Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Ánh Tuyết
Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
aa
"Big 4" đồng loạt nâng lãi suất, dâng sóng huy động tiền gửi toàn thị trường
Tiền gửi khách hàng lên 12,8 triệu tỷ đồng, lãi suất kích hoạt dòng tiền quý cuối năm Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 3/2026

Khảo sát biểu lãi suất tiền gửi mới nhất áp dụng cho khách hàng cá nhân ngày 25/3 tại nhóm "big 4" cho thấy, nhiều ngân hàng gồm: Vietcombank, VietinBank và BIDV đều có động thái điều chỉnh tăng lãi suất ở các kỳ hạn dài 12 - 24 tháng.

Lãi suất "big 4" lên 6,5%/năm, tăng tới 1,8 điểm phần trăm

Diễn biến nổi bật nhất xuất hiện ở kỳ hạn 12 tháng. Vietcombank, VietinBank và BIDV đồng loạt đưa lãi suất lên 5,9%/năm, trong khi Agribank thấp hơn, ở mức 5,2%/năm. Điều này trái ngược với các kỳ hạn ngắn, nơi Agribank thường niêm yết mức cao hơn nhóm còn lại.

Đáng chú ý, sau hơn 3 tháng duy trì mặt bằng lãi suất ngang với Agribank, ba ngân hàng Vietcombank, VietinBank và BIDV đã cùng điều chỉnh tăng 0,7 điểm phần trăm tuần cách đây vài ngày. Tính từ đầu quý IV/2025 đến nay, Vietcombank đã tăng tổng cộng 1,3 điểm phần trăm; VietinBank và BIDV tăng 1,2 điểm phần trăm; trong khi Agribank chỉ tăng 0,5 điểm phần trăm.

Sau 3 tháng “án binh”, Big4 đồng loạt nâng lãi suất kỳ hạn dài lên tới 1,2 điểm phần trăm
Đồ họa: Ánh Tuyết.
Cách đây vài ngày, nhóm ngân hàng quốc doanh gồm Vietcombank, VietinBank và BIDV đồng loạt điều chỉnh mạnh lãi suất huy động ở các kỳ hạn dài. Cụ thể, kỳ hạn 12 tháng được nâng thêm 0,7 điểm phần trăm lên 5,9%/năm; trong khi kỳ hạn 24 tháng tăng tới 1,2 điểm phần trăm, lên mức 6,5%/năm. Nếu so với đầu quý IV/2025, mức điều chỉnh này cho thấy biên độ tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm ở kỳ hạn dài 24 tháng, phản ánh rõ xu hướng đẩy mạnh huy động vốn trung dài hạn.

Còn ở kỳ hạn 24 tháng, mức tăng rõ nét hơn nhiều. Theo đó, lãi suất huy động niêm yết tại Vietcombank, VietinBank và BIDV đạt 6,5%/năm, Agribank thấp hơn đáng kể chỉ 5,3%/năm.

Cách đây vài ngày, Vietcombank, VietinBank và BIDV đồng loạt tăng mạnh lãi suất huy động thêm 1,2 điểm phần trăm. Như vậy, so với đầu quý IV/2025, Vietcombank tăng 1,8 điểm phần trăm, VietinBank và BIDV tăng 1,7 điểm phần trăm, Agribank tăng 0,5 điểm phần trăm.

Sau 3 tháng “án binh”, Big4 đồng loạt nâng lãi suất kỳ hạn dài lên tới 1,2 điểm phần trăm
Nguồn: Biểu lãi suất tiền gửi niêm yết của BIDV.

Với các kỳ hạn còn lại, nhóm "big 4" chưa có tín hiệu điều chỉnh lãi suất mới kể từ giữa tháng 1/2026 đến nay.

Ở kỳ hạn 1 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV cùng duy trì mức 2,1%/năm, Agribank nhỉnh hơn ở 2,6%/năm. So với đầu quý IV/2025, cả 4 ngân hàng đều tăng 0,5 điểm phần trăm.

Trong đó, riêng Agribank điều chỉnh hai lần tính từ quý IV/2025, với bước nhảy lần lượt là 0,3 điểm phần trăm (giữa tháng 12/2025) và 0,2 điểm phần trăm (cuối tháng 1/2026). Các ngân hàng còn lại mới tăng lãi suất 1 lần giữa tháng 12/2025, với mức tăng 0,5 điểm phần trăm.

Tại kỳ hạn 3 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV cùng niêm yết 2,4%/năm, Agribank ở mức 2,9%/năm. So với đầu quý IV/2025, toàn bộ nhóm này tăng 0,5 điểm phần trăm. Bước điều chỉnh tương tự kỳ hạn 1 tháng.

