Thiết kế chính sách tiền tệ hỗ trợ tăng trưởng GDP cao trước nhiều bất định

(TBTCO) - Trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều yếu tố “bất ổn, bất định”, áp lực lạm phát chi phí đẩy gia tăng, dư địa điều hành chính sách tiền tệ trong nước thu hẹp. Trong khi đó, kênh tín dụng vẫn là trục truyền dẫn chính, gánh nặng vốn trung - dài hạn và rủi ro thanh khoản thường trực. Bối cảnh này đặt ra yêu cầu thiết kế chính sách tiền tệ vừa hỗ trợ tăng trưởng cao, vừa giữ ổn định vĩ mô.
aa

Áp lực lớn để hoàn thành mục tiêu “kép”

Bối cảnh thế giới có thể cập nhật cô đọng nhất trong các cụm từ “bất ổn, bất định, khó lường”. Bất ổn địa chính trị và xung đột Trung Đông gia tăng đang đẩy giá dầu, giá cước vận tải, phí bảo hiểm lên cao, làm đứt gãy chuỗi cung ứng năng lượng, kích lạm phát chi phí đẩy và có thể đưa kinh tế thế giới bước vào chu kỳ mới: đình đốn và lạm phát.

Trong khi đó, kinh tế Việt Nam có mức độ hội nhập sâu với kinh tế thế giới. Việc gia tăng đầu tư công, mở rộng xuất khẩu vẫn là động lực chính cho tăng trưởng, các chỉ số vĩ mô cơ bản vẫn duy trì được sự ổn định. Tuy nhiên, giá xăng dầu, lãi suất, tỷ giá VND/USD đang gây thêm sức ép, cùng dư địa điều hành chính sách tiền tệ cũng đã tới hạn. CPI có xu hướng nhích lên.

Thiết kế chính sách tiền tệ hỗ trợ tăng trưởng GDP cao trước nhiều bất định
Nguồn: Tác giả tổng hợp.

Trong bối cảnh trên, Đảng và Chính phủ vẫn kiên định với mục tiêu tăng trưởng GDP 2 con số là một cam kết rất cao trước toàn dân. Điều này đồng nghĩa với việc các chính sách vĩ mô phải được thiết kế và điều hành theo hướng rất nghệ thuật, kích hoạt nội lực kinh tế trong nước và cộng hưởng với sức mạnh, chất lượng từ khối FDI để có thể đạt được mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên.

Việc theo đuổi mục tiêu kép - vừa tăng trưởng cao, vừa ổn định vĩ mô - trong một nền kinh tế mang tính “bank-based” dựa vào ngân hàng như Việt Nam, chắc chắn đặt ra những thách thức không nhỏ đối với Ngân hàng Nhà nước cũng như sự ổn định, bền vững của chính hệ thống ngân hàng - thực thể truyền dẫn chủ lực của chính sách tiền tệ.

Thách thức, rủi ro tích tụ khi tín dụng là trục chính truyền dẫn

Nền kinh tế quá phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng sẽ làm cho dư nợ “phình to” vượt các ngưỡng an toàn. Đến cuối năm 2025, dự nợ tín dụng của nền kinh tế đạt 18,4 tiệu tỷ đồng, tăng gấp 6 lần so cuối năm 2012. Tỷ lệ tín dụng/GDP ở mức trên 147%, vượt ngưỡng giới hạn an toàn mà các tổ chức quốc tế như IMF và WB khuyến cáo. Nguy cơ “over - expansion tín dụng” có thể xảy ra.

Rủi ro chu kỳ tín dụng kéo theo chu kỳ kinh tế ngắn lại. Trong nhiều năm, tốc độ tăng trưởng tín dụng thường xuyên cao hơn đáng kể so với tốc độ tăng trưởng GDP. Có những giai đoạn tín dụng tăng 15 - 17%/năm, như giai đoạn 2007 - 2011 GDP chỉ tăng 6 - 7%. Khi tín dụng tăng nhanh, dòng vốn thường chảy mạnh vào các lĩnh vực tài sản, góp phần hình thành “bong bóng” tài sản. Giai đoạn 2020 - 2022, giá bất động sản tại nhiều địa phương tăng 20 - 30%.

