Đại hội đồng cổ đông Sacombank: Dồn lực tái cơ cấu, ưu tiên “đệm” dự phòng trước ngưỡng triệu tỷ

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Năm 2026, Sacombank đặt mục tiêu tài sản vượt 1 triệu tỷ đồng, lợi nhuận 8.100 tỷ đồng; kiểm soát nợ xấu dưới 4,5%; đồng thời thông qua các quyết sách mang tính “bước ngoặt. Lãnh đạo Sacombank cho biết, đã hoàn tất xử lý các tồn đọng tài chính và trích đủ dự phòng 100%, nhưng vẫn chờ xử lý 32,5% cổ phần tại VAMC. Sacombank sẽ tiếp tục ưu tiên trích lập dự phòng rủi ro, nâng cao tỷ lệ bao phủ nợ xấu.
aa
Gia cố “lớp đệm” dự phòng, lợi nhuận Sacombank 2025 giảm còn hơn 7.600 tỷ đồng Sacombank trước “ngã rẽ lớn”, trình Đại hội đồng cổ đông kế hoạch đổi tên, dời trụ sở Sacombank đặt mục tiêu giữ nợ xấu dưới 4,5%, "để dành" trên 30.000 tỷ đồng lợi nhuận

Đổi tên, dời trụ sở, hướng tới quy mô triệu tỷ

Ngày 22/4, tại Phú Thọ, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank - mã Ck: STB) tổ chức Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ). Tại đại hội xem xét báo cáo của Hội đồng quản trị (HĐQT) về kết quả hoạt động năm 2025 và định hướng năm 2026; phương án phân phối lợi nhuận năm 2025 và kế hoạch năm 2026; xem xét tờ trình miễn nhiệm thành viên Hội đồng quản trị (HĐQT). Đáng chú ý, đại hội trình nhiều nội dung mang tính “bước ngoặt” như: thay đổi địa điểm trụ sở chính, đổi tên, nhằm chuẩn bị cho giai đoạn phát triển mới.

Tại thời điểm 9 giờ ngày 22/4, đại hội có 135 cổ đông tham dự trực tiếp và ủy quyền, nắm giữ 1,52 tỷ cổ phần, tương đương 80,6% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết của Sacombank.

Đại hội đồng cổ đông Sacombank
Sacombank tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên tại Phú Thọ.

Đưa tổng tài sản vượt 1 triệu tỷ đồng

Năm 2026, Sacombank đặt mục tiêu kiểm soát tỷ lệ nợ xấu nội bảng dưới 4,5%. Tổng tài sản vượt 1 triệu tỷ đồng, tăng 10%; dư nợ tín dụng đạt 699.400 tỷ đồng, tăng 12%, hoặc không vượt hạn mức Ngân hàng Nhà nước phê duyệt. Tổng huy động đạt 921.300 tỷ đồng, tăng 10% và điều hành linh hoạt theo tăng trưởng tín dụng.

Lợi nhuận trước thuế đạt 8.100 tỷ đồng, tăng 6%; đồng thời, đảm bảo các tỷ lệ an toàn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.

Tại đại hội, ông Phan Đình Tuệ - Thành viên HĐQT trình bày báo cáo của Hội đồng quản trị về kết quả hoạt động năm 2025 và định hướng năm 2026.

Ông Phan Đình Tuệ nêu rõ, trong bối cảnh xung đột vũ trang và căng thẳng địa chính trị ngày càng leo thang trên thế giới, tạo ra những diễn biến phức tạp, bất khả kháng đối với nền kinh tế toàn cầu nói chung và Việt Nam nói riêng.

Điều này có khả năng phát sinh các tác động kém tích cực và khó dự báo đến quá trình thực hiện kế hoạch kinh doanh của Sacombank.

Do đó, nhằm tạo sự chủ động, linh hoạt trong công tác quản trị điều hành, kịp thời thích ứng với diễn biến thị trường, HĐQT trình ĐHĐCĐ xem xét ủy quyền cho HĐQT được chủ động điều chỉnh kế hoạch kinh doanh, trên cơ sở phù hợp với tình hình thực tế và quy định pháp luật đảm bảo sự tăng trưởng ổn định, bền vững và mang lại hiệu quả cao nhất cho ngân hàng.

