SACOMBANK chính thức đổi tên thành Ngân hàng TMCP Sài Gòn Tài Lộc

(TBTCO) - SACOMBANK vừa được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận đổi tên thương mại từ "Sài Gòn Thương Tín" thành "Sài Gòn Tài Lộc".
aa
Sacombank trước “ngã rẽ lớn”, trình Đại hội đồng cổ đông kế hoạch đổi tên, dời trụ sở Đại hội đồng cổ đông Sacombank: Dồn lực tái cơ cấu, ưu tiên “đệm” dự phòng trước ngưỡng triệu tỷ SACOMBANK lãi hơn 2.100 tỷ đồng quý I/2026, tăng mạnh chi phí dự phòng gấp 10 lần

Ngày 1/6/2026, Cục Quản lý, giám sát tổ chức tín dụng (Ngân hàng Nhà nước) ban hành Quyết định số 36/QĐ-QLGS4 về việc sửa đổi nội dung Giấy phép thành lập và hoạt động của Ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) Sài Gòn Thương Tín (SACOMBANK).

Theo đó, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín chính thức đổi tên thành Ngân hàng TMCP Sài Gòn Tài Lộc; tên tiếng Anh là Saigon Treasure Commercial Joint Stock Bank, tên viết tắt bằng tiếng Anh là SACOMBANK.

Quyết định cũng nêu rõ, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Tài Lộc có trách nhiệm thực hiện các thủ tục theo quy định tại khoản 4 Điều 37 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 (đã được sửa đổi, bổ sung) và các quy định pháp luật có liên quan đối với nội dung thay đổi nêu trên.

Cùng ngày, Hội đồng Quản trị SACOMBANK ban hành Nghị quyết về việc sửa đổi tên của ngân hàng tại Điều lệ SACOMBANK. Đồng thời, giao quyền Tổng Giám đốc chỉ đạo các đơn vị, cá nhân liên quan thực hiện các nội dung nêu trên theo đúng quy định.

SACOMBANK chính thức đổi tên thành Ngân hàng TMCP Sài Gòn Tài Lộc
Thị trường xuất hiện ngân hàng mang tên Sài Gòn Tài Lộc. Ảnh tư liệu.

Theo đại diện SACOMBANK, chữ “Tài” thể hiện năng lực tài chính vững mạnh và sự chuyên nghiệp trong hoạt động; còn “Lộc” mang ý nghĩa may mắn và thịnh vượng. Tổng hòa tên gọi mới thể hiện khát vọng tăng trưởng thận trọng, hiệu quả và bền vững, đảm bảo tối đa lợi ích cho cổ đông, đối tác và khách hàng.

SACOMBANK khẳng định, việc thay đổi tên thương mại không ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh cũng như toàn bộ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng, đối tác và cổ đông. Trước đó, kế hoạch thay đổi tên đã được Đại hội đồng cổ đông SACOMBANK thông qua vào ngày 22/4/2026.

Năm 2026, SACOMBANK bước vào giai đoạn chuyển mình mạnh mẽ với việc kiện toàn bộ máy nhân sự cấp cao, đồng thời triển khai hàng loạt sáng kiến nhằm tái cấu trúc, đảm bảo các chỉ số an toàn hoạt động của ngân hàng, nâng cao hiệu quả vận hành theo hướng hiện đại, linh hoạt và có khả năng thích ứng cao.

Việc thay đổi tên thương mại lần này là bước đi tiếp theo của quá trình tái định vị thương hiệu, chuẩn bị cho giai đoạn phát triển dài hạn của Sacombank trong bối cảnh ngành ngân hàng bước vào chu kỳ cạnh tranh và chuyển đổi mạnh mẽ hơn.

Thời gian qua, SACOMBANK liên tục ghi nhận nhiều thay đổi ở nhóm nhân sự cấp cao trong quá trình kiện toàn bộ máy quản trị, điều hành. Đáng chú ý là sự xuất hiện của ông Nguyễn Đức Thụy - cựu Chủ tịch LPBank. Đầu tháng 3/2026, ông Thụy được bổ nhiệm giữ chức Tổng Giám đốc, trước khi tiếp tục được bầu làm Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng Quản trị tại Đại hội đồng cổ đông thường niên tháng 4/2026. Sau đó, SACOMBANK giao ông Faussier Loic Michel Marc đảm nhiệm vai trò quyền Tổng Giám đốc.