Áp lực tăng trưởng tín dụng và rủi ro nợ xấu

"Rủi ro nợ xấu, “đảo nợ” và bị che đậy tiềm ẩn những đổ vỡ có thể xảy ra bất kỳ lúc nào. Kinh doanh của ngân hàng thương mại không tránh khỏi nợ xấu. Tuy nhiên, sẽ gây sức ép lên chính sách tiền tệ khi phải tăng cung tín dụng cho tăng trưởng GDP, đặc biệt khi gánh nặng lo vốn trung, dài hạn cho nền kinh tế. Nếu phân bổ tín dụng lệch lạc, chảy vào kênh tài sản sẽ tạo ra “bong bóng” tài sản, khi “bong bóng” bất động sản “xì hơi” những rủi ro rất khó lường hết với hệ thống ngân hàng"

Ông Phạm Xuân Hòe

Tuy nhiên, khi chính sách tiền tệ đảo chiều và tín dụng bị siết chặt, như giai đoạn từ năm 2012, thị trường nhanh chóng suy giảm, doanh nghiệp thiếu thanh khoản, nợ xấu gia tăng. Chu kỳ “mở rộng - thắt chặt” này khiến nền kinh tế trở nên dễ tổn thương trước các cú sốc. Chu kỳ tín dụng ở Việt Nam thường gắn chặt chu kỳ kinh tế 10 năm mà chúng ta luôn quan ngại.

Cùng với đó, việc kích thích tăng trưởng GDP thông qua “bơm tín” dụng nếu không kiểm soát tốt về phân bổ hiệu quả vào khu vực sản xuất kinh doanh, cải thiện cơ cấu kinh tế sẽ làm cho hiệu quả sử dụng vốn giảm, chỉ số ICOR tăng và luôn cần nhiều vốn hơn để tạo ra tăng trưởng, khiến phân bổ nguồn lực tài chính kém hiệu quả.

Chính sách tiền tệ lấy tín dụng làm kênh dẫn trụ cột khiến hệ thống ngân hàng vẫn lo gánh nặng về vốn trung dài hạn và đưa rủi ro thanh khoản thành căn bệnh thường trực. Nguồn vốn của ngân hàng chủ yếu là tiền gửi ngắn hạn, với khoảng 80% có kỳ hạn dưới 12 tháng, trong khi tỷ trọng cho vay trung và dài hạn từng chiếm tới 47% tổng dư nợ.

Mất cân đối kỳ hạn lớn giữa nguồn vốn có kỳ hạn ngắn với bên dư nợ cho vay trung dài hạn có kỳ hạn dài trên 3 năm - ước tính khoảng gần 5 triệu tỷ đồng tính đến 30/9/2025 (lệch pha lớn kỳ hạn giữa tài sản có và tài sản nợ), đi liền là rủi ro lãi suất rất lớn với hệ thống ngân hàng thương mại.

Ngoài ra, các cú sốc từ bên ngoài, khi giá dầu tăng đột biến, lạm phát gia tăng khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) và ngân hàng trung ương các nước gần như sẽ cân nhắc tăng lãi suất, làm USD tăng giá, dòng vốn quốc tế đầy biến động đưa đến nhiều thách thức với Việt Nam như nhập khẩu lạm phát, áp lực về tỷ giá càng làm thu hẹp dư địa của chính sách tiền tệ.

Định hình chính sách tiền tệ giai đoạn mới

Việc thiết kế điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030 cần nhất quán những định hướng lớn và quan trọng.

Thứ nhất, cần đưa lộ trình rõ ràng cụ thể, minh bạch đến thị trường tài chính, đó là giảm dần phụ thuộc vốn vào kênh tín dụng, có đề án cụ thể cấu trúc lại và phát triển mạnh mẽ thị trường trái phiếu, nhất là trái phiếu xanh; gia tăng mạnh vai trò của thị trường cổ phiếu, thoái vốn tại những tập đoàn nhà nước đang làm ăn hiệu quả để chuyển dịch vốn nhà nước về Quỹ đầu tư của Chính phủ tập trung đầu tư vào những lĩnh vực công nghệ then chốt của nền kinh tế.

