Bộ đệm dự phòng mỏng nhất từ năm 2018 giữa áp lực nợ xấu gia tăng

(TBTCO) - Báo cáo của VPBankS cho thấy, áp lực trích lập dự phòng tại các ngân hàng có dấu hiệu quay lại khi tỷ lệ bao phủ nợ xấu toàn ngành giảm xuống 79,7%, mức thấp nhất kể từ năm 2018. Trong quý I/2026, nhiều ngân hàng ghi nhận nợ xấu tăng mạnh so với cuối năm 2025, trong bối cảnh mặt bằng lãi suất ở mức cao.
aa
Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm” Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

Trong báo cáo ngành ngân hàng mới phát hành, Công ty cổ phần Chứng khoán VPBank (VPBankS) đánh giá, chất lượng tài sản toàn ngành cải thiện so với cùng kỳ, nhưng tốc độ cải thiện đang chậm lại và áp lực trích lập có dấu hiệu quay lại.

Theo nhóm phân tích VPBankS, tỷ lệ nợ xấu toàn ngành ở mức 1,99% trong quý I/2026, giảm 14 điểm cơ bản so với cùng kỳ, trong khi tỷ lệ nợ nhóm 2 giảm 46 điểm cơ bản so với cùng kỳ xuống 1,21%. Diễn biến này cho thấy xu hướng cải thiện chất lượng tài sản so với cùng kỳ vẫn được duy trì, đặc biệt khi áp lực từ nợ nhóm 2 đã giảm đáng kể so với quý I/2025.

Bộ đệm dự phòng mỏng nhất từ năm 2018 giữa áp lực nợ xấu gia tăng

“Tuy nhiên, các chỉ báo đã nhích lên so với quý trước, trong đó tỷ lệ hình thành nợ xấu mới tăng lên 1,48%. Áp lực trích lập cũng quay lại khi chi phí dự phòng tăng 27,7% so với cùng kỳ, kéo tăng trưởng lợi nhuận trước thuế xuống 14,2% so với cùng kỳ. Tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm còn 79,7%, cho thấy bộ đệm dự phòng tiếp tục mỏng đi” - nhóm phân tích của VPBankS nêu rõ.

“Chúng tôi cho rằng, biến động trong một quý, đặc biệt là quý I, chưa đủ để kết luận xu hướng chất lượng tài sản đã xấu đi do yếu tố mùa vụ thường khiến nợ xấu nhích lên vào đầu năm. Dù vậy, trong bối cảnh mặt bằng lãi suất vẫn ở mức cao, áp lực lên khả năng trả nợ của khách hàng cần tiếp tục được theo dõi trong các quý tới” - VPBankS nêu quan điểm.

Tổng hợp báo cáo tài chính quý I/2026 của các ngân hàng niêm yết cho thấy, nhiều ngân hàng ghi nhận tốc độ tăng nợ xấu rất mạnh so với cuối năm 2025.

Theo đó, dẫn đầu về tốc độ tăng nợ xấu là BacABank, PGBank và TPBank. Trong nhóm ngân hàng có quy mô lớn, BIDV ghi nhận tổng nợ xấu cũng tăng mạnh chỉ sau một quý; VPBank cũng có quy mô nợ xấu rất lớn, tăng 18,5% so với cuối năm trước.

Riêng 3 ngân hàng gồm ABBank, VietinBank và NamABank là những trường hợp hiếm hoi duy trì được xu hướng cải thiện chất lượng tài sản và thu hẹp nợ xấu so với cuối năm 2025. Quy mô nợ xấu của 3 ngân hàng này lần lượt còn 963 tỷ đồng, giảm 14,3%; 20.598 tỷ đồng, giảm 6%; 3.653 tỷ đồng, giảm 3,5%.

Bộ đệm dự phòng mỏng nhất từ năm 2018 giữa áp lực nợ xấu gia tăng

Cùng với đó, áp lực trích lập cũng bắt đầu quay trở lại. VPBankS chỉ rõ, chi phí tín dụng toàn ngành ở mức 1,09% trong quý I/2026, tăng nhẹ 2 điểm cơ bản so với cùng kỳ, trong khi chi phí dự phòng tăng 27,7% so với cùng kỳ.

Điều này khiến tăng trưởng lợi nhuận trước thuế bị kìm lại ở mức 14,2% so với cùng kỳ và thấp hơn mức 19,1% trong quý IV/2025.

“Đáng chú ý, tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) tiếp tục giảm xuống 79,7%, giảm 5,3 điểm phần trăm so với cùng kỳ và 3,3 điểm phần trăm so với quý trước, là mức thấp nhất trong nhiều năm. Điều này cho thấy, nếu áp lực nợ xấu gia tăng trong bối cảnh lãi suất duy trì cao, hệ thống ngân hàng có thể phải đối mặt với nhu cầu tăng trích lập trong các quý tiếp theo” - nhóm phân tích đánh giá.