Đầu tháng 5/2026, SACOMBANK tiếp tục bổ nhiệm ông Lưu Danh Đức và ông Nguyễn Hoàng Hải giữ chức Phó Tổng Giám đốc. Cả hai đều từng đảm nhiệm vị trí Phó Tổng giám đốc tại LPBank - nơi ông Nguyễn Đức Thụy từng giữ vai trò Chủ tịch Hội đồng Quản trị.

Ở chiều ngược lại, SACOMBANK đã chấm dứt hợp đồng lao động với ông Nguyễn Thanh Nhung từ ngày 8/5/2026. Trước đó, ông Nhung đảm nhận quyền Tổng Giám đốc SACOMBANK từ cuối tháng 5/2025, sau khi bà Nguyễn Đức Thạch Diễm rời vị trí Tổng Giám đốc.

SACOMBANK cũng vừa thông qua quyết định từ nhiệm chức vụ Phó Tổng giám đốc của ông Vũ Minh Quân theo nguyện vọng cá nhân, có hiệu lực từ ngày 22/5/2026.

Hiện Ban điều hành Sacombank gồm ông Faussier Loic Michel Marc giữ vị trí quyền Tổng Giám đốc cùng 10 Phó Tổng giám đốc và 2 thành viên Ban điều hành./.

Năm 2026, SACOMBANK đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế đạt 8.100 tỷ đồng, tăng 6% so với năm trước. Ngân hàng hướng tới quy mô tổng tài sản vượt 1 triệu tỷ đồng, tăng 10%; dư nợ tín dụng đạt 699.400 tỷ đồng, tăng 12% hoặc theo hạn mức được Ngân hàng Nhà nước phê duyệt. Tổng huy động dự kiến đạt 921.300 tỷ đồng, tăng 10% và được điều hành linh hoạt theo tốc độ tăng trưởng tín dụng.

Kết thúc quý I/2026, SACOMBANK ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 2.106,2 tỷ đồng, giảm 42,7% cùng kỳ chủ yếu do thu nhập cốt lõi, trong khi chi phí dự phòng rủi ro tăng mạnh. Tính đến ngày 31/3/2026, tổng tài sản của ngân hàng đạt gần 860.000 tỷ đồng; tổng huy động đạt 776.335 tỷ đồng, tiếp tục duy trì nền tảng vốn ổn định. Dư nợ tín dụng đạt 626.960 tỷ đồng, tăng nhẹ so với đầu năm.

Trên thị trường chứng khoán, kết phiên ngày 1/6, cổ phiếu STB giao dịch quanh mức 67.000 đồng/cổ phiếu, giảm gần 13% so với vùng đỉnh nhưng vẫn cao hơn khoảng 16% so với đầu năm. Vốn hóa thị trường của SACOMBANK tương ứng đạt hơn 126.000 tỷ đồng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Gửi tiết kiệm an tâm hơn khi hiểu đúng về bảo hiểm tiền gửi

Gửi tiết kiệm an tâm hơn khi hiểu đúng về bảo hiểm tiền gửi

(TBTCO) - Bên cạnh lãi suất, sự thuận tiện, người gửi tiền cũng cần biết khoản tiền của mình được bảo vệ như thế nào. Hiểu đúng về chính sách bảo hiểm tiền gửi (BHTG) giúp mỗi người nắm rõ quyền lợi của mình và chủ động hơn khi lựa chọn nơi gửi tiền.
Tiền gửi co xuống dưới 60%, ngân hàng bù đắp bằng nhiều nguồn vốn "nhạy" với lãi suất

Tiền gửi co xuống dưới 60%, ngân hàng bù đắp bằng nhiều nguồn vốn "nhạy" với lãi suất

