Đại hội đồng cổ đông Sacombank: Dồn lực tái cơ cấu, ưu tiên “đệm” dự phòng trước ngưỡng triệu tỷ

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Năm 2026, Sacombank đặt mục tiêu tài sản vượt 1 triệu tỷ đồng, lợi nhuận 8.100 tỷ đồng; kiểm soát nợ xấu dưới 4,5%; đồng thời thông qua các quyết sách mang tính “bước ngoặt. Lãnh đạo Sacombank cho biết, đã hoàn tất xử lý các tồn đọng tài chính và trích đủ dự phòng 100%, nhưng vẫn chờ xử lý 32,5% cổ phần tại VAMC. Sacombank sẽ tiếp tục ưu tiên trích lập dự phòng rủi ro, nâng cao tỷ lệ bao phủ nợ xấu.
aa
Gia cố “lớp đệm” dự phòng, lợi nhuận Sacombank 2025 giảm còn hơn 7.600 tỷ đồng Sacombank trước “ngã rẽ lớn”, trình Đại hội đồng cổ đông kế hoạch đổi tên, dời trụ sở Sacombank đặt mục tiêu giữ nợ xấu dưới 4,5%, "để dành" trên 30.000 tỷ đồng lợi nhuận

Đổi tên, dời trụ sở, hướng tới quy mô triệu tỷ

Ngày 22/4, tại Phú Thọ, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank - mã Ck: STB) tổ chức Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ). Tại đại hội xem xét báo cáo của Hội đồng quản trị (HĐQT) về kết quả hoạt động năm 2025 và định hướng năm 2026; phương án phân phối lợi nhuận năm 2025 và kế hoạch năm 2026; xem xét tờ trình miễn nhiệm thành viên Hội đồng quản trị (HĐQT). Đáng chú ý, đại hội trình nhiều nội dung mang tính “bước ngoặt” như: thay đổi địa điểm trụ sở chính, đổi tên, nhằm chuẩn bị cho giai đoạn phát triển mới.

Tại thời điểm 9 giờ ngày 22/4, đại hội có 135 cổ đông tham dự trực tiếp và ủy quyền, nắm giữ 1,52 tỷ cổ phần, tương đương 80,6% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết của Sacombank.

Đại hội đồng cổ đông Sacombank
Sacombank tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên tại Phú Thọ.

Đưa tổng tài sản vượt 1 triệu tỷ đồng

Năm 2026, Sacombank đặt mục tiêu kiểm soát tỷ lệ nợ xấu nội bảng dưới 4,5%. Tổng tài sản vượt 1 triệu tỷ đồng, tăng 10%; dư nợ tín dụng đạt 699.400 tỷ đồng, tăng 12%, hoặc không vượt hạn mức Ngân hàng Nhà nước phê duyệt. Tổng huy động đạt 921.300 tỷ đồng, tăng 10% và điều hành linh hoạt theo tăng trưởng tín dụng.

Lợi nhuận trước thuế đạt 8.100 tỷ đồng, tăng 6%; đồng thời, đảm bảo các tỷ lệ an toàn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.

Tại đại hội, ông Phan Đình Tuệ - Thành viên HĐQT trình bày báo cáo của Hội đồng quản trị về kết quả hoạt động năm 2025 và định hướng năm 2026.

Ông Phan Đình Tuệ nêu rõ, trong bối cảnh xung đột vũ trang và căng thẳng địa chính trị ngày càng leo thang trên thế giới, tạo ra những diễn biến phức tạp, bất khả kháng đối với nền kinh tế toàn cầu nói chung và Việt Nam nói riêng.

Điều này có khả năng phát sinh các tác động kém tích cực và khó dự báo đến quá trình thực hiện kế hoạch kinh doanh của Sacombank.