Ở kỳ hạn 6 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV cùng niêm yết ở mức 3,5%/năm, Agribank đạt 4%/năm. So với đầu quý IV/2025, Vietcombank tăng 0,6 điểm phần trăm, các ngân hàng còn lại tăng 0,5 điểm phần trăm. Trong đó, Agribank điều chỉnh 2 lần; còn lại các nhà băng mới tăng lãi suất 1 lần giữa tháng 12/2025.

Việc ba ngân hàng quốc doanh gồm: Vietcombank, VietinBank và BIDV đồng loạt nâng lãi suất huy động diễn ra trong bối cảnh mặt bằng lãi suất trên thị trường đang bước vào giai đoạn tăng tốc ngay sau Tết Nguyên đán. Từ đầu tháng 3 đến nay, khoảng 15 ngân hàng đã điều chỉnh tăng lãi suất, trong đó có nhiều tên tuổi lớn như MB, Techcombank, Sacombank...

"Big 4" đi sau, nhưng dẫn dắt mặt bằng lãi suất toàn hệ thống

Theo giới phân tích, khác với khối ngân hàng tư nhân thường điều chỉnh lãi suất theo từng nhịp nhỏ, các ngân hàng quốc doanh lại có xu hướng tăng mạnh và dứt khoát, với biên độ điều chỉnh lớn hơn. Nhóm "big 4" cũng thường đi sau, nhưng một khi đã tăng lãi suất thì xu hướng thị trường gần như đã được xác lập rõ ràng.

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm.

Nhóm “big 4” vốn chiếm tỷ trọng lớn cả về huy động lẫn tín dụng, đồng thời giữ vai trò then chốt trong cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ. Khi thanh khoản hệ thống không còn dồi dào và nhu cầu vốn gia tăng, đây cũng là nhóm chịu tác động sớm và rõ rệt nhất về áp lực vốn.

Cùng với đó, từ ngày 1/1/2026, theo quy định tại Thông tư 26/2022/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 22/2019/TT-NHNN ngày 15 tháng 11 năm 2019 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, toàn bộ tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước sẽ không còn được tính vào tổng nguồn vốn huy động khi xác định tỷ lệ LDR (cho vay/tổng huy động). Quy định này khiến các ngân hàng quốc doanh đối mặt với áp lực thanh khoản lớn hơn, buộc phải đẩy mạnh huy động vốn, qua đó kéo mặt bằng lãi suất cho vay đi lên.

Đến cuối năm 2025, bức tranh huy động tiếp tục cho thấy ưu thế áp đảo của các ngân hàng quốc doanh. Agribank và BIDV ghi nhận quy mô tiền gửi vượt 2 triệu tỷ đồng; xếp sau là VietinBank với gần 1,8 triệu tỷ đồng, trong khi Vietcombank đạt khoảng 1,67 triệu tỷ đồng. Nhóm "big 4" chiếm tỷ trọng tới 50% quy mô tiền gửi toàn hệ thống.

Khi nhóm “big 4” đồng loạt nâng lãi suất, mặt bằng lãi suất trên thị trường nhanh chóng bị đẩy lên, tạo hiệu ứng lan rộng và làm gia tăng sức nóng của cuộc đua huy động vốn trong toàn hệ thống. Diễn biến này không chỉ phản ánh áp lực thanh khoản, mà còn cho thấy các ngân hàng đang chủ động chuẩn bị nguồn vốn cho tăng trưởng tín dụng quý II/2026 tới đây.

Theo ghi nhận của Công ty TNHH Chứng khoán Yunta Việt Nam, lãi suất huy động trên thị trường 1 có xu hướng tăng mạnh hơn trong tuần vừa qua, trong khi lãi suất tiền gửi online cho kỳ hạn 12 tháng cao nhất khoảng 7,2% thì lãi suất tiền gửi tại quầy có thể lên mức 8 - 9%, tùy điều kiện. "Lãi suất huy động trên thị trường 1 còn chịu áp lực tăng và nhu cầu cân đối nguồn vốn trung hạn của các ngân hàng vẫn cao" - nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta nhận định.

