Đại hội đồng cổ đông OCB: Hướng mốc lãi 7.000 tỷ đồng, đẩy mạnh nguồn thu ngoài lãi tăng 80% quý I/2026

Ánh Tuyết
(TBTCO) - OCB đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế năm 2026 đạt 6.960 tỷ đồng, tăng 39%, trong bối cảnh tín dụng bị kiểm soát và kinh tế còn nhiều biến động. Ngân hàng tiếp tục coi tín dụng là trụ cột, tiếp tục mở rộng các lĩnh vực mới; đồng thời, đẩy mạnh nguồn thu ngoài lãi, tăng trên 80% ngay quý I/2026. Nhiều giải pháp được triển khai, đưa cổ phiếu OCB định giá về mức hợp lý, phản ánh đúng giá trị.
aa
OCB tăng vốn điều lệ lên hơn 26.000 tỷ đồng qua phát hành cổ phiếu Lợi nhuận trước thuế năm 2025 của OCB đạt 5.046 tỷ đồng, tăng gần 26% OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Mục tiêu lãi gần 7.000 tỷ đồng, cổ đông “soi” động lực tăng trưởng 39%

Ngày 15/4, Ngân hàng TMCP Phương Đông (OCB - mã Ck: OCB) tổ chức Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) thường niên 2026 và thông qua nhiều nội dung đáng chú ý về kế hoạch kinh doanh, phân phối lợi nhuận, tăng vốn điều lệ và bầu bổ sung 1 thành viên Hội đồng quản trị độc lập nhiệm kỳ 2026 - 2030.

Về kế hoạch kinh doanh, năm 2026, OCB đặt mục tiêu đạt 354.214 tỷ đồng tổng tài sản, tăng 10% so với đầu năm. Tổng huy động thị trường 1 (gồm tiền gửi khách hàng, giấy tờ có giá và vốn tài trợ - ủy thác) đạt 251.919 tỷ đồng, tăng 14%; dư nợ thị trường 1 (gồm cho vay khách hàng, trái phiếu doanh nghiệp và mua nợ) đạt 235.875 tỷ đồng, tăng 15%. Tỷ lệ nợ xấu kiểm soát dưới 3%.

Lợi nhuận trước thuế năm 2026 hướng đến mục tiêu đạt 6.960 tỷ đồng, tăng 39% so với kết quả năm 2025. Các chỉ số an toàn luôn đảm bảo tuân thủ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.

Đại hội đồng cổ đông OCB 2026:
Ngân hàng OCB tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026.

Tại đại hội, cổ đông OCB quan tâm về cơ sở, giải pháp giúp lợi nhuận trước thuế 2026 tăng trưởng 39%, trọng tâm là cơ cấu đóng góp lợi nhuận, đặc biệt tỷ trọng thu nhập lãi thuần so với nguồn ngoài lãi như dịch vụ, ngoại hối hay các khoản bất thường... Bên cạnh đó, định giá cổ phiếu dưới giá trị sổ sách (P/B<1), cổ đông yêu cầu làm rõ giải pháp cải thiện niềm tin thị trường và nâng định giá.

Nhiều vấn đề khác được đặt ra về tầm nhìn dài hạn và khả năng đổi mới mô hình kinh doanh, trong bối cảnh tín dụng bị kiểm soát và lãi suất duy trì ở mức cao; chiến lược chuyển đổi số, ngân hàng xanh và mục tiêu vị thế trong 5 năm tới...

Trả lời cổ đông, ông Phạm Hồng Hải - Tổng Giám đốc OCB nêu rõ, tín dụng vẫn kỳ vọng vẫn đóng góp quan trọng cho OCB. Bên cạnh các lĩnh vực thế mạnh truyền thống của OCB, ngân hàng sẽ tiếp tục mở rộng các lĩnh vực mới như: nông nghiệp, dịch vụ, công nghệ... Đây là các lĩnh vực có dư địa, lợi thế phát triển, tăng trưởng hơn nữa trong 2026.

Tổng Giám đốc OCB Phạm Hồng Hải nhấn mạnh, hoạt động thu phí dịch vụ sẽ được đẩy mạnh hơn nữa, đem lại nguồn thu bền vững và ổn định cho ngân hàng. Đặc biệt, với trần tín dụng thận trọng năm nay, nhiều khả năng OCB sẽ không đáp ứng được tất cả các nhu cầu tín dụng của khách hàng. Khi đó, ngân hàng sẽ đồng hành cùng khách hàng với các giải pháp khác như dịch vụ tư vấn tài chính, tư vấn phát hành trái phiếu, quản trị dòng tiền...

Tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ, FDI với đà tăng trưởng trong 2025 cũng tiếp tục đẩy mạnh trong thời gian tới. Bán lẻ cũng đã có nhiều dấu hiệu chuyển biến tích cực.

Bên cạnh đó, ngân hàng định hướng đẩy mạnh cho vay các sản phẩm có lợi suất cao đi kèm rủi ro có thể chấp nhận được, cơ cấu lại tài sản sinh lãi theo hướng tập trung sản phẩm có lãi suất cao, nhờ đó cải thiện về NIM (biên lãi ròng), cũng như quy mô.

Theo Tổng Giám đốc OCB, mục tiêu lợi nhuận trước thuế năm 2026 tăng 39% là khá thách thức trong bối cảnh kinh tế còn nhiều biến động. Tuy nhiên, với nền tảng đã xây dựng từ 2024 - 2025, lãnh đạo OCB tự tin vẫn có dư địa để đạt được.

Đáng chú ý, tăng trưởng sẽ không chỉ phụ thuộc vào tín dụng mà tỷ trọng thu nhập ngoài lãi sẽ tiếp tục gia tăng. Tỷ lệ này đã tăng từ khoảng 14% năm 2024 lên 20% năm 2025 và còn nhiều tiềm năng để cải thiện.

Thu nhập ngoài lãi năm 2025 tăng khoảng 60% so với năm trước, trong đó, mảng ngoại hối tăng trên 100%, dịch vụ thẻ tăng hơn 30%, cùng với nguồn thu từ phí tài khoản và quản lý tài khoản đều cải thiện đáng kể. Đà tăng này tiếp tục được duy trì trong quý I/2026, khi thu nhập ngoài lãi tăng trên 80%, cho thấy chiến lược đa dạng hóa nguồn thu đang phát huy hiệu quả.

Kiểm soát nợ xấu, tăng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Về chất lượng tài sản, theo Tổng Giám đốc OCB Phạm Hồng Hải, đặc thù của nợ xấu bán lẻ là thường có tài sản bảo đảm, song trong bối cảnh thị trường bất động sản suy giảm, việc xử lý tài sản gặp nhiều khó khăn, kéo dài thời gian thu hồi và ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh.

Về kế hoạch, ngân hàng đặt mục tiêu kiểm soát tỷ lệ nợ xấu dưới 3% nhằm đảm bảo an toàn theo thông lệ. Dù năm trước tỷ lệ này ở mức khoảng 2,3%, trong bối cảnh kinh tế còn nhiều biến động, ngân hàng vẫn lựa chọn cách tiếp cận thận trọng hơn với ngưỡng dưới 3%.

Đại hội đồng cổ đông OCB 2026:
Đồ họa: Ánh Tuyết.

Ông Trịnh Văn Tuấn - Chủ tịch Hội đồng quản trị OCB cũng khẳng định, ngân hàng không hạ chuẩn tín dụng, các tiêu chí cho vay hiện vẫn được duy trì chặt chẽ. Theo ông Tuấn, nợ xấu chủ yếu tập trung ở khách hàng bán lẻ, có tài sản đảm bảo, đỉnh điểm là năm 2024, trong khi tỷ lệ nợ xấu khách hàng doanh nghiệp rất thấp. Trong năm 2025, hoạt động kiểm soát và thu đòi nợ xấu có mức cải thiện đáng kể, thể hiện qua mức thu hồi tăng trưởng nợ xấu tăng gấp đôi, từ đó, làm cơ sở cho OCB đặt kế hoạch cao trong năm 2026.

Theo lãnh đạo OCB, việc cổ phiếu đang giao dịch dưới mặt bằng chung, khi nhiều ngân hàng có P/B khoảng 1,3 - 1,5 lần, chủ yếu phản ánh yếu tố thị trường. Tuy nhiên, ngân hàng đã nhận diện rõ vấn đề và sẽ triển khai các giải pháp nhằm đưa định giá về mức hợp lý hơn, ít nhất tiệm cận trung bình ngành.