Đại hội đồng cổ đông Sacombank: Dồn lực tái cơ cấu, ưu tiên “đệm” dự phòng trước ngưỡng triệu tỷ
Đồ họa: Ánh Tuyết.

Tại đại hội, trình bày tờ trình thay đổi địa chỉ trụ sở chính của Sacombank; thay đổi tên ngân hàng; tờ trình miễn nhiệm Thành viên HĐQT; bầu bổ sung Thành viên HĐQT nhiệm kỳ 2022 - 2026. Ứng viên là ông Nguyễn Đức Thụy, hiện là Tổng Giám đốc của Sacombank.

Hội đồng quản trị trình ĐHĐCĐ về việc thay đổi tên ngân hàng từ “Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín” thành “Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Tài Lộc". Tên đầy đủ bằng tiếng Anh đổi từ “Sai Gon Thuong Tin Joint Stock Commercial Bank" thành “Saigon Treasure Commercial Joint Stock Bank". Tên giao dịch/tên viết tắt bằng tiếng Anh đổi từ "Sacombank" thành "SACOMBANK".

Trích lập dự phòng 100%, chờ "mở khóa" 32,5% cổ phần tại VAMC

Ông Hà Văn Trung - Phó Tổng giám đốc thường trực trình bày phương án phân phối lợi nhuận của Sacombank năm 2025. Theo đó, sau khi trích lập các quỹ, lợi nhuận còn lại năm 2025 đạt 4.770,1 tỷ đồng. Cộng với lợi nhuận giữ lại các năm trước 25.355,1 tỷ đồng, tổng lợi nhuận giữ lại lũy kế của Sacombank lên tới 30.125,2 tỷ đồng.

Như vậy, Sacombank tiếp tục ưu tiên tích lũy vốn và củng cố nền tảng tài chính thay vì chia cổ tức, tạo dư địa cho xử lý tồn đọng và tăng trưởng trong các năm tới

Đại hội đồng cổ đông Sacombank: Dồn lực tái cơ cấu, ưu tiên “đệm” dự phòng trước ngưỡng triệu tỷ
Nguồn: Sacombank.

Tại ĐHĐCĐ Sacombank, cổ đông tập trung chất vấn loạt vấn đề cốt lõi xoay quanh tái cơ cấu, chất lượng tài sản và hiệu quả kinh doanh. Cụ thể, cổ đông quan tâm tiến độ thực hiện đề án tái cơ cấu đến cuối năm 2025; thời điểm xử lý dứt điểm 32,5% cổ phần liên quan ông Trầm Bê; nguyên nhân nợ xấu tăng mạnh trong năm 2025 và khả năng thu hồi.

Bên cạnh đó, kế hoạch lợi nhuận 2026 ở mức 8.100 tỷ đồng được đánh giá khá thận trọng, dù ngân hàng đã trích lập dự phòng cao cũng gây nhiều băn khoăn. Ngoài ra, cổ đông đặt vấn đề về xu hướng suy giảm NIM và định hướng cải thiện thời gian tới; cập nhật nhanh kết quả kinh doanh quý I/2026; chiến lược kinh doanh sắp tới; yêu cầu giải trình lý do đổi tên thương hiệu sau nhiều năm duy trì nhận diện cũ...

Trả lời câu hỏi của cổ đông, ông Phan Đình Tuệ - Thành viên HĐQT nêu rõ, trong nhiều năm vừa qua, Sacombank đã quyết liệt triển khai nhiều biện pháp để hoàn thành đề án, đến nay đã hoàn tất xử lý các tồn đọng tài chính và đặc biệt trích lập dự phòng 100%.

Một trong những nội dung hết sức quan trọng của đề án tái cơ cấu là việc xử lý cổ phần 32,5% bị phong tỏa tại VAMC, bởi khi xử lý xong mới đảm bảo tỷ lệ nợ xấu theo quy định và đưa ngân hàng trở lại trạng thái hoạt động bình thường. Hiện tỷ lệ nợ xấu Sacombank cuối năm 2025 đang ở mức 5,01%, đây là nội dung cần tiếp tục xử lý.

Tuy nhiên, việc xử lý cổ phần tại VAMC phải được Ngân hàng Nhà nước phê duyệt. "Năm 2026, HĐQT sẽ tiếp tục làm việc với Ngân hàng Nhà nước để thông qua phương án xử lý, song còn phải phụ thuộc và cũng cố gắng trong năm 2026, nếu thuận lợi sẽ được thông qua" - ông Tuệ nhấn mạnh.

