Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Ánh Tuyết
Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
aa
"Big 4" đồng loạt nâng lãi suất, dâng sóng huy động tiền gửi toàn thị trường
Tiền gửi khách hàng lên 12,8 triệu tỷ đồng, lãi suất kích hoạt dòng tiền quý cuối năm Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 3/2026

Khảo sát biểu lãi suất tiền gửi mới nhất áp dụng cho khách hàng cá nhân ngày 25/3 tại nhóm "big 4" cho thấy, nhiều ngân hàng gồm: Vietcombank, VietinBank và BIDV đều có động thái điều chỉnh tăng lãi suất ở các kỳ hạn dài 12 - 24 tháng.

Lãi suất "big 4" lên 6,5%/năm, tăng tới 1,8 điểm phần trăm

Diễn biến nổi bật nhất xuất hiện ở kỳ hạn 12 tháng. Vietcombank, VietinBank và BIDV đồng loạt đưa lãi suất lên 5,9%/năm, trong khi Agribank thấp hơn, ở mức 5,2%/năm. Điều này trái ngược với các kỳ hạn ngắn, nơi Agribank thường niêm yết mức cao hơn nhóm còn lại.

Đáng chú ý, sau hơn 3 tháng duy trì mặt bằng lãi suất ngang với Agribank, ba ngân hàng Vietcombank, VietinBank và BIDV đã cùng điều chỉnh tăng 0,7 điểm phần trăm tuần cách đây vài ngày. Tính từ đầu quý IV/2025 đến nay, Vietcombank đã tăng tổng cộng 1,3 điểm phần trăm; VietinBank và BIDV tăng 1,2 điểm phần trăm; trong khi Agribank chỉ tăng 0,5 điểm phần trăm.

Sau 3 tháng “án binh”, Big4 đồng loạt nâng lãi suất kỳ hạn dài lên tới 1,2 điểm phần trăm
Đồ họa: Ánh Tuyết.
Cách đây vài ngày, nhóm ngân hàng quốc doanh gồm Vietcombank, VietinBank và BIDV đồng loạt điều chỉnh mạnh lãi suất huy động ở các kỳ hạn dài. Cụ thể, kỳ hạn 12 tháng được nâng thêm 0,7 điểm phần trăm lên 5,9%/năm; trong khi kỳ hạn 24 tháng tăng tới 1,2 điểm phần trăm, lên mức 6,5%/năm. Nếu so với đầu quý IV/2025, mức điều chỉnh này cho thấy biên độ tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm ở kỳ hạn dài 24 tháng, phản ánh rõ xu hướng đẩy mạnh huy động vốn trung dài hạn.

Còn ở kỳ hạn 24 tháng, mức tăng rõ nét hơn nhiều. Theo đó, lãi suất huy động niêm yết tại Vietcombank, VietinBank và BIDV đạt 6,5%/năm, Agribank thấp hơn đáng kể chỉ 5,3%/năm.

Cách đây vài ngày, Vietcombank, VietinBank và BIDV đồng loạt tăng mạnh lãi suất huy động thêm 1,2 điểm phần trăm. Như vậy, so với đầu quý IV/2025, Vietcombank tăng 1,8 điểm phần trăm, VietinBank và BIDV tăng 1,7 điểm phần trăm, Agribank tăng 0,5 điểm phần trăm.

Sau 3 tháng “án binh”, Big4 đồng loạt nâng lãi suất kỳ hạn dài lên tới 1,2 điểm phần trăm
Nguồn: Biểu lãi suất tiền gửi niêm yết của BIDV.

Với các kỳ hạn còn lại, nhóm "big 4" chưa có tín hiệu điều chỉnh lãi suất mới kể từ giữa tháng 1/2026 đến nay.

Ở kỳ hạn 1 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV cùng duy trì mức 2,1%/năm, Agribank nhỉnh hơn ở 2,6%/năm. So với đầu quý IV/2025, cả 4 ngân hàng đều tăng 0,5 điểm phần trăm.

Trong đó, riêng Agribank điều chỉnh hai lần tính từ quý IV/2025, với bước nhảy lần lượt là 0,3 điểm phần trăm (giữa tháng 12/2025) và 0,2 điểm phần trăm (cuối tháng 1/2026). Các ngân hàng còn lại mới tăng lãi suất 1 lần giữa tháng 12/2025, với mức tăng 0,5 điểm phần trăm.

Tại kỳ hạn 3 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV cùng niêm yết 2,4%/năm, Agribank ở mức 2,9%/năm. So với đầu quý IV/2025, toàn bộ nhóm này tăng 0,5 điểm phần trăm. Bước điều chỉnh tương tự kỳ hạn 1 tháng.

