấu được Chủ tịch cũng như Hội đồng Quản trị quyết liệt đề nghị Ban điều hành triển khai ngay từ đầu năm và làm sát sao, quyết liệt, sáng tạo và linh hoạt hơn” - Chủ tịch ABBank nhấn mạnh.

Trả lời cổ đông về kế hoạch kinh doanh năm 2026, Tổng Giám đốc Lê Mạnh Hùng cho biết, năm 2026, ABBank trình ĐHĐCĐ kế hoạch lợi nhuận 4.500 tỷ đồng.

Với quy mô hiện tại, dư nợ khoảng 127.000 tỷ đồng và dự kiến tăng trưởng tín dụng khoảng 9%, Tổng Giám đốc ABBank thẳng thắn nhìn nhận, mục tiêu 4.500 tỷ đồng là rất thách thức và để đạt được mục tiêu này, đòi hỏi sự sáng tạo, đột phá. Tuy nhiên, kỳ vọng của ABBank không chỉ dừng ở 4.500 tỷ đồng, mà còn hướng tới mức cao hơn.

Bên cạnh đó, theo Tổng Giám đốc Lê Mạnh Hùng, ABBank hiện có hơn 40.000 tỷ đồng hoạt động trên thị trường liên ngân hàng với mức sinh lời 8 - 9%, trong khi cho vay thị trường 1 với các tập đoàn lớn khó đạt trên 5%, cho thấy dư địa tối ưu hiệu quả vốn.

Về các nguồn thu tiềm năng, ngân hàng đặt mục tiêu phát triển tối thiểu 100.000 thẻ tín dụng năm 2026, kỳ vọng thu khoảng 100 tỷ đồng phí thường niên nhờ nền tảng 2,5 triệu khách hàng. Bên cạnh đó, ABBank tập trung vào sản phẩm dài hạn như: đầu tư cho giáo dục, bảo hiểm hưu trí... Đây vừa là nguồn thu phí, vừa giúp huy động vốn dài hạn với chi phí hợp lý, tạo khác biệt trên thị trường.

Chia sẻ tại ĐHĐCĐ về lý do trở lại làm Chủ tịch ABBank, ông Vũ Văn Tiền bày tỏ, ABBank phát triển bền vững, duy trì sự phát triển đều đều nhiều năm, nhưng để bứt phá, cần thay đổi tư duy. “Ngân hàng chúng ta tầm trung, tầm vừa, cơ thể nhỏ gọn hơn, vận động linh hoạt hơn, có cơ chế thích ứng tốt hơn và quan trọng nhất là tư duy sáng tạo” - ông Tiền ví von.

Ban Lãnh đạo ABBank kỳ vọng, năm 2026 sẽ đạt những kết quả vượt trội, nâng cao uy tín, gia tăng giá trị cho cổ đông và cải thiện giá cổ phiếu./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất đầu vào lên mặt bằng mới, ngân hàng trước áp lực chi phí vốn và nợ xấu

Lãi suất đầu vào lên mặt bằng mới, ngân hàng trước áp lực chi phí vốn và nợ xấu

(TBTCO) - Trước áp lực chi phí vốn tăng khi lãi suất huy động, lãi suất liên ngân hàng và lãi suất phát hành trái phiếu cùng tăng lên mặt bằng mới, NIM ngân hàng tiếp tục chịu sức ép. Dù vậy, Chứng khoán Shinhan vẫn kỳ vọng lợi nhuận trước thuế toàn ngành tăng 17% năm 2026 và 16% năm 2027; đồng thời, cảnh báo nợ xấu có thể tăng nếu mặt bằng lãi suất neo cao.
BIDV là Ngân hàng thanh toán duy nhất cho thị trường giao dịch các-bon tại Việt Nam

BIDV là Ngân hàng thanh toán duy nhất cho thị trường giao dịch các-bon tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 9/6/2026, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) đã có Công văn số 5170/UBCK-PTTT về việc lựa chọn ngân hàng thanh toán cho thị trường giao dịch các-bon trong nước. Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV; mã Ck: BID) đã chính thức trở thành Ngân hàng duy nhất cung cấp dịch vụ thanh toán tiền cho giao dịch hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon trên sàn giao dịch các-bon tại Việt Nam.
Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ "nóng" cuộc đua cạnh tranh thị phần

Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ "nóng" cuộc đua cạnh tranh thị phần

(TBTCO) - Top 5 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đạt doanh thu 12.710 tỷ đồng trong quý đầu năm, chiếm gần 52% thị phần; trong đó, DBV vươn lên vị trí thứ 4 và MIC trở lại top 5, cho thấy cuộc đua thị phần ngày càng nóng lên. Chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng giúp các doanh nghiệp tăng doanh thu và mở rộng thị phần.
NCB và Sun Group ra mắt thẻ đồng thương hiệu, mở cánh cửa tới hệ sinh thái đặc quyền hàng đầu Việt Nam

NCB và Sun Group ra mắt thẻ đồng thương hiệu, mở cánh cửa tới hệ sinh thái đặc quyền hàng đầu Việt Nam

(TBTCO) - Với NCB Visa Sun Signature, lần đầu tiên khách hàng có thể sở hữu một chiếc thẻ tín dụng ngân hàng tích hợp đồng thời các đặc quyền dành cho hội viên trong hệ sinh thái du lịch nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, bất động sản, hàng không và y tế cao cấp hàng đầu Việt Nam.
Nền kinh tế vững vàng trước nhiều sức ép, tỷ giá còn chịu áp lực ngắn hạn trong quý III/2026

Nền kinh tế vững vàng trước nhiều sức ép, tỷ giá còn chịu áp lực ngắn hạn trong quý III/2026

Bộ phận Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB (Singapore) dự báo, Ngân hàng Nhà nước sẽ giữ nguyên lãi suất điều hành ở mức 4,5% đến hết năm 2026, đồng VND có thể chịu áp lực ngắn hạn trong quý III/2026, song triển vọng trung hạn vẫn tích cực.
Thị trường tiền tệ tuần 8 - 12/6: Hút ròng hơn 25.700 tỷ đồng, lãi suất qua đêm hạ nhiệt

Thị trường tiền tệ tuần 8 - 12/6: Hút ròng hơn 25.700 tỷ đồng, lãi suất qua đêm hạ nhiệt

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 8 - 12/6, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 25.733,5 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất liên ngân hàng giảm mạnh hơn 5 điểm phần trăm từ mức 9,35% đầu tuần. Cùng lúc, chỉ số DXY lùi dưới 100 điểm, giá vàng giảm sâu khiến tỷ giá USD tự do hạ về 26.240 - 26.270 VND/USD, thấp hơn 142 đồng so với giá bán của ngân hàng.
MBV thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch

MBV thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi tên gọi, địa điểm đặt trụ sở và chính thức khai trương hoạt động các phòng giao dịch (PGD) trực thuộc.
Sau nhịp điều chỉnh sâu, giá vàng còn nhiều động lực lấy lại mốc 5.000 USD/ounce

