Thiết kế chính sách tiền tệ hỗ trợ tăng trưởng GDP cao trước nhiều bất định

(TBTCO) - Trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều yếu tố “bất ổn, bất định”, áp lực lạm phát chi phí đẩy gia tăng, dư địa điều hành chính sách tiền tệ trong nước thu hẹp. Trong khi đó, kênh tín dụng vẫn là trục truyền dẫn chính, gánh nặng vốn trung - dài hạn và rủi ro thanh khoản thường trực. Bối cảnh này đặt ra yêu cầu thiết kế chính sách tiền tệ vừa hỗ trợ tăng trưởng cao, vừa giữ ổn định vĩ mô.
aa

Áp lực lớn để hoàn thành mục tiêu “kép”

Bối cảnh thế giới có thể cập nhật cô đọng nhất trong các cụm từ “bất ổn, bất định, khó lường”. Bất ổn địa chính trị và xung đột Trung Đông gia tăng đang đẩy giá dầu, giá cước vận tải, phí bảo hiểm lên cao, làm đứt gãy chuỗi cung ứng năng lượng, kích lạm phát chi phí đẩy và có thể đưa kinh tế thế giới bước vào chu kỳ mới: đình đốn và lạm phát.

Trong khi đó, kinh tế Việt Nam có mức độ hội nhập sâu với kinh tế thế giới. Việc gia tăng đầu tư công, mở rộng xuất khẩu vẫn là động lực chính cho tăng trưởng, các chỉ số vĩ mô cơ bản vẫn duy trì được sự ổn định. Tuy nhiên, giá xăng dầu, lãi suất, tỷ giá VND/USD đang gây thêm sức ép, cùng dư địa điều hành chính sách tiền tệ cũng đã tới hạn. CPI có xu hướng nhích lên.

Thiết kế chính sách tiền tệ hỗ trợ tăng trưởng GDP cao trước nhiều bất định
Nguồn: Tác giả tổng hợp.

Trong bối cảnh trên, Đảng và Chính phủ vẫn kiên định với mục tiêu tăng trưởng GDP 2 con số là một cam kết rất cao trước toàn dân. Điều này đồng nghĩa với việc các chính sách vĩ mô phải được thiết kế và điều hành theo hướng rất nghệ thuật, kích hoạt nội lực kinh tế trong nước và cộng hưởng với sức mạnh, chất lượng từ khối FDI để có thể đạt được mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên.

Việc theo đuổi mục tiêu kép - vừa tăng trưởng cao, vừa ổn định vĩ mô - trong một nền kinh tế mang tính “bank-based” dựa vào ngân hàng như Việt Nam, chắc chắn đặt ra những thách thức không nhỏ đối với Ngân hàng Nhà nước cũng như sự ổn định, bền vững của chính hệ thống ngân hàng - thực thể truyền dẫn chủ lực của chính sách tiền tệ.

Thách thức, rủi ro tích tụ khi tín dụng là trục chính truyền dẫn

Nền kinh tế quá phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng sẽ làm cho dư nợ “phình to” vượt các ngưỡng an toàn. Đến cuối năm 2025, dự nợ tín dụng của nền kinh tế đạt 18,4 tiệu tỷ đồng, tăng gấp 6 lần so cuối năm 2012. Tỷ lệ tín dụng/GDP ở mức trên 147%, vượt ngưỡng giới hạn an toàn mà các tổ chức quốc tế như IMF và WB khuyến cáo. Nguy cơ “over - expansion tín dụng” có thể xảy ra.

Rủi ro chu kỳ tín dụng kéo theo chu kỳ kinh tế ngắn lại. Trong nhiều năm, tốc độ tăng trưởng tín dụng thường xuyên cao hơn đáng kể so với tốc độ tăng trưởng GDP. Có những giai đoạn tín dụng tăng 15 - 17%/năm, như giai đoạn 2007 - 2011 GDP chỉ tăng 6 - 7%. Khi tín dụng tăng nhanh, dòng vốn thường chảy mạnh vào các lĩnh vực tài sản, góp phần hình thành “bong bóng” tài sản. Giai đoạn 2020 - 2022, giá bất động sản tại nhiều địa phương tăng 20 - 30%.