Thứ hai, cần cải thiện kênh truyền dẫn lãi suất, giảm can thiệp hành chính vào sử dụng công cụ này để thực sự mang “hơi thở” cung - cầu vốn của thị trường, có lộ trình tiến tới xóa bỏ hạn mức tín dụng. Ngược lại, có thể áp đặt hạn mức tín dụng sàn cho các tổ chức tín dụng phải có tỷ lệ cho vay tối thiểu 10% vào tín dụng xanh; 30% dư nợ cho vay với doanh nghiệp vừa và nhỏ; công nghiệp hỗ trợ.

Thứ ba, cần cải thiện và nâng cao về chất lượng phân bổ lực tín dụng vào lĩnh vực sản xuất, công nghệ; kiểm soát gia tăng tín dụng vào đầu cơ bất động sản. Đổi mới cách thức hỗ trợ lãi suất cho 5 chương trình tín dụng ưu tiên, tín dụng xanh, tín dụng theo định hướng thúc đẩy ESG của doanh nghiệp theo hướng minh bạch, dễ làm, dễ thực hiện, chủ yếu hậu kiểm, bình đẳng về quyền lợi giữa ngân hàng với khách hàng vay vốn và lợi ích của nhà nước và nền kinh tế.

Những chương trình này tuân thủ đúng nguyên tắc thị trường, tách bạch việc kinh doanh thương mại với việc làm ủy thác cho Chính phủ, tiến tới cơ chế đấu thầu nhiệm vụ này.

Thứ tư, cần nâng tầm giám sát rủi ro đối với hệ thống tài chính, trong đó đặc biệt lưu ý đến hai loại giám sát.

Một là, giám sát ổn định tài chính (giám sát vĩ mô), sự liên thông giữa các khu vực thị trường: tín dụng ngân hàng - trái phiếu - bất động sản và khu vực thị trường tài sản số, tiền số. Hai là, giám sát an toàn vi mô đến các định chế tài chính, đặc biệt là tập đoàn tài chính mà hệ sinh thái đa dạng, phức tạp do ngân hàng thương mại làm công ty mẹ có thể dễ gây đổ vỡ dây chuyền nhằm ngăn chặn khủng hoảng tài chính.

Việc triển khai các định hướng nêu trên cần sự phối hợp chặt chẽ trong thiết kế điều hành chính sách tiền tệ với chính sách tài khóa.

Ông Phạm Xuân Hòe - Tổng Thư ký Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam

Đọc thêm

Vietjet và Ngân hàng số Vikki trở thành đơn vị đồng hành cùng ASEAN United FC

Vietjet và Ngân hàng số Vikki trở thành đơn vị đồng hành cùng ASEAN United FC

(TBTCO) - Ngày 13/7/2026, Hãng hàng không Vietjet và Ngân hàng số Vikki chính thức được công bố lần lượt là Nhà bảo trợ vận chuyển hàng không và Ngân hàng chính thức tại Việt Nam của bốn giải đấu thuộc ASEAN United FC, gồm ASEAN Hyundai Cup™, ASEAN Club Championship Shopee Cup™, ASEAN Women's MSIG Cup™ và ASEAN U-23 Championship™. Thỏa thuận hợp tác được xúc tiến bởi SPORTFIVE, đối tác thương mại độc quyền của Liên đoàn Bóng đá Đông Nam Á (AFF).
MBV thông báo về việc thay đổi địa điểm các phòng giao dịch MBV tại Quảng Ngãi

MBV thông báo về việc thay đổi địa điểm các phòng giao dịch MBV tại Quảng Ngãi

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch trực thuộc Chi nhánh Quảng Ngãi.
Fitch Ratings lần đầu xếp hạng HDBank, ghi nhận nền tảng tài chính vững mạnh top đầu Việt Nam