Xét giữa các ngân hàng trong nhóm theo dõi, nhóm phân tích VPBankS nhấn mạnh 3 trường hợp nổi bật.

Theo đó, SACOMBANK là ngân hàng có áp lực chất lượng tài sản lớn nhất, với tỷ lệ nợ xấu tăng lên 6,6% và chi phí dự phòng tăng mạnh, phản ánh tác động kéo dài từ cú sốc nợ xấu trong quý IV/2025.

Ngược lại, Vietcombank tiếp tục duy trì chất lượng tài sản tốt nhất hệ thống, với tỷ lệ nợ xấu chỉ 0,62% và tỷ lệ bao phủ nợ xấu ở mức 253,4%, dù ngân hàng đã chủ động tăng trích lập để củng cố bộ đệm dự phòng.

VIB ghi nhận chất lượng tài sản cải thiện rõ rệt khi tỷ lệ nợ xấu cộng xóa nợ giảm xuống 3,2% và nợ nhóm 2 giảm xuống 2,55%, nhưng ngân hàng vẫn tăng mạnh trích lập nhằm cải thiện tỷ lệ bao phủ nợ xấu lên 43,1%.

Ngân hàng có thể phải tăng mạnh trích lập dự phòng các quý tới

Về tỷ lệ trích lập trên dư nợ cho vay, nhóm phân tích VPBankS cho rằng, tỷ lệ này sẽ duy trì tương đương năm 2025, ở mức khoảng 1,11%, trong bối cảnh tỷ lệ bao phủ nợ xấu toàn ngành đã giảm về 79,7%, mức thấp nhất kể từ năm 2018; mặt bằng lãi suất duy trì ở vùng cao sẽ tạo áp lực lên chất lượng tài sản. Cùng với đó, các ngân hàng có thể cần tiếp tục củng cố bộ đệm dự phòng nếu nợ xấu mới hình thành tăng trở lại trong các quý tới.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 1/9: Vàng thế giới nhích tăng, vàng nhẫn diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 1/9: Vàng thế giới nhích tăng, vàng nhẫn diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch ở mức 4.456 USD/ounce, tăng nhẹ so với sáng qua. Trong nước, giá vàng nhẫn biến động trái chiều, với mức điều chỉnh từ 300.000 - 600.000 đồng/lượng.
Vốn đầu tư vượt 1 triệu tỷ đồng giữ nhịp sinh lời, vững cam kết bảo hiểm

Vốn đầu tư vượt 1 triệu tỷ đồng giữ nhịp sinh lời, vững cam kết bảo hiểm

(TBTCO) - Dòng vốn đầu tư của ngành Bảo hiểm đã vượt 1 triệu tỷ đồng và chứng kiến sự chuyển dịch rõ nét trong cơ cấu danh mục. Dù mang “khẩu vị” đầu tư khác nhau, các doanh nghiệp bảo hiểm vẫn kiên định bài toán cân bằng giữa hiệu quả sinh lời, an toàn tài chính và bảo đảm quyền lợi khách hàng.
Giá vàng hôm nay ngày 30/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 30/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về 4.453 USD/ounce, giảm khoảng 24 USD trong 24 giờ qua. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn cũng đồng loạt giảm giá.
Tỷ giá USD hôm nay (29/8): USD trong nước ít biến động, DXY áp sát 100 điểm sau thông điệp “diều hâu” từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (29/8): USD trong nước ít biến động, DXY áp sát 100 điểm sau thông điệp “diều hâu” từ Fed

(TBTCO) - Sáng 29/8, tỷ giá USD trong nước khép lại tuần với biên độ biến động hẹp, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng lên 25.610 đồng/USD, trong khi tỷ giá USD tại ngân hàng và trên thị trường tự do giảm nhẹ. Chỉ số DXY tăng 0,55% lên 99,67 điểm sau thông điệp “diều hâu” của Chủ tịch Fed tại Hội nghị Jackson Hole, củng cố kỳ vọng Mỹ có thể tăng lãi suất vào cuối năm.
Giá vàng hôm nay ngày 29/8: Vàng thế giới lao dốc, vàng trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 29/8: Vàng thế giới lao dốc, vàng trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 155 USD/ounce trong 24 giờ qua. Trong nước, vàng miếng tăng nhẹ, trong khi giá vàng nhẫn phân hóa giữa các thương hiệu.
Thị trường tiền tệ tuần 24 - 28/8: USD biến động hẹp, lãi suất qua đêm rơi về 1% sau nhịp bơm mạnh thanh khoản

Thị trường tiền tệ tuần 24 - 28/8: USD biến động hẹp, lãi suất qua đêm rơi về 1% sau nhịp bơm mạnh thanh khoản