Còn theo Công ty cổ phần Chứng khoán SSI, nhu cầu tín dụng gia tăng khiến mặt bằng lãi suất huy động đã tăng 120 - 180 điểm cơ bản trong quý IV/2025. Nhóm phân tích SSI nhận định, trong thời gian tới, biên lãi ròng (NIM) dự kiến sẽ chịu áp lực trở lại trong quý I/2026, do chi phí huy động tăng. Mặc dù lãi suất cho vay cũng có xu hướng tăng nhưng tác động lên NIM dự kiến hạn chế do hạn mức tín dụng trong quý I/2026 có sự hạn chế./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

SHB chính thức vào rổ chỉ số toàn cầu FTSE Global All Cap

SHB chính thức vào rổ chỉ số toàn cầu FTSE Global All Cap

(TBTCO) - Ngày 21/8, theo công bố của FTSE Russell, SHB là một trong 8 cổ phiếu ngành ngân hàng Việt Nam nằm trong FTSE Global All Cap - một cấu phần của FTSE Global Equity Index Series (GEIS). Đây là danh mục được công bố ngay trước thềm chứng khoán Việt Nam được nâng hạng từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi thứ cấp.
Những “cái bắt tay” hướng bancassurance vào chiều sâu

Những “cái bắt tay” hướng bancassurance vào chiều sâu

(TBTCO) - Những thỏa thuận mới giữa Shinhan Life Việt Nam - Nam A Bank, Hanwha Life Việt Nam - ABBank…, cùng xu hướng mở rộng các hệ sinh thái tài chính - bảo hiểm cho thấy kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng (bancassurance) vẫn còn nhiều dư địa. Những “cái bắt tay” mới đang đưa hoạt động hợp tác đi vào chiều sâu, với trọng tâm chuyển từ mở rộng doanh số sang nâng cao chất lượng tư vấn, trải nghiệm khách hàng và tính bền vững của hợp đồng.
Đầu tư hạ tầng tăng tốc, quy định bảo hiểm công trình có gì mới?

Đầu tư hạ tầng tăng tốc, quy định bảo hiểm công trình có gì mới?

(TBTCO) - Nghị định 220/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 67/2023/NĐ-CP về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động đầu tư xây dựng có hiệu lực từ ngày 1/7/2026. Những thay đổi mới về đối tượng phải mua bảo hiểm, số tiền bảo hiểm tối thiểu, nguyên tắc xác định phí và trách nhiệm của chủ đầu tư đang đặt ra yêu cầu doanh nghiệp cần chủ động hơn trong quản trị rủi ro công trình.
“VPBank tới rồi, mở “lời” ngay thôi” - chương trình nhiều điểm chạm trải nghiệm

“VPBank tới rồi, mở “lời” ngay thôi” - chương trình nhiều điểm chạm trải nghiệm

(TBTCO) - Một buổi mua sắm cuối tuần tại trung tâm thương mại vốn không phải thời điểm người ta nghĩ đến chuyện tìm hiểu sản phẩm ngân hàng. Tuy vậy, đây lại là lúc những nhu cầu tài chính quen thuộc nhất đang diễn ra: thanh toán một món đồ, lên kế hoạch cho khoản chi sắp tới, tìm cách sử dụng hiệu quả tiền trong tài khoản hay đơn giản là cân nhắc một phương thức thanh toán thuận tiện hơn.
Doanh thu cất cánh, lợi nhuận hãng hàng không chao đảo trước “bão” nhiên liệu

Doanh thu cất cánh, lợi nhuận hãng hàng không chao đảo trước “bão” nhiên liệu

(TBTCO) - Sức ép chi phí đang phủ bóng ngành hàng không, khi khách tăng, doanh thu lập đỉnh nhưng lợi nhuận bị nhiên liệu “ăn mòn”. Giá nhiên liệu tăng mạnh khiến nhiều hãng từ lãi chuyển lỗ, buộc các hãng bay phải chủ động xây dựng kịch bản ứng phó, dù nhu cầu đi lại tiếp tục là lực đỡ cho thị trường.
Phí bảo hiểm gốc tăng tốc mùa bán niên, lợi nhuận phân hóa mạnh

Phí bảo hiểm gốc tăng tốc mùa bán niên, lợi nhuận phân hóa mạnh

(TBTCO) - Nhóm bảo hiểm niêm yết ghi nhận kết quả bán niên tích cực, với phí bảo hiểm gốc tăng hai con số, chiếm 72,5% toàn thị trường. Các doanh nghiệp đẩy mạnh mở rộng kênh hợp tác, đa dạng mạng lưới phân phối để thúc đẩy doanh thu, song lợi nhuận vẫn phân hóa rõ nét.
Vì sao các ngân hàng đang theo đuổi mô hình tập đoàn tài chính?

Vì sao các ngân hàng đang theo đuổi mô hình tập đoàn tài chính?