Ở kỳ hạn 6 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV cùng niêm yết ở mức 3,5%/năm, Agribank đạt 4%/năm. So với đầu quý IV/2025, Vietcombank tăng 0,6 điểm phần trăm, các ngân hàng còn lại tăng 0,5 điểm phần trăm. Trong đó, Agribank điều chỉnh 2 lần; còn lại các nhà băng mới tăng lãi suất 1 lần giữa tháng 12/2025.

Việc ba ngân hàng quốc doanh gồm: Vietcombank, VietinBank và BIDV đồng loạt nâng lãi suất huy động diễn ra trong bối cảnh mặt bằng lãi suất trên thị trường đang bước vào giai đoạn tăng tốc ngay sau Tết Nguyên đán. Từ đầu tháng 3 đến nay, khoảng 15 ngân hàng đã điều chỉnh tăng lãi suất, trong đó có nhiều tên tuổi lớn như MB, Techcombank, Sacombank...

"Big 4" đi sau, nhưng dẫn dắt mặt bằng lãi suất toàn hệ thống

Theo giới phân tích, khác với khối ngân hàng tư nhân thường điều chỉnh lãi suất theo từng nhịp nhỏ, các ngân hàng quốc doanh lại có xu hướng tăng mạnh và dứt khoát, với biên độ điều chỉnh lớn hơn. Nhóm "big 4" cũng thường đi sau, nhưng một khi đã tăng lãi suất thì xu hướng thị trường gần như đã được xác lập rõ ràng.

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm.

Nhóm “big 4” vốn chiếm tỷ trọng lớn cả về huy động lẫn tín dụng, đồng thời giữ vai trò then chốt trong cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ. Khi thanh khoản hệ thống không còn dồi dào và nhu cầu vốn gia tăng, đây cũng là nhóm chịu tác động sớm và rõ rệt nhất về áp lực vốn.

Cùng với đó, từ ngày 1/1/2026, theo quy định tại Thông tư 26/2022/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 22/2019/TT-NHNN ngày 15 tháng 11 năm 2019 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, toàn bộ tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước sẽ không còn được tính vào tổng nguồn vốn huy động khi xác định tỷ lệ LDR (cho vay/tổng huy động). Quy định này khiến các ngân hàng quốc doanh đối mặt với áp lực thanh khoản lớn hơn, buộc phải đẩy mạnh huy động vốn, qua đó kéo mặt bằng lãi suất cho vay đi lên.

Đến cuối năm 2025, bức tranh huy động tiếp tục cho thấy ưu thế áp đảo của các ngân hàng quốc doanh. Agribank và BIDV ghi nhận quy mô tiền gửi vượt 2 triệu tỷ đồng; xếp sau là VietinBank với gần 1,8 triệu tỷ đồng, trong khi Vietcombank đạt khoảng 1,67 triệu tỷ đồng. Nhóm "big 4" chiếm tỷ trọng tới 50% quy mô tiền gửi toàn hệ thống.

Khi nhóm “big 4” đồng loạt nâng lãi suất, mặt bằng lãi suất trên thị trường nhanh chóng bị đẩy lên, tạo hiệu ứng lan rộng và làm gia tăng sức nóng của cuộc đua huy động vốn trong toàn hệ thống. Diễn biến này không chỉ phản ánh áp lực thanh khoản, mà còn cho thấy các ngân hàng đang chủ động chuẩn bị nguồn vốn cho tăng trưởng tín dụng quý II/2026 tới đây.

Theo ghi nhận của Công ty TNHH Chứng khoán Yunta Việt Nam, lãi suất huy động trên thị trường 1 có xu hướng tăng mạnh hơn trong tuần vừa qua, trong khi lãi suất tiền gửi online cho kỳ hạn 12 tháng cao nhất khoảng 7,2% thì lãi suất tiền gửi tại quầy có thể lên mức 8 - 9%, tùy điều kiện. "Lãi suất huy động trên thị trường 1 còn chịu áp lực tăng và nhu cầu cân đối nguồn vốn trung hạn của các ngân hàng vẫn cao" - nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta nhận định.