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 24 - 28/8, doanh số vay mượn liên ngân hàng biến động mạnh, trong khi Ngân hàng Nhà nước bơm ròng gần 54.900 tỷ đồng qua kênh OMO, giúp lãi suất qua đêm giảm sâu còn 1,19%/năm, dù lãi suất các kỳ hạn dài vẫn neo ở mức cao. Trên thị trường ngoại hối, tỷ giá USD biến động hẹp, USD tự do giảm tuần thứ 9 liên tiếp, cung - cầu ngoại hối ngắn hạn thuận lợi.
“Kho” đầu tư gần 370.000 tỷ đồng giúp doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết sinh sôi lợi nhuận

“Kho” đầu tư gần 370.000 tỷ đồng giúp doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết sinh sôi lợi nhuận

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, “kho” đầu tư hơn 367.000 tỷ đồng của 13 doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết mang về 7.930,4 tỷ đồng lợi nhuận tài chính, tăng 14,6%. "Ông lớn" Bảo Việt chiếm ưu thế áp đảo, trong khi hiệu quả sinh lời giữa các doanh nghiệp phân hóa rõ.
Bảo hiểm Bảo Việt đứng đầu 26 doanh nghiệp bảo hiểm uy tín trong lĩnh vực hàng hải

Bảo hiểm Bảo Việt đứng đầu 26 doanh nghiệp bảo hiểm uy tín trong lĩnh vực hàng hải

(TBTCO) - Đứng đầu danh sách 26 tổ chức bảo hiểm có uy tín trong lĩnh vực hàng hải do Bộ Tài chính công bố, Bảo hiểm Bảo Việt tiếp tục khẳng định nền tảng tài chính vững chắc, năng lực chuyên môn và kinh nghiệm quản trị những rủi ro có quy mô lớn, tính chất phức tạp.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,700 148,700
Hà Nội - PNJ 145,700 148,700
Đà Nẵng - PNJ 145,700 148,700
Miền Tây - PNJ 145,700 148,700
Tây Nguyên - PNJ 145,700 148,700
Đông Nam Bộ - PNJ 145,700 148,700
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,570 14,870
Miếng SJC Nghệ An 14,570 14,870
Miếng SJC Thái Bình 14,570 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,530 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,530 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,530 14,870
NL 99.99 13,800
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,700
Trang sức 99.9 14,180 14,780
Trang sức 99.99 14,190 14,790
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,457 14,872
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,457 14,873
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,452 1,482
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,452 1,483
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,427 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,743 145,743
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,761 110,561
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,456 100,256
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,151 89,951
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,176 85,976
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,739 61,539
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Cập nhật: 02/09/2026 11:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18131 18406 19000
CAD 18218 18494 19126
CHF 31569 31949 32610
CNY 0 3834 3932
EUR 29570 29792 30889
GBP 34482 34874 35831
HKD 0 3195 3399
JPY 156 159 167
KRW 0 17 19
NZD 0 15099 15701
SGD 19907 20189 20780
THB 702 765 819
USD (1,2) 25813 0 0
USD (5,10,20) 25853 0 0
USD (50,100) 25881 25895 26275
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,890 25,890 26,270
USD(1-2-5) 24,855 - -
USD(10-20) 24,855 - -
EUR 29,775 29,799 31,209
JPY 159.07 159.36 169
GBP 34,806 34,900 36,105
AUD 18,430 18,497 19,195
CAD 18,477 18,536 19,220
CHF 31,997 32,097 33,041
SGD 20,101 20,164 20,953
CNY - 3,805 3,951
HKD 3,259 3,269 3,406
KRW 17.5 18.25 19.86
THB 754.4 763.72 817.96
NZD 15,205 15,346 15,797
SEK - 2,695 2,790
DKK - 3,994 4,135
NOK - 2,749 2,850
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,047.4 - 6,827.28
TWD 744.85 - 902.38
SAR - 6,827.09 7,191.1
KWD - 82,706 88,002
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,860 25,890 26,270
EUR 29,827 29,947 31,143
GBP 34,830 34,970 36,005
HKD 3,258 3,271 3,388
CHF 31,884 32,012 32,947
JPY 159.62 160.26 168.24
AUD 18,424 18,498 19,096
SGD 20,166 20,247 20,845
THB 772 775 812
CAD 18,490 18,564 19,158
NZD 15,283 15,831
KRW 18.09 20.07
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25896 25896 26250
AUD 18401 18501 19423
CAD 18453 18553 19567
CHF 32005 32035 33625
CNY 3816.1 3841.1 3976.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29872 29902 31627
GBP 34879 34929 36692
HKD 0 3330 0
JPY 159.62 160.12 170.66
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15297 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20117 20247 20971
THB 0 735.6 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14720000 14720000 15020000
SBJ 13000000 13000000 15020000
Cập nhật: 02/09/2026 11:00
Ngân hàng