Theo ghi nhận của TCBS Research, tiền gửi khách hàng co xuống 59,8% tổng nguồn vốn, tăng 5,5%, thấp hơn mức 9% của tín dụng. Phần thiếu hụt được bù bằng vốn liên ngân hàng và giấy tờ có giá, nhạy hơn với lãi suất ngắn hạn. Trong đó, giấy tờ có giá là nguồn vốn đắt nhất, khiến chi phí vốn toàn ngành sẽ còn neo ở mức cao.
Tỷ giá trung tâm neo đỉnh, cán cân thanh toán quốc tế BOP hé lộ “bộ đệm” giữa áp lực nhập siêu

Tỷ giá trung tâm neo đỉnh, cán cân thanh toán quốc tế BOP hé lộ “bộ đệm” giữa áp lực nhập siêu

(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm tăng khoảng 1,9% từ đầu năm, neo vùng đỉnh lịch sử, trong khi USD ngân hàng và tự do hạ nhiệt giữa bối cảnh nhập siêu gia tăng. Số liệu cán cân thanh toán quốc tế (BOP) cho thấy, FDI và các dòng ngoại tệ khác vẫn tạo "bộ đệm", giảm áp lực lên tỷ giá, dù nguồn ngoại tệ từ thương mại suy yếu.
Mạnh tay xử lý vi phạm trong thực thi bảo hiểm xã hội

Mạnh tay xử lý vi phạm trong thực thi bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - 8 tháng năm 2026, cơ quan Bảo hiểm xã hội đã truy thu, thu hồi hàng trăm tỷ đồng qua công tác kiểm tra chuyên ngành; đồng thời phối hợp với Viện Kiểm sát nhân dân và các cơ quan liên quan xử lý chậm đóng, trốn đóng, tạo thêm cơ chế pháp lý bảo vệ quyền lợi người lao động.
Lợi nhuận "chạy trước" đà hồi phục doanh thu phí, có doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ báo lãi gấp 10 lần

Lợi nhuận "chạy trước" đà hồi phục doanh thu phí, có doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ báo lãi gấp 10 lần

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, lợi nhuận của nhiều doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ bứt tốc mạnh, có doanh nghiệp tăng trưởng lợi nhuận gấp hơn 10 lần cùng kỳ. Ở mảng kinh doanh cốt lõi, những “điểm sáng” phục hồi dần xuất hiện.
Phân làn tín dụng bất động sản, “van” cho vay được mở chọn lọc

Phân làn tín dụng bất động sản, “van” cho vay được mở chọn lọc

(TBTCO) - Dòng vốn tín dụng chảy vào bất động sản đang phân hóa rõ nét, có ngân hàng tăng dư nợ trên 50%, song cũng không ít ngân hàng chủ động thu hẹp dư nợ để kiểm soát rủi ro. "Van" tín dụng đang được điều tiết có chọn lọc, với hàng chục nghìn tỷ đồng hướng vào cho vay mua, thuê nhà và các phân khúc ưu tiên.
Chủ động gia hạn, kiểm tra thông tin đóng bảo hiểm y tế để bảo đảm quyền lợi liên tục

Chủ động gia hạn, kiểm tra thông tin đóng bảo hiểm y tế để bảo đảm quyền lợi liên tục

(TBTCO) - Bảo hiểm xã hội Việt Nam khuyến nghị người thuộc nhóm tự đóng bảo hiểm y tế gia hạn trước khi thẻ hết giá trị sử dụng và chủ động kiểm tra thông tin sau khi đóng tiền để đảm bảo quyền lợi tham gia liên tục.
Đưa 100% học sinh sinh viên vào “lưới” an sinh y tế