Do đó, nhằm tạo sự chủ động, linh hoạt trong công tác quản trị điều hành, kịp thời thích ứng với diễn biến thị trường, HĐQT trình ĐHĐCĐ xem xét ủy quyền cho HĐQT được chủ động điều chỉnh kế hoạch kinh doanh, trên cơ sở phù hợp với tình hình thực tế và quy định pháp luật đảm bảo sự tăng trưởng ổn định, bền vững và mang lại hiệu quả cao nhất cho ngân hàng.

Đại hội đồng cổ đông Sacombank: Dồn lực tái cơ cấu, ưu tiên “đệm” dự phòng trước ngưỡng triệu tỷ
Đồ họa: Ánh Tuyết.

Tại đại hội, trình bày tờ trình thay đổi địa chỉ trụ sở chính của Sacombank; thay đổi tên ngân hàng; tờ trình miễn nhiệm Thành viên HĐQT; bầu bổ sung Thành viên HĐQT nhiệm kỳ 2022 - 2026. Ứng viên là ông Nguyễn Đức Thụy, hiện là Tổng Giám đốc của Sacombank.

Hội đồng quản trị trình ĐHĐCĐ về việc thay đổi tên ngân hàng từ “Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín” thành “Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Tài Lộc". Tên đầy đủ bằng tiếng Anh đổi từ “Sai Gon Thuong Tin Joint Stock Commercial Bank" thành “Saigon Treasure Commercial Joint Stock Bank". Tên giao dịch/tên viết tắt bằng tiếng Anh đổi từ "Sacombank" thành "SACOMBANK".

Trích lập dự phòng 100%, chờ "mở khóa" 32,5% cổ phần tại VAMC

Ông Hà Văn Trung - Phó Tổng giám đốc thường trực trình bày phương án phân phối lợi nhuận của Sacombank năm 2025. Theo đó, sau khi trích lập các quỹ, lợi nhuận còn lại năm 2025 đạt 4.770,1 tỷ đồng. Cộng với lợi nhuận giữ lại các năm trước 25.355,1 tỷ đồng, tổng lợi nhuận giữ lại lũy kế của Sacombank lên tới 30.125,2 tỷ đồng.

Như vậy, Sacombank tiếp tục ưu tiên tích lũy vốn và củng cố nền tảng tài chính thay vì chia cổ tức, tạo dư địa cho xử lý tồn đọng và tăng trưởng trong các năm tới

Đại hội đồng cổ đông Sacombank: Dồn lực tái cơ cấu, ưu tiên “đệm” dự phòng trước ngưỡng triệu tỷ
Nguồn: Sacombank.

Tại ĐHĐCĐ Sacombank, cổ đông tập trung chất vấn loạt vấn đề cốt lõi xoay quanh tái cơ cấu, chất lượng tài sản và hiệu quả kinh doanh. Cụ thể, cổ đông quan tâm tiến độ thực hiện đề án tái cơ cấu đến cuối năm 2025; thời điểm xử lý dứt điểm 32,5% cổ phần liên quan ông Trầm Bê; nguyên nhân nợ xấu tăng mạnh trong năm 2025 và khả năng thu hồi.

Bên cạnh đó, kế hoạch lợi nhuận 2026 ở mức 8.100 tỷ đồng được đánh giá khá thận trọng, dù ngân hàng đã trích lập dự phòng cao cũng gây nhiều băn khoăn. Ngoài ra, cổ đông đặt vấn đề về xu hướng suy giảm NIM và định hướng cải thiện thời gian tới; cập nhật nhanh kết quả kinh doanh quý I/2026; chiến lược kinh doanh sắp tới; yêu cầu giải trình lý do đổi tên thương hiệu sau nhiều năm duy trì nhận diện cũ...

Trả lời câu hỏi của cổ đông, ông Phan Đình Tuệ - Thành viên HĐQT nêu rõ, trong nhiều năm vừa qua, Sacombank đã quyết liệt triển khai nhiều biện pháp để hoàn thành đề án, đến nay đã hoàn tất xử lý các tồn đọng tài chính và đặc biệt trích lập dự phòng 100%.

