Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Ánh Tuyết
Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
aa
"Big 4" đồng loạt nâng lãi suất, dâng sóng huy động tiền gửi toàn thị trường
Tiền gửi khách hàng lên 12,8 triệu tỷ đồng, lãi suất kích hoạt dòng tiền quý cuối năm Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 3/2026

Khảo sát biểu lãi suất tiền gửi mới nhất áp dụng cho khách hàng cá nhân ngày 25/3 tại nhóm "big 4" cho thấy, nhiều ngân hàng gồm: Vietcombank, VietinBank và BIDV đều có động thái điều chỉnh tăng lãi suất ở các kỳ hạn dài 12 - 24 tháng.

Lãi suất "big 4" lên 6,5%/năm, tăng tới 1,8 điểm phần trăm

Diễn biến nổi bật nhất xuất hiện ở kỳ hạn 12 tháng. Vietcombank, VietinBank và BIDV đồng loạt đưa lãi suất lên 5,9%/năm, trong khi Agribank thấp hơn, ở mức 5,2%/năm. Điều này trái ngược với các kỳ hạn ngắn, nơi Agribank thường niêm yết mức cao hơn nhóm còn lại.

Đáng chú ý, sau hơn 3 tháng duy trì mặt bằng lãi suất ngang với Agribank, ba ngân hàng Vietcombank, VietinBank và BIDV đã cùng điều chỉnh tăng 0,7 điểm phần trăm tuần cách đây vài ngày. Tính từ đầu quý IV/2025 đến nay, Vietcombank đã tăng tổng cộng 1,3 điểm phần trăm; VietinBank và BIDV tăng 1,2 điểm phần trăm; trong khi Agribank chỉ tăng 0,5 điểm phần trăm.

Sau 3 tháng “án binh”, Big4 đồng loạt nâng lãi suất kỳ hạn dài lên tới 1,2 điểm phần trăm
Đồ họa: Ánh Tuyết.
Cách đây vài ngày, nhóm ngân hàng quốc doanh gồm Vietcombank, VietinBank và BIDV đồng loạt điều chỉnh mạnh lãi suất huy động ở các kỳ hạn dài. Cụ thể, kỳ hạn 12 tháng được nâng thêm 0,7 điểm phần trăm lên 5,9%/năm; trong khi kỳ hạn 24 tháng tăng tới 1,2 điểm phần trăm, lên mức 6,5%/năm. Nếu so với đầu quý IV/2025, mức điều chỉnh này cho thấy biên độ tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm ở kỳ hạn dài 24 tháng, phản ánh rõ xu hướng đẩy mạnh huy động vốn trung dài hạn.

Còn ở kỳ hạn 24 tháng, mức tăng rõ nét hơn nhiều. Theo đó, lãi suất huy động niêm yết tại Vietcombank, VietinBank và BIDV đạt 6,5%/năm, Agribank thấp hơn đáng kể chỉ 5,3%/năm.

Cách đây vài ngày, Vietcombank, VietinBank và BIDV đồng loạt tăng mạnh lãi suất huy động thêm 1,2 điểm phần trăm. Như vậy, so với đầu quý IV/2025, Vietcombank tăng 1,8 điểm phần trăm, VietinBank và BIDV tăng 1,7 điểm phần trăm, Agribank tăng 0,5 điểm phần trăm.

Sau 3 tháng “án binh”, Big4 đồng loạt nâng lãi suất kỳ hạn dài lên tới 1,2 điểm phần trăm
Nguồn: Biểu lãi suất tiền gửi niêm yết của BIDV.

Với các kỳ hạn còn lại, nhóm "big 4" chưa có tín hiệu điều chỉnh lãi suất mới kể từ giữa tháng 1/2026 đến nay.

Ở kỳ hạn 1 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV cùng duy trì mức 2,1%/năm, Agribank nhỉnh hơn ở 2,6%/năm. So với đầu quý IV/2025, cả 4 ngân hàng đều tăng 0,5 điểm phần trăm.

Trong đó, riêng Agribank điều chỉnh hai lần tính từ quý IV/2025, với bước nhảy lần lượt là 0,3 điểm phần trăm (giữa tháng 12/2025) và 0,2 điểm phần trăm (cuối tháng 1/2026). Các ngân hàng còn lại mới tăng lãi suất 1 lần giữa tháng 12/2025, với mức tăng 0,5 điểm phần trăm.