Dù vậy, theo lãnh đạo Sacombank, việc xử lý cổ phần tại VAMC có thể kéo dài thêm một số năm, HĐQT cam kết sẽ nỗ lực tối đa để hoàn thành đề án.

Về nợ xấu, ông Phan Đình Tuệ - Thành viên HĐQT cho biết, nguyên nhân nợ xấu gia tăng trong năm 2025 đến từ bối cảnh bên ngoài, đặc biệt các chính sách thuế của Mỹ và biến động toàn cầu ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất kinh doanh, nhất là nhóm khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ, dẫn đến phát sinh nợ quá hạn. Đồng thời, việc không còn áp dụng cơ chế cơ cấu nợ như trước khiến các khoản vay phải chuyển nhóm và trích lập dự phòng.

Bên cạnh đó, quá trình xử lý nợ gặp vướng mắc pháp lý, thời gian kéo dài và khối lượng hồ sơ lớn cũng khiến việc giảm nhanh tỷ lệ nợ xấu gặp khó khăn. "Tất cả các khoản nợ xấu của ngân hàng phần lớn đều có tài sản đảm bảo và theo nhận định của chúng tôi, đủ bù đắp nghĩa vụ nợ của khách hàng. Do đó, khả năng thu hồi vốn được đánh giá rất cao, tuy nhiên, tiến độ xử lý còn phụ thuộc vào thị trường" - ông Tuệ nêu rõ./.

Không chạy theo tăng trưởng nóng, lãi quý I đạt 44% kế hoạch

Thông tin tới cổ đông về kế hoạch lợi nhuận 8.100 tỷ đồng năm 2026, ông Phan Đình Tuệ - Thành viên HĐQT cho biết, ngân hàng lựa chọn kịch bản tăng trưởng thận trọng, bắt nguồn từ chiến lược của ngân hàng trong các hoạt động sắp tới.

"Chúng tôi muốn gia tăng nội lực dự phòng nhằm chủ động xử lý nợ xấu và tạo nên nền tảng trong bối cảnh rủi ro cũng đang gia tăng. Thay vì chúng ta chạy theo con số tăng trưởng nóng, Sacombank lựa chọn phương án tối ưu, ưu tiên trích lập dự phòng rủi ro, nâng cao tỷ lệ bao phủ nợ xấu, tạo nền tảng tài chính vững chắc trong tương lai trước những biến động khó lường của toàn cầu cũng như thị trường" - ông Tuệ nhấn mạnh.

Về kết quả kinh doanh quý I/2026, lãnh đạo Sacombank bật mí, dư nợ tín dụng đạt 627 nghìn tỷ đồng, tăng nhẹ 567 tỷ đồng. Lợi nhuận trước thuế đạt 3.572 tỷ đồng, tương đương 44% kế hoạch, chủ yếu nhờ nỗ lực tiết giảm chi phí và tối ưu vận hành./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

ABIC hoàn thành 65% kế hoạch lợi nhuận sau 6 tháng, hưởng lợi từ lãi suất tiền gửi tăng

ABIC hoàn thành 65% kế hoạch lợi nhuận sau 6 tháng, hưởng lợi từ lãi suất tiền gửi tăng

(TBTCO) - Bảo hiểm Agribank (ABIC) ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 227,7 tỷ đồng trong nửa đầu năm 2026, tăng 24,6% và hoàn thành 65% kế hoạch năm. Kết quả được hỗ trợ bởi phí bảo hiểm gốc tăng 8,2%, chi phí bồi thường được kiểm soát hiệu quả, cùng hoạt động đầu tư tài chính khởi sắc khi mặt bằng lãi suất tiền gửi cải thiện, góp phần gia tăng nguồn thu tài chính.
VIB lãi trước thuế gần 5.200 tỷ đồng sau 6 tháng, dư nợ cho vay tiến sát 400 nghìn tỷ đồng

VIB lãi trước thuế gần 5.200 tỷ đồng sau 6 tháng, dư nợ cho vay tiến sát 400 nghìn tỷ đồng