Sau nhịp điều chỉnh sâu, giá vàng còn nhiều động lực lấy lại mốc 5.000 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới đang trong giai đoạn tích lũy và điều chỉnh sau chuỗi tăng mạnh trước đó. Có quan điểm cho rằng, giá vàng có thể giảm xuống dưới ngưỡng 4.000 USD/ounce và tìm điểm cân bằng quanh 3.900 USD/ounce, song triển vọng dài hạn vẫn tích cực. Theo nhóm phân tích của Ngân hàng UOB, giá vàng có thể lên tới 5.200 USD/ounce trong quý II/2027.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,800 ▲400K 15,050 ▲350K
Kim TT/AVPL 14,850 ▲450K 15,100 ▲400K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,850 ▲450K 15,100 ▲400K
Nguyên Liệu 99.99 14,400 ▲550K 14,600 ▲550K
Nguyên Liệu 99.9 14,350 ▲550K 14,550 ▲550K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,500 ▲250K 14,900 ▲250K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,450 ▲250K 14,850 ▲250K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,380 ▲250K 14,830 ▲250K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 147,500 ▲3500K 150,500 ▲3500K
Hà Nội - PNJ 147,500 ▲3500K 150,500 ▲3500K
Đà Nẵng - PNJ 147,500 ▲3500K 150,500 ▲3500K
Miền Tây - PNJ 147,500 ▲3500K 150,500 ▲3500K
Tây Nguyên - PNJ 147,500 ▲3500K 150,500 ▲3500K
Đông Nam Bộ - PNJ 147,500 ▲3500K 150,500 ▲3500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,800 ▲400K 15,050 ▲350K
Miếng SJC Nghệ An 14,800 ▲400K 15,050 ▲350K
Miếng SJC Thái Bình 14,800 ▲400K 15,050 ▲350K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,750 ▲350K 15,050 ▲350K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,750 ▲350K 15,050 ▲350K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,750 ▲350K 15,050 ▲350K
NL 99.90 13,900 ▲450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,950 ▲450K
Trang sức 99.9 14,240 ▲350K 14,940 ▲350K
Trang sức 99.99 14,250 ▲350K 14,950 ▲350K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 148 ▲4K 15,052 ▲350K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 148 ▲4K 15,053 ▲350K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,479 ▲40K 1,504 ▲35K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,479 ▲40K 1,505 ▲1358K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,459 ▲40K 1,489 ▲35K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 140,426 ▲126730K 147,426 ▲133030K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 102,336 ▲2625K 111,836 ▲2625K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 91,912 ▲2380K 101,412 ▲2380K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 81,488 ▲2135K 90,988 ▲2135K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,467 ▲2040K 86,967 ▲2040K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 52,748 ▲1460K 62,248 ▲1460K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Cập nhật: 15/06/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18053 18328 18912
CAD 18283 18559 19178
CHF 32504 32888 33538
CNY 0 3849 3942
EUR 29886 30109 31192
GBP 34485 34877 35815
HKD 0 3224 3427
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 15050 15638
SGD 19961 20243 20823
THB 723 786 839
USD (1,2) 26021 0 0
USD (5,10,20) 26062 0 0
USD (50,100) 26091 26105 26423
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,103 26,103 26,423
USD(1-2-5) 25,059 - -
USD(10-20) 25,059 - -
EUR 30,010 30,034 31,393
JPY 159.81 160.1 169.37
GBP 34,721 34,815 35,934
AUD 18,262 18,328 18,977
CAD 18,474 18,533 19,172
CHF 32,715 32,817 33,701
SGD 20,093 20,155 20,902
CNY - 3,819 3,955
HKD 3,290 3,300 3,431
KRW 16.01 16.7 18.12
THB 769.65 779.16 832
NZD 15,049 15,189 15,604
SEK - 2,756 2,847
DKK - 4,015 4,147
NOK - 2,723 2,812
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,075.17 - 6,842.18
TWD 752.68 - 909.68
SAR - 6,892.18 7,242.86
KWD - 83,429 88,559
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,113 26,133 26,423
EUR 29,963 30,083 31,272
GBP 34,754 34,894 35,914
HKD 3,291 3,304 3,420
CHF 32,568 32,699 33,616
JPY 160.23 160.87 168.71
AUD 18,254 18,327 18,920
SGD 20,186 20,267 20,853
THB 788 791 825
CAD 18,496 18,570 19,135
NZD 15,136 15,674
KRW 16.73 18.36
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26127 26127 26423
AUD 18234 18334 19265
CAD 18461 18561 19575
CHF 32731 32761 34348
CNY 3830.1 3855.1 3990.2
CZK 0 1210 0
DKK 0 4060 0
EUR 30060 30090 31815
GBP 34792 34842 36610
HKD 0 3355 0
JPY 160.62 161.12 171.66
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6720 0
NOK 0 2770 0
NZD 0 15156 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2776 0
SGD 20121 20251 20980
THB 0 751.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14800000 14800000 15050000
SBJ 13000000 13000000 15050000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,117 26,167 26,423
USD20 26,117 26,167 26,423
USD1 23,907 26,167 26,423
AUD 18,285 18,385 19,498
EUR 30,206 30,206 31,616
CAD 18,407 18,507 19,814
SGD 20,208 20,358 20,913
JPY 161.2 162.7 167.24
GBP 34,719 35,069 35,932
XAU 14,789,000 0 15,052,000
CNY 0 3,740 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 15/06/2026 21:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80