Áp lực tăng trưởng tín dụng và rủi ro nợ xấu

"Rủi ro nợ xấu, “đảo nợ” và bị che đậy tiềm ẩn những đổ vỡ có thể xảy ra bất kỳ lúc nào. Kinh doanh của ngân hàng thương mại không tránh khỏi nợ xấu. Tuy nhiên, sẽ gây sức ép lên chính sách tiền tệ khi phải tăng cung tín dụng cho tăng trưởng GDP, đặc biệt khi gánh nặng lo vốn trung, dài hạn cho nền kinh tế. Nếu phân bổ tín dụng lệch lạc, chảy vào kênh tài sản sẽ tạo ra “bong bóng” tài sản, khi “bong bóng” bất động sản “xì hơi” những rủi ro rất khó lường hết với hệ thống ngân hàng"

Ông Phạm Xuân Hòe

Tuy nhiên, khi chính sách tiền tệ đảo chiều và tín dụng bị siết chặt, như giai đoạn từ năm 2012, thị trường nhanh chóng suy giảm, doanh nghiệp thiếu thanh khoản, nợ xấu gia tăng. Chu kỳ “mở rộng - thắt chặt” này khiến nền kinh tế trở nên dễ tổn thương trước các cú sốc. Chu kỳ tín dụng ở Việt Nam thường gắn chặt chu kỳ kinh tế 10 năm mà chúng ta luôn quan ngại.

Cùng với đó, việc kích thích tăng trưởng GDP thông qua “bơm tín” dụng nếu không kiểm soát tốt về phân bổ hiệu quả vào khu vực sản xuất kinh doanh, cải thiện cơ cấu kinh tế sẽ làm cho hiệu quả sử dụng vốn giảm, chỉ số ICOR tăng và luôn cần nhiều vốn hơn để tạo ra tăng trưởng, khiến phân bổ nguồn lực tài chính kém hiệu quả.

Chính sách tiền tệ lấy tín dụng làm kênh dẫn trụ cột khiến hệ thống ngân hàng vẫn lo gánh nặng về vốn trung dài hạn và đưa rủi ro thanh khoản thành căn bệnh thường trực. Nguồn vốn của ngân hàng chủ yếu là tiền gửi ngắn hạn, với khoảng 80% có kỳ hạn dưới 12 tháng, trong khi tỷ trọng cho vay trung và dài hạn từng chiếm tới 47% tổng dư nợ.

Mất cân đối kỳ hạn lớn giữa nguồn vốn có kỳ hạn ngắn với bên dư nợ cho vay trung dài hạn có kỳ hạn dài trên 3 năm - ước tính khoảng gần 5 triệu tỷ đồng tính đến 30/9/2025 (lệch pha lớn kỳ hạn giữa tài sản có và tài sản nợ), đi liền là rủi ro lãi suất rất lớn với hệ thống ngân hàng thương mại.

Ngoài ra, các cú sốc từ bên ngoài, khi giá dầu tăng đột biến, lạm phát gia tăng khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) và ngân hàng trung ương các nước gần như sẽ cân nhắc tăng lãi suất, làm USD tăng giá, dòng vốn quốc tế đầy biến động đưa đến nhiều thách thức với Việt Nam như nhập khẩu lạm phát, áp lực về tỷ giá càng làm thu hẹp dư địa của chính sách tiền tệ.

Định hình chính sách tiền tệ giai đoạn mới

Việc thiết kế điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030 cần nhất quán những định hướng lớn và quan trọng.

Thứ nhất, cần đưa lộ trình rõ ràng cụ thể, minh bạch đến thị trường tài chính, đó là giảm dần phụ thuộc vốn vào kênh tín dụng, có đề án cụ thể cấu trúc lại và phát triển mạnh mẽ thị trường trái phiếu, nhất là trái phiếu xanh; gia tăng mạnh vai trò của thị trường cổ phiếu, thoái vốn tại những tập đoàn nhà nước đang làm ăn hiệu quả để chuyển dịch vốn nhà nước về Quỹ đầu tư của Chính phủ tập trung đầu tư vào những lĩnh vực công nghệ then chốt của nền kinh tế.

Thứ hai, cần cải thiện kênh truyền dẫn lãi suất, giảm can thiệp hành chính vào sử dụng công cụ này để thực sự mang “hơi thở” cung - cầu vốn của thị trường, có lộ trình tiến tới xóa bỏ hạn mức tín dụng. Ngược lại, có thể áp đặt hạn mức tín dụng sàn cho các tổ chức tín dụng phải có tỷ lệ cho vay tối thiểu 10% vào tín dụng xanh; 30% dư nợ cho vay với doanh nghiệp vừa và nhỏ; công nghiệp hỗ trợ.