Đưa 100% học sinh sinh viên vào “lưới” an sinh y tế

(TBTCO) - Tỷ lệ học sinh sinh viên tham gia bảo hiểm y tế đã đạt 99,39%, tạo nền tảng quan trọng để tiến tới mục tiêu 100% vào năm 2030. Để “phủ kín” lưới an sinh y tế, cần tiếp tục tháo gỡ những khoảng trống còn lại, nhất là với học sinh sinh viên có hoàn cảnh khó khăn và nhóm sinh viên chưa duy trì tham gia liên tục.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,400 ▼800K 145,400 ▼1100K
Hà Nội - PNJ 142,400 ▼800K 145,400 ▼1100K
Đà Nẵng - PNJ 142,400 ▼800K 145,400 ▼1100K
Miền Tây - PNJ 142,400 ▼800K 145,400 ▼1100K
Tây Nguyên - PNJ 142,400 ▼800K 145,400 ▼1100K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,400 ▼800K 145,400 ▼1100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,240 ▼120K 14,540 ▼120K
Miếng SJC Nghệ An 14,240 ▼120K 14,540 ▼120K
Miếng SJC Thái Bình 14,240 ▼120K 14,540 ▼120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,240 ▼80K 14,590 ▼70K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,240 ▼80K 14,590 ▼70K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,240 ▼80K 14,590 ▼70K
NL 99.99 13,600 ▼50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500 ▼50K
Trang sức 99.9 13,900 ▼70K 14,500 ▼70K
Trang sức 99.99 13,910 ▼70K 14,510 ▼70K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,424 ▼12K 14,542 ▼120K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,424 ▼12K 14,543 ▼120K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,419 ▼12K 1,449 ▼12K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,419 ▼12K 145 ▼1317K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,394 ▼12K 1,439 ▼12K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,475 ▼1188K 142,475 ▼1188K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,286 ▼900K 108,086 ▼900K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,212 ▼816K 98,012 ▼816K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,138 ▲70251K 87,938 ▲79071K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,252 ▼700K 84,052 ▼700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,362 ▼501K 60,162 ▼501K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Cập nhật: 11/09/2026 20:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18043 18317 18901
CAD 18167 18443 19062
CHF 31138 31516 32163
CNY 0 3821 3917
EUR 29415 29636 30717
GBP 34201 34591 35529
HKD 0 3174 3377
JPY 161 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14773 15364
SGD 19906 20188 20760
THB 700 763 816
USD (1,2) 25658 0 0
USD (5,10,20) 25696 0 0
USD (50,100) 25724 25738 26108
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,730 25,730 26,110
USD(1-2-5) 24,701 - -
USD(10-20) 24,701 - -
EUR 29,499 29,523 30,923
JPY 163.51 163.8 173.71
GBP 34,417 34,510 35,700
AUD 18,243 18,309 19,004
CAD 18,373 18,432 19,115
CHF 31,483 31,581 32,509
SGD 20,023 20,085 20,873
CNY - 3,789 3,934
HKD 3,238 3,248 3,385
KRW 17.74 18.5 20.13
THB 746.8 756.02 809.53
NZD 14,781 14,918 15,359
SEK - 2,632 2,725
DKK - 3,957 4,097
NOK - 2,743 2,840
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,952.45 - 6,722.27
TWD 739.4 - 895.86
SAR - 6,783.99 7,146.35
KWD - 82,248 87,523
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,710 25,740 26,120
EUR 29,562 29,681 30,871
GBP 34,424 34,562 35,592
HKD 3,239 3,252 3,368
CHF 31,366 31,492 32,418
JPY 163.83 164.49 172.45
AUD 18,236 18,309 18,903
SGD 20,105 20,186 20,781
THB 763 766 803
CAD 18,402 18,476 19,068
NZD 14,837 15,377
KRW 18.41 20.37
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25710 25710 26120
AUD 18226 18326 19251
CAD 18358 18458 19474
CHF 31394 31424 33009
CNY 3803 3828 3963.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29596 29626 31351
GBP 34501 34551 36311
HKD 0 3330 0
JPY 164.66 165.16 175.7
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2790 0
NZD 0 14885 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2705 0
SGD 20056 20186 20919
THB 0 728.6 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14240000 14240000 14540000
SBJ 13000000 13000000 14540000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,695 25,745 26,130
USD20 25,665 25,745 26,130
USD1 25,645 25,745 26,130
AUD 18,255 18,355 19,475
EUR 29,450 29,550 31,229
CAD 18,330 18,430 19,746
SGD 20,144 20,294 20,862
JPY 164.99 166.49 172.16
GBP 34,416 34,566 35,654
XAU 14,358,000 0 14,662,000
CNY 0 3,711 0
THB 0 763 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/09/2026 20:30
Ngân hàng