Tại kỳ hạn 3 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV cùng niêm yết 2,4%/năm, Agribank ở mức 2,9%/năm. So với đầu quý IV/2025, toàn bộ nhóm này tăng 0,5 điểm phần trăm. Bước điều chỉnh tương tự kỳ hạn 1 tháng.

Ở kỳ hạn 6 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV cùng niêm yết ở mức 3,5%/năm, Agribank đạt 4%/năm. So với đầu quý IV/2025, Vietcombank tăng 0,6 điểm phần trăm, các ngân hàng còn lại tăng 0,5 điểm phần trăm. Trong đó, Agribank điều chỉnh 2 lần; còn lại các nhà băng mới tăng lãi suất 1 lần giữa tháng 12/2025.

Việc ba ngân hàng quốc doanh gồm: Vietcombank, VietinBank và BIDV đồng loạt nâng lãi suất huy động diễn ra trong bối cảnh mặt bằng lãi suất trên thị trường đang bước vào giai đoạn tăng tốc ngay sau Tết Nguyên đán. Từ đầu tháng 3 đến nay, khoảng 15 ngân hàng đã điều chỉnh tăng lãi suất, trong đó có nhiều tên tuổi lớn như MB, Techcombank, Sacombank...

"Big 4" đi sau, nhưng dẫn dắt mặt bằng lãi suất toàn hệ thống

Theo giới phân tích, khác với khối ngân hàng tư nhân thường điều chỉnh lãi suất theo từng nhịp nhỏ, các ngân hàng quốc doanh lại có xu hướng tăng mạnh và dứt khoát, với biên độ điều chỉnh lớn hơn. Nhóm "big 4" cũng thường đi sau, nhưng một khi đã tăng lãi suất thì xu hướng thị trường gần như đã được xác lập rõ ràng.

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm.

Nhóm “big 4” vốn chiếm tỷ trọng lớn cả về huy động lẫn tín dụng, đồng thời giữ vai trò then chốt trong cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ. Khi thanh khoản hệ thống không còn dồi dào và nhu cầu vốn gia tăng, đây cũng là nhóm chịu tác động sớm và rõ rệt nhất về áp lực vốn.

Cùng với đó, từ ngày 1/1/2026, theo quy định tại Thông tư 26/2022/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 22/2019/TT-NHNN ngày 15 tháng 11 năm 2019 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, toàn bộ tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước sẽ không còn được tính vào tổng nguồn vốn huy động khi xác định tỷ lệ LDR (cho vay/tổng huy động). Quy định này khiến các ngân hàng quốc doanh đối mặt với áp lực thanh khoản lớn hơn, buộc phải đẩy mạnh huy động vốn, qua đó kéo mặt bằng lãi suất cho vay đi lên.

Đến cuối năm 2025, bức tranh huy động tiếp tục cho thấy ưu thế áp đảo của các ngân hàng quốc doanh. Agribank và BIDV ghi nhận quy mô tiền gửi vượt 2 triệu tỷ đồng; xếp sau là VietinBank với gần 1,8 triệu tỷ đồng, trong khi Vietcombank đạt khoảng 1,67 triệu tỷ đồng. Nhóm "big 4" chiếm tỷ trọng tới 50% quy mô tiền gửi toàn hệ thống.

Khi nhóm “big 4” đồng loạt nâng lãi suất, mặt bằng lãi suất trên thị trường nhanh chóng bị đẩy lên, tạo hiệu ứng lan rộng và làm gia tăng sức nóng của cuộc đua huy động vốn trong toàn hệ thống. Diễn biến này không chỉ phản ánh áp lực thanh khoản, mà còn cho thấy các ngân hàng đang chủ động chuẩn bị nguồn vốn cho tăng trưởng tín dụng quý II/2026 tới đây.

Theo ghi nhận của Công ty TNHH Chứng khoán Yunta Việt Nam, lãi suất huy động trên thị trường 1 có xu hướng tăng mạnh hơn trong tuần vừa qua, trong khi lãi suất tiền gửi online cho kỳ hạn 12 tháng cao nhất khoảng 7,2% thì lãi suất tiền gửi tại quầy có thể lên mức 8 - 9%, tùy điều kiện. "Lãi suất huy động trên thị trường 1 còn chịu áp lực tăng và nhu cầu cân đối nguồn vốn trung hạn của các ngân hàng vẫn cao" - nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta nhận định.