Thứ ba, cần cải thiện và nâng cao về chất lượng phân bổ lực tín dụng vào lĩnh vực sản xuất, công nghệ; kiểm soát gia tăng tín dụng vào đầu cơ bất động sản. Đổi mới cách thức hỗ trợ lãi suất cho 5 chương trình tín dụng ưu tiên, tín dụng xanh, tín dụng theo định hướng thúc đẩy ESG của doanh nghiệp theo hướng minh bạch, dễ làm, dễ thực hiện, chủ yếu hậu kiểm, bình đẳng về quyền lợi giữa ngân hàng với khách hàng vay vốn và lợi ích của nhà nước và nền kinh tế.

Những chương trình này tuân thủ đúng nguyên tắc thị trường, tách bạch việc kinh doanh thương mại với việc làm ủy thác cho Chính phủ, tiến tới cơ chế đấu thầu nhiệm vụ này.

Thứ tư, cần nâng tầm giám sát rủi ro đối với hệ thống tài chính, trong đó đặc biệt lưu ý đến hai loại giám sát.

Một là, giám sát ổn định tài chính (giám sát vĩ mô), sự liên thông giữa các khu vực thị trường: tín dụng ngân hàng - trái phiếu - bất động sản và khu vực thị trường tài sản số, tiền số. Hai là, giám sát an toàn vi mô đến các định chế tài chính, đặc biệt là tập đoàn tài chính mà hệ sinh thái đa dạng, phức tạp do ngân hàng thương mại làm công ty mẹ có thể dễ gây đổ vỡ dây chuyền nhằm ngăn chặn khủng hoảng tài chính.

Việc triển khai các định hướng nêu trên cần sự phối hợp chặt chẽ trong thiết kế điều hành chính sách tiền tệ với chính sách tài khóa.

Ông Phạm Xuân Hòe - Tổng Thư ký Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 1/9: Vàng thế giới nhích tăng, vàng nhẫn diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 1/9: Vàng thế giới nhích tăng, vàng nhẫn diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch ở mức 4.456 USD/ounce, tăng nhẹ so với sáng qua. Trong nước, giá vàng nhẫn biến động trái chiều, với mức điều chỉnh từ 300.000 - 600.000 đồng/lượng.
Vốn đầu tư vượt 1 triệu tỷ đồng giữ nhịp sinh lời, vững cam kết bảo hiểm

Vốn đầu tư vượt 1 triệu tỷ đồng giữ nhịp sinh lời, vững cam kết bảo hiểm

(TBTCO) - Dòng vốn đầu tư của ngành Bảo hiểm đã vượt 1 triệu tỷ đồng và chứng kiến sự chuyển dịch rõ nét trong cơ cấu danh mục. Dù mang “khẩu vị” đầu tư khác nhau, các doanh nghiệp bảo hiểm vẫn kiên định bài toán cân bằng giữa hiệu quả sinh lời, an toàn tài chính và bảo đảm quyền lợi khách hàng.
Giá vàng hôm nay ngày 30/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 30/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về 4.453 USD/ounce, giảm khoảng 24 USD trong 24 giờ qua. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn cũng đồng loạt giảm giá.
Tỷ giá USD hôm nay (29/8): USD trong nước ít biến động, DXY áp sát 100 điểm sau thông điệp “diều hâu” từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (29/8): USD trong nước ít biến động, DXY áp sát 100 điểm sau thông điệp “diều hâu” từ Fed

(TBTCO) - Sáng 29/8, tỷ giá USD trong nước khép lại tuần với biên độ biến động hẹp, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng lên 25.610 đồng/USD, trong khi tỷ giá USD tại ngân hàng và trên thị trường tự do giảm nhẹ. Chỉ số DXY tăng 0,55% lên 99,67 điểm sau thông điệp “diều hâu” của Chủ tịch Fed tại Hội nghị Jackson Hole, củng cố kỳ vọng Mỹ có thể tăng lãi suất vào cuối năm.
Giá vàng hôm nay ngày 29/8: Vàng thế giới lao dốc, vàng trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 29/8: Vàng thế giới lao dốc, vàng trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 155 USD/ounce trong 24 giờ qua. Trong nước, vàng miếng tăng nhẹ, trong khi giá vàng nhẫn phân hóa giữa các thương hiệu.
Thị trường tiền tệ tuần 24 - 28/8: USD biến động hẹp, lãi suất qua đêm rơi về 1% sau nhịp bơm mạnh thanh khoản

Thị trường tiền tệ tuần 24 - 28/8: USD biến động hẹp, lãi suất qua đêm rơi về 1% sau nhịp bơm mạnh thanh khoản