Fitch Ratings lần đầu xếp hạng HDBank, ghi nhận nền tảng tài chính vững mạnh top đầu Việt Nam

(TBTCO) - Tổ chức xếp hạng quốc tế Fitch Ratings vừa công bố kết quả xếp hạng tín nhiệm lần đầu đối với Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank - HoSE: HDB). Các mức đánh giá dành cho HDBank thuộc nhóm cao nhất, phản ánh nền tảng tài chính vững mạnh, hiệu quả cao và bền vững.
Vietbank sắp chào sàn HOSE, tiếp tục tăng vốn để mở rộng dư địa tăng trưởng

Vietbank sắp chào sàn HOSE, tiếp tục tăng vốn để mở rộng dư địa tăng trưởng

(TBTCO) - Vietbank chính thức đưa gần 1,08 tỷ cổ phiếu lên giao dịch trên HOSE từ ngày 14/7/2026 sau khi rời UPCoM. Việc chuyển sàn diễn ra trong bối cảnh Vietbank tiếp tục tăng vốn nhằm mở rộng dư địa tăng trưởng, đẩy dư nợ tín dụng tăng hơn 23% trong năm nay, dù vẫn chịu áp lực khi nợ xấu gia tăng.
MoMoCare và dấu ấn đổi mới của Chubb Life Việt Nam trong hành trình bảo hiểm số

MoMoCare và dấu ấn đổi mới của Chubb Life Việt Nam trong hành trình bảo hiểm số

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) vừa được vinh danh tại hạng mục “Sáng kiến Đổi mới Sản phẩm Bảo hiểm của năm tại Việt Nam” (Insurance Product Innovation of the Year - Vietnam) trong khuôn khổ Giải thưởng Bảo hiểm châu Á 2026 (Insurance Asia Awards 2026) với sản phẩm MoMoCare | Bảo hiểm Sức khỏe+ (MoMoCare). Giải thưởng ghi nhận nỗ lực của Chubb Life Việt Nam trong việc đổi mới trải nghiệm bảo hiểm, giúp khách hàng tiếp cận giải pháp bảo vệ một cách đơn giản, nhanh chóng và thuận tiện hơn.
Hệ sinh thái ngân hàng tạo sức bật cho bancassurance

Hệ sinh thái ngân hàng tạo sức bật cho bancassurance

(TBTCO) - Kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng (bancassurance) tiếp tục là trụ cột tăng trưởng của nhiều doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ có ngân hàng mẹ hậu thuẫn. Tuy nhiên, để tận dụng dư địa và phát triển bền vững kênh này, doanh nghiệp cần đặt chất lượng tư vấn và tính minh bạch lên hàng đầu.
LPBank lập "cú đúp" tại HR Asia 2026: Khi chiến lược phát triển con người trở thành lợi thế cạnh tranh

LPBank lập "cú đúp" tại HR Asia 2026: Khi chiến lược phát triển con người trở thành lợi thế cạnh tranh

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) vừa được HR Asia Awards 2026 vinh danh ở hai hạng mục danh giá gồm “Nơi làm việc tốt nhất châu Á 2026” và “Doanh nghiệp Dẫn đầu công nghệ 2026”. Cú đúp giải thưởng ghi nhận những nỗ lực nổi bật của LPBank trong xây dựng văn hóa doanh nghiệp, phát triển nguồn nhân lực và thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện.
Giá vàng hôm nay ngày 12/7: Vàng miếng đi ngang, vàng nhẫn giảm tại một số doanh nghiệp

Giá vàng hôm nay ngày 12/7: Vàng miếng đi ngang, vàng nhẫn giảm tại một số doanh nghiệp