Một trong những nội dung hết sức quan trọng của đề án tái cơ cấu là việc xử lý cổ phần 32,5% bị phong tỏa tại VAMC, bởi khi xử lý xong mới đảm bảo tỷ lệ nợ xấu theo quy định và đưa ngân hàng trở lại trạng thái hoạt động bình thường. Hiện tỷ lệ nợ xấu Sacombank cuối năm 2025 đang ở mức 5,01%, đây là nội dung cần tiếp tục xử lý.

Tuy nhiên, việc xử lý cổ phần tại VAMC phải được Ngân hàng Nhà nước phê duyệt. "Năm 2026, HĐQT sẽ tiếp tục làm việc với Ngân hàng Nhà nước để thông qua phương án xử lý, song còn phải phụ thuộc và cũng cố gắng trong năm 2026, nếu thuận lợi sẽ được thông qua" - ông Tuệ nhấn mạnh.

Dù vậy, theo lãnh đạo Sacombank, việc xử lý cổ phần tại VAMC có thể kéo dài thêm một số năm, HĐQT cam kết sẽ nỗ lực tối đa để hoàn thành đề án.

Về nợ xấu, ông Phan Đình Tuệ - Thành viên HĐQT cho biết, nguyên nhân nợ xấu gia tăng trong năm 2025 đến từ bối cảnh bên ngoài, đặc biệt các chính sách thuế của Mỹ và biến động toàn cầu ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất kinh doanh, nhất là nhóm khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ, dẫn đến phát sinh nợ quá hạn. Đồng thời, việc không còn áp dụng cơ chế cơ cấu nợ như trước khiến các khoản vay phải chuyển nhóm và trích lập dự phòng.

Bên cạnh đó, quá trình xử lý nợ gặp vướng mắc pháp lý, thời gian kéo dài và khối lượng hồ sơ lớn cũng khiến việc giảm nhanh tỷ lệ nợ xấu gặp khó khăn. "Tất cả các khoản nợ xấu của ngân hàng phần lớn đều có tài sản đảm bảo và theo nhận định của chúng tôi, đủ bù đắp nghĩa vụ nợ của khách hàng. Do đó, khả năng thu hồi vốn được đánh giá rất cao, tuy nhiên, tiến độ xử lý còn phụ thuộc vào thị trường" - ông Tuệ nêu rõ./.

Không chạy theo tăng trưởng nóng, lãi quý I đạt 44% kế hoạch

Thông tin tới cổ đông về kế hoạch lợi nhuận 8.100 tỷ đồng năm 2026, ông Phan Đình Tuệ - Thành viên HĐQT cho biết, ngân hàng lựa chọn kịch bản tăng trưởng thận trọng, bắt nguồn từ chiến lược của ngân hàng trong các hoạt động sắp tới.

"Chúng tôi muốn gia tăng nội lực dự phòng nhằm chủ động xử lý nợ xấu và tạo nên nền tảng trong bối cảnh rủi ro cũng đang gia tăng. Thay vì chúng ta chạy theo con số tăng trưởng nóng, Sacombank lựa chọn phương án tối ưu, ưu tiên trích lập dự phòng rủi ro, nâng cao tỷ lệ bao phủ nợ xấu, tạo nền tảng tài chính vững chắc trong tương lai trước những biến động khó lường của toàn cầu cũng như thị trường" - ông Tuệ nhấn mạnh.