"Trước khi niêm yết năm 2021 ROE luôn đạt trên 20% - 25%, tuy sau đó thấp hơn. Vì vậy, OCB đặt mục tiêu sẽ quay lại động lực như cũ, ROE trên 15% khi chu kỳ kinh doanh của OCB đã giải quyết được các bất cập trong năm vừa rồi. Tôi tin là giá cổ phiếu sẽ tăng và được đánh giá đúng" - lãnh đạo OCB kỳ vọng.

Năm 2026, OCB dự kiến phát hành 399,46 triệu cổ phiếu (tỷ lệ 15%) để tăng vốn cổ phần từ nguồn vốn chủ sở hữu cho cổ đông hiện hữu. Với mệnh giá 10.000 đồng/cổ phiếu, tổng giá trị dự kiến phát hành theo mệnh giá là gần 3.995 tỷ đồng. Nếu phát hành thành công, vốn điều lệ của OCB sẽ tăng từ mức 26.631 tỷ đồng lên 30.625 tỷ đồng.

Với kế hoạch tăng trưởng quy mô kinh doanh liên tục hằng năm, việc tăng vốn điều lệ là cần thiết giúp ngân hàng nâng cao năng lực tài chính.

Số tiền thu được từ tăng vốn, ngân hàng sẽ dùng để bổ sung nguồn vốn kinh doanh, đầu tư, cho vay, tiếp tục đẩy mạnh hệ thống công nghệ phục vụ cho việc hiện đại hóa ngân hàng, hỗ trợ cho việc phát triển sản phẩm mới, tăng trải nghiệm dịch vụ cho khách hàng. Từ đó, gia tăng năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

Thời gian thực hiện các đợt tăng vốn sẽ do Hội đồng Quản trị quyết định sau khi được cơ quan chức năng cho phép. Dự kiến sau khi tăng vốn, Aozora bank, Ltd. vẫn là cổ đông lớn duy nhất của OCB với tỷ lệ sở hữu 15%, không thay đổi so với các năm trước.

Đại hội cũng đã tiến hành bầu bổ sung ông Lê Xuân Nghĩa làm Thành viên độc lập Hội đồng Quản trị nhiệm kỳ 2025 - 2030 và nhận được sự đồng thuận, nhất trí cao của cổ đông tham dự. Như vậy, số lượng thành viên Hội đồng quản trị nhiệm kỳ 2025 - 2030 là 8 thành viên, trong đó có 2 thành viên độc lập, đáp ứng quy định hiện hành./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Mastercard thúc đẩy thương mại ứng dụng AI với các giao dịch qua tác nhân AI có xác thực đầu tiên tại Việt Nam

Mastercard thúc đẩy thương mại ứng dụng AI với các giao dịch qua tác nhân AI có xác thực đầu tiên tại Việt Nam

(TBTCO) - Mastercard vừa công bố hoàn tất thành công chương trình thí điểm triển khai các giao dịch qua tác nhân AI (agentic transaction) có xác thực đầu tiên tại Việt Nam. Đây là một bước tiến quan trọng cho hệ sinh thái kỹ thuật số của quốc gia.
Tỷ giá USD hôm nay (15/4): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ còn 25.103 đồng, DXY lùi về vùng 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (15/4): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ còn 25.103 đồng, DXY lùi về vùng 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 15/4, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 3 đồng về 25.103 VND/USD, trong khi thị trường tự do giữ ổn định quanh 26.860 - 26.910 VND/USD. Đồng USD suy yếu trên thị trường quốc tế khi chỉ số DXY lùi về vùng 98 điểm, trong bối cảnh kỳ vọng nối lại đàm phán Mỹ - Iran và bất định chính sách Fed, qua đó hỗ trợ EUR, GBP phục hồi nhẹ.
Cục Thuế phối hợp cùng ABBank đồng hành hỗ trợ hộ kinh doanh tuân thủ pháp luật thuế

Cục Thuế phối hợp cùng ABBank đồng hành hỗ trợ hộ kinh doanh tuân thủ pháp luật thuế