(TBTCO) - VIB ghi nhận lợi nhuận trước thuế 6 tháng đầu năm 2026 đạt 5.185,7 tỷ đồng, tăng 3,4% so với cùng kỳ, nhờ tăng trưởng thu nhập lãi và dịch vụ. Hoạt động cho vay tiếp tục mở rộng với dư nợ đạt hơn 397 nghìn tỷ đồng, chất lượng tài sản được cải thiện, trong khi ngân hàng chủ động tăng cường trích lập dự phòng rủi ro.
Lãi suất vay mua nhà "neo" hai con số, kỳ vọng hạ nhiệt không dễ

Lãi suất vay mua nhà "neo" hai con số, kỳ vọng hạ nhiệt không dễ

(TBTCO) - Lãi suất vay mua nhà lên hai con số ngay giai đoạn ưu đãi, trong khi nhiều khoản vay bước vào giai đoạn lãi suất thả nổi, khiến áp lực trả nợ gia tăng và sức cầu bất động sản suy yếu. Dù người mua nhà mong ngóng "hạ nhiệt", kịch bản giảm lãi suất vẫn khó xảy ra, ít nhất trong năm 2026.
PVI sắp cán đích kế hoạch lợi nhuận chỉ sau 6 tháng, danh mục đầu tư tiến sát 20.000 tỷ đồng

PVI sắp cán đích kế hoạch lợi nhuận chỉ sau 6 tháng, danh mục đầu tư tiến sát 20.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, PVI ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt gần 1.240 tỷ đồng, tăng 31,8% so với cùng kỳ và gần cán đích kế hoạch năm. Động lực tăng trưởng đến từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm, lợi nhuận tài chính cải thiện nhờ danh mục đầu tư mở rộng lên gần 20.000 tỷ đồng, trong khi hoạt động tái bảo hiểm phát huy hiệu quả.
"Tiếp sức" hộ kinh doanh: Không để lỡ thời điểm kinh doanh vì thiếu vốn

"Tiếp sức" hộ kinh doanh: Không để lỡ thời điểm kinh doanh vì thiếu vốn

(TBTCO) - Nhu cầu bổ sung vốn lưu động thường phát sinh vào những thời điểm quan trọng như nhập hàng, mở rộng quy mô hay chuẩn bị cho mùa kinh doanh cao điểm. Tuy nhiên, không phải hộ kinh doanh nào cũng dễ dàng tiếp cận nguồn vốn kịp thời, nhất là khi thiếu tài sản bảo đảm hoặc cần giải ngân trong thời gian ngắn.
Gia cố "tấm lưới" bảo hiểm để bảo vệ cho hoạt động đầu tư xây dựng

Gia cố "tấm lưới" bảo hiểm để bảo vệ cho hoạt động đầu tư xây dựng

(TBTCO) - Tiếp tục gia cố và mở rộng "tấm lưới" bảo hiểm bắt buộc cho hàng nghìn công trình, các quy định mới còn định rõ điều kiện xem xét tăng, giảm hoặc không giảm phí, góp phần hạn chế cạnh tranh bằng cách hạ phí, nâng chuẩn quản trị rủi ro và bảo đảm an toàn tài chính cho chính doanh nghiệp bảo hiểm.
Tỷ giá USD hôm nay (25/7): USD nối dài chuỗi tăng, thị trường chờ quyết định lãi suất các ngân hàng trung ương

Tỷ giá USD hôm nay (25/7): USD nối dài chuỗi tăng, thị trường chờ quyết định lãi suất các ngân hàng trung ương

Sáng 25/7, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.283 đồng, tăng 29 đồng so với cuối tuần trước, nối dài chuỗi tăng lên 11 tuần liên tiếp và chỉ còn cách đỉnh lịch sử 15 đồng. Chỉ số DXY lên 101,46 điểm, cao nhất từ cuối tháng 3/2025, tâm điểm thị trường tuần tới sẽ là các cuộc họp chính sách, lãi suất của các ngân hàng trung ương lớn Fed, BoE và BoJ.
Giá vàng hôm nay ngày 25/7: Vàng thế giới tăng nhẹ, vàng trong nước tiếp đà giảm sâu

Giá vàng hôm nay ngày 25/7: Vàng thế giới tăng nhẹ, vàng trong nước tiếp đà giảm sâu