(TBTCO) - Giá vàng miếng trong nước hầu như đi ngang, phổ biến ở mức 149,9 triệu đồng/lượng chiều bán ra, trong khi một số thương hiệu điều chỉnh giảm giá vàng nhẫn.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,450 ▼90K 14,750 ▼90K
Kim TT/AVPL 14,300 14,650 ▼30K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 14,650 ▼30K
Nguyên Liệu 99.99 13,100 ▼100K 13,300 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 13,050 ▼100K 13,250 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,600 ▼100K 14,100 ▼100K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,550 ▼100K 14,050 ▼100K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,480 ▼100K 14,030 ▼100K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
Hà Nội - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
Đà Nẵng - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
Miền Tây - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
Tây Nguyên - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,450 ▼90K 14,750 ▼90K
Miếng SJC Nghệ An 14,450 ▼90K 14,750 ▼90K
Miếng SJC Thái Bình 14,450 ▼90K 14,750 ▼90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,320 ▼30K 14,670 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,320 ▼30K 14,670 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,320 ▼30K 14,670 ▼30K
NL 99.90 12,900 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950 ▼50K
Trang sức 99.9 13,860 ▼30K 14,560 ▼30K
Trang sức 99.99 13,870 ▼30K 14,570 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,445 ▼9K 14,752 ▼90K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,445 ▼9K 14,753 ▼90K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,435 ▼9K 147 ▼1332K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,435 ▼9K 1,471 ▲1323K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 141 ▼1278K 145 ▼1314K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,564 ▼891K 143,564 ▼891K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▼675K 108,911 ▼675K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,896 ▼80676K 9,876 ▼89496K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,809 ▼549K 88,609 ▼549K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,893 ▼525K 84,693 ▼525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,821 ▼375K 60,621 ▼375K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Cập nhật: 14/07/2026 16:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17706 17979 18555
CAD 18108 18383 18999
CHF 31678 32058 32700
CNY 0 3833 3926
EUR 29308 29528 30603
GBP 34326 34717 35648
HKD 0 3220 3422
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14915 15505
SGD 19773 20054 20626
THB 699 762 815
USD (1,2) 25996 0 0
USD (5,10,20) 26037 0 0
USD (50,100) 26066 26080 26440
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,070 26,070 26,450
USD(1-2-5) 25,028 - -
USD(10-20) 25,028 - -
EUR 29,402 29,426 30,831
JPY 157.36 157.64 167.14
GBP 34,452 34,545 35,729
AUD 17,873 17,938 18,613
CAD 18,236 18,295 18,966
CHF 31,864 31,963 32,900
SGD 19,883 19,945 20,729
CNY - 3,799 3,944
HKD 3,283 3,293 3,430
KRW 16.21 16.91 18.4
THB 747.41 756.64 809.55
NZD 14,871 15,009 15,455
SEK - 2,660 2,753
DKK - 3,933 4,072
NOK - 2,643 2,736
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,016.33 - 6,791.42
TWD 736.79 - 892.51
SAR - 6,873.09 7,239.02
KWD - 83,037 88,346
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,050 26,070 26,450
EUR 29,346 29,464 30,654
GBP 34,445 34,583 35,612
HKD 3,282 3,295 3,412
CHF 31,699 31,826 32,746
JPY 157.68 158.31 166.21
AUD 17,822 17,894 18,487
SGD 19,941 20,021 20,608
THB 764 767 803
CAD 18,230 18,303 18,876
NZD 14,926 15,469
KRW 16.82 18.61
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26070 26070 26430
AUD 17849 17949 18872
CAD 18224 18324 19339
CHF 31848 31878 33452
CNY 3812.4 3837.4 3972.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29446 29476 31199
GBP 34570 34620 36373
HKD 0 3355 0
JPY 158.21 158.71 169.22
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15001 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19914 20044 20772
THB 0 728.1 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14450000 14450000 14750000
SBJ 13000000 13000000 14750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,085 26,135 26,450
USD20 26,085 26,135 26,450
USD1 26,085 26,135 26,450
AUD 17,921 18,021 19,128
EUR 29,268 29,368 31,026
CAD 18,209 18,309 19,612
SGD 19,999 20,149 20,930
JPY 158.72 160.22 165.75
GBP 34,474 34,624 35,686
XAU 14,448,000 0 14,752,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 763 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 14/07/2026 16:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80