(TBTCO) - Chiều ngày 14/4, Cục Thuế và Ngân hàng TMCP An Bình (ABBank) tổ chức Lễ ký kết hợp tác nhằm đồng hành hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi từ thuế khoán sang kê khai. Chương trình được tổ chức trực tiếp kết hợp trực tuyến tại các chi nhánh ABBank ở 22 tỉnh, thành phố.
Ngân hàng Nhà nước đã tiếp nhận 11 hồ sơ đề nghị cấp phép sản xuất vàng miếng từ doanh nghiệp và ngân hàng

Ngân hàng Nhà nước đã tiếp nhận 11 hồ sơ đề nghị cấp phép sản xuất vàng miếng từ doanh nghiệp và ngân hàng

(TBTCO) - Tại họp báo chiều ngày 14/4, Cục trưởng Cục Quản lý ngoại hối Đào Xuân Tuấn cho biết, Ngân hàng Nhà nước đã tiếp nhận 11 hồ sơ đề nghị cấp phép sản xuất vàng miếng từ doanh nghiệp và ngân hàng; đồng thời, đang phối hợp các bộ, ngành xem xét các đơn vị có đủ điều kiện.
Việt Nam - Australia hợp tác thúc đẩy tiến trình chuyển đổi ngân hàng số

Việt Nam - Australia hợp tác thúc đẩy tiến trình chuyển đổi ngân hàng số

(TBTCO) - Cơ quan Thương mại và Đầu tư Australia (Austrade) dẫn đầu phái đoàn gồm 9 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ tài chính (fintech) và công nghệ quản lý, tuân thủ (regtech) của Australia đến Việt Nam, để tìm hiểu sâu về xu hướng chuyển đổi số của các ngân hàng và giới thiệu năng lực, tìm kiếm cơ hội hợp tác tại thị trường Việt Nam.
Đồng loạt 26 ngân hàng giảm lãi suất, tín dụng tăng 3,18% sau quý I/2026

Đồng loạt 26 ngân hàng giảm lãi suất, tín dụng tăng 3,18% sau quý I/2026

(TBTCO) - Thông tin từ họp báo của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, ngay sau cuộc họp với tân Thống đốc, khoảng 26 ngân hàng thương mại đã đồng loạt giảm lãi suất niêm yết trên cả kênh trực tiếp và trực tuyến. Tín dụng toàn hệ thống tiếp tục tăng tốc, dư nợ đến cuối tháng 3/2026 vượt 19,18 triệu tỷ đồng, tăng 3,18% so với cuối năm 2025.
Prudential Việt Nam chi trả 16.489 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm: Giữ trọn niềm tin khách hàng khi cần nhất

Prudential Việt Nam chi trả 16.489 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm: Giữ trọn niềm tin khách hàng khi cần nhất

(TBTCO) - Prudential Việt Nam ghi nhận tổng chi phí bồi thường và chi trả quyền lợi bảo hiểm khác lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, thể hiện năng lực thực hiện cam kết với khách hàng vào những thời điểm quan trọng nhất một cách mạnh mẽ. Đây được xem là yếu tố then chốt giúp nâng cao niềm tin trong bối cảnh thị trường bảo hiểm ngày càng đề cao tính minh bạch và trải nghiệm thực tế.
HDBank, VIFC - HCMC và LSE thiết lập quan hệ đối tác toàn diện, mở rộng kết nối thị trường vốn quốc tế cho doanh nghiệp Việt

HDBank, VIFC - HCMC và LSE thiết lập quan hệ đối tác toàn diện, mở rộng kết nối thị trường vốn quốc tế cho doanh nghiệp Việt