Về kết quả kinh doanh quý I/2026, lãnh đạo Sacombank bật mí, dư nợ tín dụng đạt 627 nghìn tỷ đồng, tăng nhẹ 567 tỷ đồng. Lợi nhuận trước thuế đạt 3.572 tỷ đồng, tương đương 44% kế hoạch, chủ yếu nhờ nỗ lực tiết giảm chi phí và tối ưu vận hành./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Ngân hàng Phương Đông khẳng định không liên quan đến tiền điện tử OCB

Ngân hàng Phương Đông khẳng định không liên quan đến tiền điện tử OCB

(TBTCO) - Ngân hàng Phương Đông (OCB) khẳng định, không phát hành, tham gia hay liên kết với bất kỳ dự án tiền điện tử, tiền ảo, token hay blockchain nào mang tên “OCB token”.
Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua, từ ngày 11 - 15/5 cho thấy, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng tiếp tục neo cao vùng 6 - 7%/năm, trong khi nhà điều hành duy trì trạng thái hút ròng nhẹ 5.873 tỷ đồng qua kênh OMO. Tuần qua, tỷ giá trung tâm tăng mạnh nhất trong 2 tháng trở lại đây, trong bối cảnh DXY bật tăng lên trên 99 điểm.
Dòng vốn qua VDB đóng góp quan trọng vào chiến lược phát triển của đất nước

Dòng vốn qua VDB đóng góp quan trọng vào chiến lược phát triển của đất nước

(TBTCO) - Qua 20 năm hoạt động, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đã có nhiều đóng góp quan trọng đối với việc huy động nguồn lực hỗ trợ đầu tư phát triển hạ tầng có quy mô lớn, trọng điểm có ý nghĩa chiến lược của đất nước, bảo đảm an sinh xã hội, thúc đẩy tăng trưởng, qua đó góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững của đất nước.
Thay đổi cách tính LDR, ngân hàng “big 4” hưởng lợi lớn từ tiền gửi Kho bạc Nhà nước

Thay đổi cách tính LDR, ngân hàng “big 4” hưởng lợi lớn từ tiền gửi Kho bạc Nhà nước

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành Thông tư số 08/2026/TT-NHNN, cho phép các ngân hàng được tính 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào công thức xác định tỷ lệ LDR. Động thái này được đánh giá sẽ hỗ trợ đáng kể thanh khoản và dư địa tăng trưởng tín dụng, đặc biệt với nhóm ngân hàng "big 4".
Ngân hàng Phát triển Việt Nam: 20 năm kiến tạo động lực tăng trưởng kinh tế - xã hội đất nước

Ngân hàng Phát triển Việt Nam: 20 năm kiến tạo động lực tăng trưởng kinh tế - xã hội đất nước

(TBTCO) - “Mỗi giai đoạn hình thành và phát triển của Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đều mang dấu ấn riêng, phản ánh những nỗ lực không ngừng trong việc thực hiện sứ mệnh đồng hành cùng đất nước” - đó là chia sẻ của Tổng Giám đốc VDB Đào Quang Trường với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư về chặng đường 20 năm hình thành và phát triển.
VDB và hành trình làm “đòn bẩy” cho các dự án trọng điểm quốc gia

VDB và hành trình làm “đòn bẩy” cho các dự án trọng điểm quốc gia

(TBTCO) - Trong suốt 20 năm qua, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đã phát huy hiệu quả vai trò là công cụ điều tiết và dẫn dắt dòng vốn đầu tư vào các lĩnh vực ưu tiên, góp phần tạo lập nguồn lực cho nền kinh tế và thúc đẩy phát triển thị trường vốn, đặc biệt là thị trường vốn trung và dài hạn.
Doanh nghiệp bảo hiểm tìm động lực tăng trưởng mới

Doanh nghiệp bảo hiểm tìm động lực tăng trưởng mới

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ tiếp đà tăng tích cực 9,88%, với doanh thu phí gốc ước đạt 16.140 tỷ đồng hai tháng đầu năm và ghi nhận nhiều biến động đáng chú ý về tốc độ tăng trưởng, cũng như cục diện thị phần giữa các doanh nghiệp. Hiện nhiều doanh nghiệp đang chuyển dịch cơ cấu nghiệp vụ, tìm động lực tăng trưởng mới trong bảo hiểm kỹ thuật, dự án.
Fubon Life Việt Nam lần thứ 11 được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2025 - 2026