Còn theo Công ty cổ phần Chứng khoán SSI, nhu cầu tín dụng gia tăng khiến mặt bằng lãi suất huy động đã tăng 120 - 180 điểm cơ bản trong quý IV/2025. Nhóm phân tích SSI nhận định, trong thời gian tới, biên lãi ròng (NIM) dự kiến sẽ chịu áp lực trở lại trong quý I/2026, do chi phí huy động tăng. Mặc dù lãi suất cho vay cũng có xu hướng tăng nhưng tác động lên NIM dự kiến hạn chế do hạn mức tín dụng trong quý I/2026 có sự hạn chế./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI dự kiến tiếp tục chi đậm cổ tức gần 773 tỷ đồng, khi trình cổ đông phương án chia cổ tức năm 2025 ở mức 33%, gồm 23% bằng tiền mặt và 10% bằng cổ phiếu, sau khi ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực. Năm 2025, công ty ghi dấu ấn với doanh thu hợp nhất lần đầu cán mốc 1 tỷ USD, nhiều chỉ tiêu vượt kế hoạch; đồng thời nâng tổng tài sản lên 44.512 tỷ đồng, tăng 41%.
Sửa quy định về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

Sửa quy định về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

(TBTCO) - Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 78/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 174/2024/NĐ-CP ngày 30/12/2024 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực thi hành từ 1/5/2025.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
Kim TT/AVPL 17,060 ▲330K 17,360 ▲330K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
Nguyên Liệu 99.99 16,350 ▲550K 16,550 ▲550K
Nguyên Liệu 99.9 16,300 ▲550K 16,500 ▲550K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 ▲500K 17,300 ▲500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 ▲500K 17,250 ▲500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 ▲500K 17,230 ▲500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Hà Nội - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Đà Nẵng - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Miền Tây - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Tây Nguyên - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
Miếng SJC Nghệ An 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
Miếng SJC Thái Bình 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
NL 99.90 16,270 ▲800K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,300 ▲800K
Trang sức 99.9 16,540 ▲330K 17,240 ▲330K
Trang sức 99.99 16,550 ▲330K 17,250 ▲330K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 ▲33K 17,352 ▲330K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 ▲33K 17,353 ▲330K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 ▲1536K 1,733 ▲1563K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 ▲1536K 1,734 ▲33K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 ▲1518K 1,718 ▲33K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 ▲3267K 170,099 ▲3267K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 ▲2475K 129,013 ▲2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 ▲2245K 116,986 ▲2245K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 ▲2013K 104,958 ▲2013K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 ▲1924K 100,319 ▲1924K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 ▲1376K 71,798 ▲1376K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Cập nhật: 25/03/2026 23:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17832 18106 18682
CAD 18571 18848 19462
CHF 32708 33093 33738
CNY 0 3470 3830
EUR 29935 30208 31236
GBP 34503 34895 35829
HKD 0 3238 3440
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15021 15608
SGD 20048 20331 20860
THB 722 786 839
USD (1,2) 26084 0 0
USD (5,10,20) 26125 0 0
USD (50,100) 26153 26173 26359
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,139 26,139 26,359
USD(1-2-5) 25,094 - -
USD(10-20) 25,094 - -
EUR 30,003 30,027 31,269
JPY 161.07 161.36 170.07
GBP 34,604 34,698 35,678
AUD 18,016 18,081 18,653
CAD 18,748 18,808 19,385
CHF 32,919 33,021 33,792
SGD 20,142 20,205 20,878
CNY - 3,758 3,858
HKD 3,297 3,307 3,425
KRW 16.18 16.87 18.24
THB 766.78 776.25 826.5
NZD 14,967 15,106 15,460
SEK - 2,772 2,854
DKK - 4,016 4,132
NOK - 2,664 2,742
LAK - 0.93 1.29
MYR 6,211.87 - 6,971.6
TWD 743.5 - 895.18
SAR - 6,895.13 7,218.34
KWD - 83,583 88,386
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,109 26,139 26,359
EUR 30,029 30,150 31,328
GBP 34,728 34,867 35,873
HKD 3,297 3,310 3,426
CHF 32,853 32,985 33,909
JPY 162.03 162.68 170
AUD 18,064 18,137 18,725
SGD 20,262 20,343 20,925
THB 791 794 829
CAD 18,792 18,867 19,438
NZD 15,128 15,659
KRW 16.91 18.56
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26219 26219 26359
AUD 17999 18099 19024
CAD 18748 18848 19864
CHF 32939 32969 34548
CNY 3758.2 3783.2 3918.8
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30103 30133 31856
GBP 34783 34833 36593
HKD 0 3355 0
JPY 162.25 162.75 173.29
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15121 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20203 20333 21066
THB 0 751 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,175 26,225 26,359
USD20 26,175 26,225 26,359
USD1 26,175 26,225 26,359
AUD 18,065 18,165 19,280
EUR 30,242 30,242 31,656
CAD 18,717 18,817 20,130
SGD 20,292 20,442 21,453
JPY 162.64 164.14 168.74
GBP 34,660 35,010 35,884
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,670 0
THB 0 785 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/03/2026 23:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80