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank), phối hợp cùng Sở Giao dịch Chứng khoán London (London Stock Exchange – LSE) và Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh (VIFC - HCMC) đã tổ chức Diễn đàn Đầu tư cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc kết nối thị trường vốn Việt Nam với hệ thống tài chính toàn cầu.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,000 ▼50K 17,300
Kim TT/AVPL 17,000 ▼10K 17,300 ▼10K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,000 17,300
Nguyên Liệu 99.99 15,550 ▼50K 15,750 ▼50K
Nguyên Liệu 99.9 15,500 ▼50K 15,700 ▼50K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,460 ▲50K 16,860 ▲50K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,410 ▲50K 16,810 ▲50K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,340 ▲50K 16,790 ▲50K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,000 ▲300K 173,000 ▲300K
Hà Nội - PNJ 170,000 ▲300K 173,000 ▲300K
Đà Nẵng - PNJ 170,000 ▲300K 173,000 ▲300K
Miền Tây - PNJ 170,000 ▲300K 173,000 ▲300K
Tây Nguyên - PNJ 170,000 ▲300K 173,000 ▲300K
Đông Nam Bộ - PNJ 170,000 ▲300K 173,000 ▲300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,000 17,350 ▲50K
Miếng SJC Nghệ An 17,000 17,350 ▲50K
Miếng SJC Thái Bình 17,000 17,350 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,000 ▲30K 17,300 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,000 ▲30K 17,300 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,000 ▲30K 17,300 ▲30K
NL 99.90 15,450 ▼180K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,500 ▼180K
Trang sức 99.9 16,490 ▲30K 17,190 ▲30K
Trang sức 99.99 16,500 ▲30K 17,200 ▲30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1535K 1,735 ▲1562K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 170 ▼1535K 17,352 ▲50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 170 ▼1535K 17,353 ▲50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,697 ▼5K 1,732 ▲5K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,697 ▼5K 1,733 ▲5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,677 ▼5K 1,717 ▲5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 1,635 ▼161370K 170 ▼169335K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,038 ▲375K 128,938 ▲375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,018 ▲340K 116,918 ▲340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 95,997 ▲305K 104,897 ▲305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,361 ▲82254K 100,261 ▲90264K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,856 ▲208K 71,756 ▲208K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1535K 1,735 ▲1562K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1535K 1,735 ▲1562K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1535K 1,735 ▲1562K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1535K 1,735 ▲1562K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1535K 1,735 ▲1562K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1535K 1,735 ▲1562K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1535K 1,735 ▲1562K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1535K 1,735 ▲1562K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1535K 1,735 ▲1562K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1535K 1,735 ▲1562K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1535K 1,735 ▲1562K
Cập nhật: 15/04/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18266 18541 19122
CAD 18589 18866 19479
CHF 33025 33411 34061
CNY 0 3800 3870
EUR 30386 30661 31686
GBP 34881 35274 36208
HKD 0 3230 3432
JPY 158 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15224 15809
SGD 20156 20439 20967
THB 735 798 852
USD (1,2) 26066 0 0
USD (5,10,20) 26107 0 0
USD (50,100) 26136 26155 26358
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,150 26,150 26,358
USD(1-2-5) 25,104 - -
USD(10-20) 25,104 - -
EUR 30,589 30,613 31,864
JPY 161.7 161.99 170.64
GBP 35,153 35,248 36,226
AUD 18,509 18,576 19,151
CAD 18,819 18,879 19,445
CHF 33,375 33,479 34,235
SGD 20,334 20,397 21,064
CNY - 3,798 3,917
HKD 3,303 3,313 3,429
KRW 16.47 17.18 18.58
THB 783.69 793.37 844.87
NZD 15,239 15,380 15,731
SEK - 2,823 2,904
DKK - 4,093 4,209
NOK - 2,751 2,833
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,240.42 - 7,003.82
TWD 753.82 - 906.6
SAR - 6,920.85 7,241.78
KWD - 83,916 88,696
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,108 26,138 26,358
EUR 30,482 30,604 31,789
GBP 35,105 35,246 36,258
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,117 33,250 34,194
JPY 161.80 162.45 169.77
AUD 18,406 18,480 19,073
SGD 20,352 20,434 21,019
THB 803 806 841
CAD 18,777 18,852 19,423
NZD 15,288 15,822
KRW 17.14 18.83
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26130 26130 26358
AUD 18444 18544 19466
CAD 18761 18861 19878
CHF 33269 33299 34882
CNY 3800 3825 3960.3
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30566 30596 32323
GBP 35192 35242 36994
HKD 0 3355 0
JPY 162.21 162.71 173.26
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15329 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20308 20438 21174
THB 0 764.7 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17000000 17000000 17700000
SBJ 15000000 15000000 17700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,150 26,200 26,358
USD20 26,150 26,200 26,358
USD1 23,848 26,200 26,358
AUD 18,461 18,561 19,678
EUR 30,744 30,744 32,171
CAD 18,717 18,817 20,133
SGD 20,403 20,553 21,780
JPY 162.64 164.14 168.78
GBP 35,127 35,477 36,362
XAU 16,998,000 0 17,302,000
CNY 0 3,712 0
THB 0 804 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 15/04/2026 18:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80