Còn theo Công ty cổ phần Chứng khoán SSI, nhu cầu tín dụng gia tăng khiến mặt bằng lãi suất huy động đã tăng 120 - 180 điểm cơ bản trong quý IV/2025. Nhóm phân tích SSI nhận định, trong thời gian tới, biên lãi ròng (NIM) dự kiến sẽ chịu áp lực trở lại trong quý I/2026, do chi phí huy động tăng. Mặc dù lãi suất cho vay cũng có xu hướng tăng nhưng tác động lên NIM dự kiến hạn chế do hạn mức tín dụng trong quý I/2026 có sự hạn chế./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu

Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu

(TBTCO) - Sau làn sóng giảm lãi suất đồng loạt hồi đầu tháng 4 theo định hướng của Ngân hàng Nhà nước, việc hạ lãi suất dần chững lại khi phần lớn ngân hàng “án binh bất động”. Trong bối cảnh tín dụng tăng tốc trở lại, áp lực thanh khoản, lạm phát, tỷ giá hiện hữu, cùng lộ trình siết chuẩn theo Basel III khiến dư địa giảm lãi suất khó hơn.
Bộ Tài chính sửa đổi thủ tục cấp giấy phép doanh nghiệp bảo hiểm, mở chi nhánh ở nước ngoài

Bộ Tài chính sửa đổi thủ tục cấp giấy phép doanh nghiệp bảo hiểm, mở chi nhánh ở nước ngoài

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Quyết định số 1103/QĐ-BTC công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm. Quyết định sửa đổi hai thủ tục hành chính liên quan đến cấp giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, cùng thủ tục mở chi nhánh, văn phòng đại diện ở nước ngoài của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.
Tỷ giá USD hôm nay (13/5): USD tự do giảm nhẹ, DXY bật lên khi lạm phát Mỹ vượt dự báo

Tỷ giá USD hôm nay (13/5): USD tự do giảm nhẹ, DXY bật lên khi lạm phát Mỹ vượt dự báo

(TBTCO) - Sáng ngày 13/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước giữ ở mức 25.123 đồng sau hai phiên tăng liên tiếp, trong khi USD tự do giảm 20 đồng còn 26.330 - 26.360 VND/USD. DXY phục hồi ở mức 98,33 điểm khi lạm phát Mỹ tháng 4 cao hơn dự báo, cùng lúc, thỏa thuận ngừng bắn giữa Mỹ và Iran có nguy cơ trên bờ vực sụp đổ.
Giá vàng hôm nay ngày 13/5: Giá vàng trong nước quay đầu giảm

Giá vàng hôm nay ngày 13/5: Giá vàng trong nước quay đầu giảm

(TBTCO) - Giá vàng miếng trong nước tiếp tục tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lên vùng 162,5 - 165,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, vàng thế giới tiếp tục biến động trước dữ liệu lạm phát của Mỹ.
Ngành Thuế và Công an phối hợp xử lý nhiều vụ chuyển giá, trốn thuế, ngăn chặn thất thu ngân sách

Ngành Thuế và Công an phối hợp xử lý nhiều vụ chuyển giá, trốn thuế, ngăn chặn thất thu ngân sách

Giai đoạn 2022 - 2025, cơ quan Thuế đã tiếp nhận 22.235 đề nghị phối hợp từ cơ quan Công an, qua đó, góp phần phát hiện nhiều vụ trốn thuế, chuyển giá quy mô lớn và truy thu, truy hoàn, xử phạt hàng nghìn tỷ đồng. Theo Ban Kiểm tra thuế, việc tăng cường phối hợp giữa hai ngành là yếu tố then chốt nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý, kịp thời ngăn chặn hành vi vi phạm, hạn chế thất thu ngân sách.
SHB lãi trước thuế 4.656 tỷ đồng quý I, thu nhập dịch vụ tăng mạnh, tiếp tục tăng cường nền tảng vốn

SHB lãi trước thuế 4.656 tỷ đồng quý I, thu nhập dịch vụ tăng mạnh, tiếp tục tăng cường nền tảng vốn

(TBTCO) - Ngân hàng Sài Gòn – Hà Nội (SHB) công bố kết quả kinh doanh quý I/2026 với nhiều chỉ tiêu tăng trưởng tích cực. Trong đó, lợi nhuận trước thuế đạt 4.656 tỷ đồng, tăng gần 7% so với cùng kỳ và hoàn thành 26% kế hoạch năm.
Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

(TBTCO) - Cuối quý I/2026, nợ xấu nhóm 5 tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 12,7% cùng kỳ năm trước, tương ứng tăng gần 19.000 tỷ đồng, dù vậy, có 12/27 nhà băng ghi nhận xu hướng “lội ngược dòng”. Áp lực vẫn rất lớn khi quy mô nợ nhóm 5 lên tới 168.543 tỷ đồng, chiếm 57,7% tổng nợ xấu, thậm chí có ngân hàng ghi nhận 95% nợ xấu thuộc nhóm có khả năng mất vốn.
Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