(TBTCO) - Từ chỗ chỉ huy động vốn, cho vay và thanh toán, các ngân hàng ngày nay đang mở rộng sang chứng khoán, bảo hiểm, quản lý tài sản… để khai thác sâu hơn giá trị khách hàng và đa dạng hóa nguồn thu. Tại Việt Nam, VPBank là một trong những ngân hàng theo đuổi hướng đi này và đang từng bước gặt hái những kết quả rõ nét.
Tỷ giá USD hôm nay (21/8): Tỷ giá trung tâm lần đầu chạm 25.600 đồng, USD ngân hàng đi ngược chiều

Tỷ giá USD hôm nay (21/8): Tỷ giá trung tâm lần đầu chạm 25.600 đồng, USD ngân hàng đi ngược chiều

(TBTCO) - Sáng 21/8, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng, lần đầu chạm 25.600 đồng, trong khi tại ngân hàng diễn biến trái chiều, nhiều nơi giảm 70 đồng. Chỉ số DXY dao động hẹp, hiện quanh 98,77 điểm. Đồng bạc xanh được hỗ trợ nhẹ khi thị trường chờ loạt PMI sơ bộ tại châu Âu, Anh và Mỹ, tìm thêm tín hiệu về triển vọng kinh tế và chính sách tiền tệ.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Hà Nội - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Đà Nẵng - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Miền Tây - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Tây Nguyên - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
Miếng SJC Nghệ An 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
Miếng SJC Thái Bình 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,750 ▲290K 15,100 ▲290K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,750 ▲290K 15,100 ▲290K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,750 ▲290K 15,100 ▲290K
NL 99.99 14,150 ▲450K
Nhẫn Tròn Thái Bình 14,050 ▲450K
Trang sức 99.9 14,410 ▲290K 15,010 ▲290K
Trang sức 99.99 14,420 ▲290K 15,020 ▲290K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 147 ▼1299K 15,002 ▲240K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 147 ▼1299K 15,003 ▲240K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,465 ▲24K 1,495 ▲24K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,465 ▲24K 1,496 ▲24K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,435 ▲24K 148 ▼1308K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 139,535 ▲2377K 146,535 ▲2377K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 101,361 ▲1800K 111,161 ▲1800K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 91 ▼89277K 1,008 ▼98160K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,639 ▲1464K 90,439 ▲1464K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,643 ▲1400K 86,443 ▲1400K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 52,072 ▲1001K 61,872 ▲1001K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Cập nhật: 24/08/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18197 18472 19050
CAD 18420 18697 19317
CHF 32025 32407 33054
CNY 0 3840 3950
EUR 29906 30129 31208
GBP 34873 35267 36202
HKD 0 3205 3407
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15311 15900
SGD 20052 20334 20913
THB 716 779 832
USD (1,2) 25883 0 0
USD (5,10,20) 25922 0 0
USD (50,100) 25951 25965 26333
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,950 25,950 26,330
USD(1-2-5) 24,912 - -
USD(10-20) 24,912 - -
EUR 29,928 29,952 31,371
JPY 159.96 160.25 169.93
GBP 35,019 35,114 36,339
AUD 18,376 18,442 19,151
CAD 18,596 18,656 19,346
CHF 32,248 32,348 33,303
SGD 20,164 20,227 21,019
CNY - 3,813 3,959
HKD 3,267 3,277 3,414
KRW 17.46 18.21 19.81
THB 763.56 772.99 827.36
NZD 15,268 15,410 15,868
SEK - 2,712 2,808
DKK - 4,014 4,156
NOK - 2,757 2,862
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,044.92 - 6,824.23
TWD 742.72 - 899.2
SAR - 6,842.36 7,207.52
KWD - 82,924 88,232
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,900 25,930 26,310
EUR 29,956 30,076 31,275
GBP 35,029 35,170 36,209
HKD 3,264 3,277 3,394
CHF 32,092 32,221 33,163
JPY 160.46 161.10 169.08
AUD 18,395 18,469 19,066
SGD 20,227 20,308 20,907
THB 781 784 821
CAD 18,596 18,671 19,268
NZD 15,367 15,917
KRW 18.09 20.08
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25950 25950 26310
AUD 18369 18469 19394
CAD 18595 18695 19709
CHF 32246 32276 33858
CNY 3826.8 3851.8 3987.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 30068 30098 31823
GBP 35153 35203 36964
HKD 0 3330 0
JPY 160.9 161.4 175.8
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15404 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20204 20334 21057
THB 0 744.9 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14700000 14700000 15000000
SBJ 13000000 13000000 15000000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,930 25,980 26,310
USD20 25,880 25,980 26,830
USD1 25,830 25,980 26,880
AUD 18,406 18,506 19,646
EUR 29,830 29,930 31,633
CAD 18,517 18,617 19,948
SGD 20,261 20,411 21,693
JPY 161.25 162.75 168.54
GBP 35,011 35,161 36,530
XAU 14,458,000 0 14,762,000
CNY 0 3,733 0
THB 0 779 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 24/08/2026 12:30
Ngân hàng