Fubon Life Việt Nam lần thứ 11 được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2025 - 2026

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Fubon Việt Nam (Fubon Life Việt Nam) tiếp tục khẳng định vị thế và uy tín trên thị trường bảo hiểm nhân thọ khi lần thứ 11 liên tiếp được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2025 - 2026 do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức và bình chọn.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,050 16,350
Kim TT/AVPL 16,050 16,350
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,050 16,350
Nguyên Liệu 99.99 14,900 15,100
Nguyên Liệu 99.9 14,850 15,050
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,800 16,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,750 16,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,680 16,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 160,500 163,500
Hà Nội - PNJ 160,500 163,500
Đà Nẵng - PNJ 160,500 163,500
Miền Tây - PNJ 160,500 163,500
Tây Nguyên - PNJ 160,500 163,500
Đông Nam Bộ - PNJ 160,500 163,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,050 16,350
Miếng SJC Nghệ An 16,050 16,350
Miếng SJC Thái Bình 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,050 16,350
NL 99.90 14,800
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,850
Trang sức 99.9 15,540 16,240
Trang sức 99.99 15,550 16,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,605 16,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,605 16,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,603 1,633
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,603 1,634
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,583 1,618
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 153,698 160,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 112,612 121,512
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 101,285 110,185
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 89,958 98,858
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 85,589 94,489
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,727 67,627
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Cập nhật: 18/05/2026 06:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18301 18577 19164
CAD 18631 18909 19526
CHF 32817 33202 33870
CNY 0 3828 3922
EUR 30000 30273 31307
GBP 34301 34692 35644
HKD 0 3234 3437
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15075 15660
SGD 20029 20311 20846
THB 721 785 838
USD (1,2) 26085 0 0
USD (5,10,20) 26127 0 0
USD (50,100) 26155 26175 26387
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,387
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 30,226 30,250 31,536
JPY 162.13 162.42 171.38
GBP 34,641 34,735 35,763
AUD 18,582 18,649 19,254
CAD 18,864 18,925 19,525
CHF 33,206 33,309 34,128
SGD 20,231 20,294 20,992
CNY - 3,810 3,936
HKD 3,306 3,316 3,438
KRW 16.23 16.93 18.32
THB 773.31 782.86 833.96
NZD 15,150 15,291 15,666
SEK - 2,756 2,839
DKK - 4,045 4,166
NOK - 2,788 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,251.56 - 7,023.92
TWD 755.84 - 911.05
SAR - 6,921.22 7,253.27
KWD - 83,938 88,860
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,127 26,147 26,387
EUR 30,132 30,253 31,433
GBP 34,618 34,757 35,761
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 32,980 33,112 34,046
JPY 162.31 162.96 170.32
AUD 18,625 18,700 19,292
SGD 20,269 20,350 20,932
THB 791 794 829
CAD 18,826 18,902 19,474
NZD 15,270 15,803
KRW 16.85 18.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26207 26207 26387
AUD 18486 18586 19514
CAD 18814 18914 19929
CHF 33126 33156 34735
CNY 3809.5 3834.5 3969.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30198 30228 31954
GBP 34689 34739 36497
HKD 0 3355 0
JPY 162.76 163.26 173.77
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15204 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20208 20338 21066
THB 0 752 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16100000 16100000 16400000
SBJ 14000000 14000000 16400000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,181 26,231 26,387
USD20 26,181 26,231 26,387
USD1 23,875 26,231 26,387
AUD 18,520 18,620 19,725
EUR 30,333 30,333 31,742
CAD 18,756 18,856 20,162
SGD 20,279 20,429 20,989
JPY 163.22 164.72 169.26
GBP 34,542 34,892 35,748
XAU 16,098,000 0 16,402,000
CNY 0 3,719 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 18/05/2026 06:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80