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh mức 4.053 USD/ounce, tăng nhẹ so với cùng thời điểm sáng qua. Trong khi đó, giá vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh, với vàng miếng tại nhiều doanh nghiệp giảm tới 6,5 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,200 ▼1400K 141,200 ▼1400K
Hà Nội - PNJ 136,200 ▼1400K 141,200 ▼1400K
Đà Nẵng - PNJ 136,200 ▼1400K 141,200 ▼1400K
Miền Tây - PNJ 136,200 ▼1400K 141,200 ▼1400K
Tây Nguyên - PNJ 136,200 ▼1400K 141,200 ▼1400K
Đông Nam Bộ - PNJ 136,200 ▼1400K 141,200 ▼1400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,750 ▼150K 14,150 ▼150K
Miếng SJC Nghệ An 13,750 ▼150K 14,150 ▼150K
Miếng SJC Thái Bình 13,750 ▼150K 14,150 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,750 ▼150K 14,150 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,750 ▼150K 14,150 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,750 ▼150K 14,150 ▼150K
NL 99.99 12,950 ▼50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,850 ▼50K
Trang sức 99.9 13,340 ▼150K 14,040 ▼150K
Trang sức 99.99 13,350 ▼150K 14,050 ▼150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,375 ▲1236K 14,152 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,375 ▲1236K 14,153 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 137 ▼1248K 141 ▼1284K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 137 ▼1248K 1,411 ▼15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 134 ▼1221K 139 ▼1266K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,624 ▼1485K 137,624 ▼1485K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,461 ▼86275K 10,441 ▼95095K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,879 ▲84020K 94,679 ▲93722K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,148 ▼916K 84,948 ▼916K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,395 ▲64168K 81,195 ▲72988K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,319 ▼625K 58,119 ▼625K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Cập nhật: 28/07/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17813 18087 18659
CAD 18116 18391 19006
CHF 31494 31874 32518
CNY 0 3850 3942
EUR 29295 29515 30592
GBP 34191 34582 35512
HKD 0 3227 3429
JPY 154 158 164
KRW 0 16 18
NZD 0 14872 15456
SGD 19834 20116 20683
THB 698 761 814
USD (1,2) 26068 0 0
USD (5,10,20) 26109 0 0
USD (50,100) 26137 26147 26511
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,140 26,140 26,520
USD(1-2-5) 25,095 - -
USD(10-20) 25,095 - -
EUR 29,411 29,435 30,839
JPY 154.62 154.9 165.9
GBP 34,355 34,448 35,636
AUD 18,001 18,066 18,753
CAD 18,296 18,355 19,031
CHF 31,727 31,826 32,770
SGD 19,944 20,006 20,788
CNY - 3,815 3,961
HKD 3,290 3,300 3,438
KRW 16.59 17.3 18.82
THB 745.63 754.84 808.07
NZD 14,849 14,987 15,429
SEK - 2,657 2,751
DKK - 3,935 4,073
NOK - 2,673 2,771
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,020.68 - 6,796.06
TWD 733.03 - 887.92
SAR - 6,894.3 7,260.88
KWD - 83,206 88,522
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,120 26,135 26,515
EUR 29,394 29,512 30,703
GBP 34,381 34,519 35,547
HKD 3,289 3,302 3,419
CHF 31,623 31,750 32,665
JPY 156.73 157.36 165.26
AUD 18,056 18,129 18,725
SGD 20,034 20,114 20,703
THB 762 765 801
CAD 18,316 18,390 18,966
NZD 14,953 15,496
KRW 17.14 19
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26510
AUD 18057 18157 19080
CAD 18297 18397 19409
CHF 31749 31779 33369
CNY 3831.5 3856.5 3991.9
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29495 29525 31250
GBP 34498 34548 36306
HKD 0 3355 0
JPY 157.27 157.77 168.29
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 14990 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 19999 20129 20856
THB 0 727 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13750000 13750000 14150000
SBJ 12500000 12500000 14150000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,159 26,209 26,530
USD20 26,109 26,209 26,536
USD1 26,059 26,209 26,571
AUD 18,057 18,157 19,264
EUR 29,286 29,386 31,045
CAD 18,248 18,348 19,654
SGD 20,067 20,217 20,781
JPY 157.75 159.25 164.8
GBP 34,399 34,549 35,770
XAU 13,748,000 0 14,152,000
CNY 0 3,740 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/07/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80