(TBTCO) - Sáng ngày 12/5, tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng 5 đồng, lên 25.123 đồng, trong khi USD tự do giảm mạnh về quanh 26.350 - 26.380 VND/USD. Chỉ số DXY nhích lên 98,02 điểm khi nhà đầu tư lo ngại căng thẳng Trung Đông kéo dài. Thị trường dõi theo cuộc gặp giữa Tổng thống Trump và Chủ tịch Tập Cận Bình tại Bắc Kinh từ ngày 13 - 15/5, liên quan nhiều vấn đề chiến lược, trong đó có chiến sự tại Iran.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,200 16,500
Kim TT/AVPL 16,200 16,500
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,200 16,500
Nguyên Liệu 99.99 15,300 15,500
Nguyên Liệu 99.9 15,250 15,450
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,000 16,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,950 16,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,880 16,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,000 165,000
Hà Nội - PNJ 162,000 165,000
Đà Nẵng - PNJ 162,000 165,000
Miền Tây - PNJ 162,000 165,000
Tây Nguyên - PNJ 162,000 165,000
Đông Nam Bộ - PNJ 162,000 165,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,200 16,500
Miếng SJC Nghệ An 16,200 16,500
Miếng SJC Thái Bình 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,200 16,500
NL 99.90 15,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,100
Trang sức 99.9 15,690 16,390
Trang sức 99.99 15,700 16,400
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 162 16,502
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 162 16,503
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,618 1,648
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,618 1,649
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,598 1,633
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,183 161,683
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 113,737 122,637
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,305 111,205
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,873 99,773
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,463 95,363
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,353 68,253
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Cập nhật: 14/05/2026 08:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18551 18828 19403
CAD 18700 18978 19593
CHF 33044 33430 34065
CNY 0 3840 3931
EUR 30211 30485 31509
GBP 34813 35206 36136
HKD 0 3234 3436
JPY 160 164 170
KRW 0 16 18
NZD 0 15313 15898
SGD 20161 20444 20971
THB 729 793 846
USD (1,2) 26084 0 0
USD (5,10,20) 26125 0 0
USD (50,100) 26153 26173 26379
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,129 26,129 26,379
USD(1-2-5) 25,084 - -
USD(10-20) 25,084 - -
EUR 30,437 30,461 31,754
JPY 162.88 163.17 172.16
GBP 35,110 35,205 36,237
AUD 18,761 18,829 19,443
CAD 18,916 18,977 19,578
CHF 33,401 33,505 34,316
SGD 20,328 20,391 21,088
CNY - 3,814 3,940
HKD 3,306 3,316 3,437
KRW 16.34 17.04 18.45
THB 778.51 788.13 839.57
NZD 15,344 15,486 15,866
SEK - 2,792 2,876
DKK - 4,074 4,196
NOK - 2,821 2,911
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,284.16 - 7,058.83
TWD 756.46 - 911.22
SAR - 6,919.14 7,251.11
KWD - 83,906 88,827
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,119 26,139 26,379
EUR 30,336 30,458 31,641
GBP 35,008 35,149 36,159
HKD 3,295 3,308 3,423
CHF 33,154 33,287 34,228
JPY 163.02 163.67 171.09
AUD 18,697 18,772 19,364
SGD 20,344 20,426 21,011
THB 793 796 831
CAD 18,876 18,952 19,526
NZD 15,431 15,967
KRW 16.86 18.51
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26219 26219 26379
AUD 18729 18829 19752
CAD 18880 18980 19994
CHF 33286 33316 34894
CNY 3820.1 3845.1 3980.2
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30389 30419 32144
GBP 35108 35158 36911
HKD 0 3355 0
JPY 163.39 163.89 174.43
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15417 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20317 20447 21180
THB 0 759 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16200000 16200000 16500000
SBJ 14000000 14000000 16500000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,176 26,226 26,379
USD20 26,176 26,226 26,379
USD1 26,176 26,226 26,379
AUD 18,761 18,861 19,969
EUR 30,559 30,559 31,968
CAD 18,817 18,917 20,223
SGD 20,403 20,553 21,520
JPY 163.96 165.46 170.02
GBP 35,036 35,386 36,248
XAU 16,198,000 0 16,502,000
CNY 0 3,729 0
THB 0 794 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 14/05/2026 08:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80