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 24 - 28/8, doanh số vay mượn liên ngân hàng biến động mạnh, trong khi Ngân hàng Nhà nước bơm ròng gần 54.900 tỷ đồng qua kênh OMO, giúp lãi suất qua đêm giảm sâu còn 1,19%/năm, dù lãi suất các kỳ hạn dài vẫn neo ở mức cao. Trên thị trường ngoại hối, tỷ giá USD biến động hẹp, USD tự do giảm tuần thứ 9 liên tiếp, cung - cầu ngoại hối ngắn hạn thuận lợi.
“Kho” đầu tư gần 370.000 tỷ đồng giúp doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết sinh sôi lợi nhuận

“Kho” đầu tư gần 370.000 tỷ đồng giúp doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết sinh sôi lợi nhuận

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, “kho” đầu tư hơn 367.000 tỷ đồng của 13 doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết mang về 7.930,4 tỷ đồng lợi nhuận tài chính, tăng 14,6%. "Ông lớn" Bảo Việt chiếm ưu thế áp đảo, trong khi hiệu quả sinh lời giữa các doanh nghiệp phân hóa rõ.
Bảo hiểm Bảo Việt đứng đầu 26 doanh nghiệp bảo hiểm uy tín trong lĩnh vực hàng hải

Bảo hiểm Bảo Việt đứng đầu 26 doanh nghiệp bảo hiểm uy tín trong lĩnh vực hàng hải

(TBTCO) - Đứng đầu danh sách 26 tổ chức bảo hiểm có uy tín trong lĩnh vực hàng hải do Bộ Tài chính công bố, Bảo hiểm Bảo Việt tiếp tục khẳng định nền tảng tài chính vững chắc, năng lực chuyên môn và kinh nghiệm quản trị những rủi ro có quy mô lớn, tính chất phức tạp.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,700 148,700
Hà Nội - PNJ 145,700 148,700
Đà Nẵng - PNJ 145,700 148,700
Miền Tây - PNJ 145,700 148,700
Tây Nguyên - PNJ 145,700 148,700
Đông Nam Bộ - PNJ 145,700 148,700
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,570 14,870
Miếng SJC Nghệ An 14,570 14,870
Miếng SJC Thái Bình 14,570 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,530 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,530 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,530 14,870
NL 99.99 13,800
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,700
Trang sức 99.9 14,180 14,780
Trang sức 99.99 14,190 14,790
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,457 14,872
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,457 14,873
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,452 1,482
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,452 1,483
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,427 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,743 145,743
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,761 110,561
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,456 100,256
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,151 89,951
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,176 85,976
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,739 61,539
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Cập nhật: 02/09/2026 13:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18131 18406 19000
CAD 18218 18494 19126
CHF 31569 31949 32610
CNY 0 3834 3932
EUR 29570 29792 30889
GBP 34482 34874 35831
HKD 0 3195 3399
JPY 156 159 167
KRW 0 17 19
NZD 0 15099 15701
SGD 19907 20189 20780
THB 702 765 819
USD (1,2) 25813 0 0
USD (5,10,20) 25853 0 0
USD (50,100) 25881 25895 26275
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,890 25,890 26,270
USD(1-2-5) 24,855 - -
USD(10-20) 24,855 - -
EUR 29,775 29,799 31,209
JPY 159.07 159.36 169
GBP 34,806 34,900 36,105
AUD 18,430 18,497 19,195
CAD 18,477 18,536 19,220
CHF 31,997 32,097 33,041
SGD 20,101 20,164 20,953
CNY - 3,805 3,951
HKD 3,259 3,269 3,406
KRW 17.5 18.25 19.86
THB 754.4 763.72 817.96
NZD 15,205 15,346 15,797
SEK - 2,695 2,790
DKK - 3,994 4,135
NOK - 2,749 2,850
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,047.4 - 6,827.28
TWD 744.85 - 902.38
SAR - 6,827.09 7,191.1
KWD - 82,706 88,002
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,860 25,890 26,270
EUR 29,827 29,947 31,143
GBP 34,830 34,970 36,005
HKD 3,258 3,271 3,388
CHF 31,884 32,012 32,947
JPY 159.62 160.26 168.24
AUD 18,424 18,498 19,096
SGD 20,166 20,247 20,845
THB 772 775 812
CAD 18,490 18,564 19,158
NZD 15,283 15,831
KRW 18.09 20.07
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25896 25896 26250
AUD 18401 18501 19423
CAD 18453 18553 19567
CHF 32005 32035 33625
CNY 3816.1 3841.1 3976.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29872 29902 31627
GBP 34879 34929 36692
HKD 0 3330 0
JPY 159.62 160.12 170.66
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15297 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20117 20247 20971
THB 0 735.6 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14720000 14720000 15020000
SBJ 13000000 13000000 15020000
Cập nhật: 02/09/2026 13:30
Ngân hàng