Đại hội đồng cổ đông Sacombank: Dồn lực tái cơ cấu, ưu tiên “đệm” dự phòng trước ngưỡng triệu tỷ

(TBTCO) - Năm 2026, Sacombank đặt mục tiêu tài sản vượt 1 triệu tỷ đồng, lợi nhuận 8.100 tỷ đồng; kiểm soát nợ xấu dưới 4,5%; đồng thời thông qua các quyết sách mang tính “bước ngoặt. Lãnh đạo Sacombank cho biết, đã hoàn tất xử lý các tồn đọng tài chính và trích đủ dự phòng 100%, nhưng vẫn chờ xử lý 32,5% cổ phần tại VAMC. Sacombank sẽ tiếp tục ưu tiên trích lập dự phòng rủi ro, nâng cao tỷ lệ bao phủ nợ xấu.
aa
Gia cố “lớp đệm” dự phòng, lợi nhuận Sacombank 2025 giảm còn hơn 7.600 tỷ đồng Sacombank trước “ngã rẽ lớn”, trình Đại hội đồng cổ đông kế hoạch đổi tên, dời trụ sở Sacombank đặt mục tiêu giữ nợ xấu dưới 4,5%, "để dành" trên 30.000 tỷ đồng lợi nhuận

Đổi tên, dời trụ sở, hướng tới quy mô triệu tỷ

Ngày 22/4, tại Phú Thọ, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank - mã Ck: STB) tổ chức Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ). Tại đại hội xem xét báo cáo của Hội đồng quản trị (HĐQT) về kết quả hoạt động năm 2025 và định hướng năm 2026; phương án phân phối lợi nhuận năm 2025 và kế hoạch năm 2026; xem xét tờ trình miễn nhiệm thành viên Hội đồng quản trị (HĐQT). Đáng chú ý, đại hội trình nhiều nội dung mang tính “bước ngoặt” như: thay đổi địa điểm trụ sở chính, đổi tên, nhằm chuẩn bị cho giai đoạn phát triển mới.

Tại thời điểm 9 giờ ngày 22/4, đại hội có 135 cổ đông tham dự trực tiếp và ủy quyền, nắm giữ 1,52 tỷ cổ phần, tương đương 80,6% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết của Sacombank.

Đại hội đồng cổ đông Sacombank
Sacombank tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên tại Phú Thọ.

Đưa tổng tài sản vượt 1 triệu tỷ đồng

Năm 2026, Sacombank đặt mục tiêu kiểm soát tỷ lệ nợ xấu nội bảng dưới 4,5%. Tổng tài sản vượt 1 triệu tỷ đồng, tăng 10%; dư nợ tín dụng đạt 699.400 tỷ đồng, tăng 12%, hoặc không vượt hạn mức Ngân hàng Nhà nước phê duyệt. Tổng huy động đạt 921.300 tỷ đồng, tăng 10% và điều hành linh hoạt theo tăng trưởng tín dụng.

Lợi nhuận trước thuế đạt 8.100 tỷ đồng, tăng 6%; đồng thời, đảm bảo các tỷ lệ an toàn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.

Tại đại hội, ông Phan Đình Tuệ - Thành viên HĐQT trình bày báo cáo của Hội đồng quản trị về kết quả hoạt động năm 2025 và định hướng năm 2026.

Ông Phan Đình Tuệ nêu rõ, trong bối cảnh xung đột vũ trang và căng thẳng địa chính trị ngày càng leo thang trên thế giới, tạo ra những diễn biến phức tạp, bất khả kháng đối với nền kinh tế toàn cầu nói chung và Việt Nam nói riêng.

Điều này có khả năng phát sinh các tác động kém tích cực và khó dự báo đến quá trình thực hiện kế hoạch kinh doanh của Sacombank.

Do đó, nhằm tạo sự chủ động, linh hoạt trong công tác quản trị điều hành, kịp thời thích ứng với diễn biến thị trường, HĐQT trình ĐHĐCĐ xem xét ủy quyền cho HĐQT được chủ động điều chỉnh kế hoạch kinh doanh, trên cơ sở phù hợp với tình hình thực tế và quy định pháp luật đảm bảo sự tăng trưởng ổn định, bền vững và mang lại hiệu quả cao nhất cho ngân hàng.

Đại hội đồng cổ đông Sacombank: Dồn lực tái cơ cấu, ưu tiên “đệm” dự phòng trước ngưỡng triệu tỷ
Đồ họa: Ánh Tuyết.

Tại đại hội, trình bày tờ trình thay đổi địa chỉ trụ sở chính của Sacombank; thay đổi tên ngân hàng; tờ trình miễn nhiệm Thành viên HĐQT; bầu bổ sung Thành viên HĐQT nhiệm kỳ 2022 - 2026. Ứng viên là ông Nguyễn Đức Thụy, hiện là Tổng Giám đốc của Sacombank.

Hội đồng quản trị trình ĐHĐCĐ về việc thay đổi tên ngân hàng từ “Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín” thành “Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Tài Lộc". Tên đầy đủ bằng tiếng Anh đổi từ “Sai Gon Thuong Tin Joint Stock Commercial Bank" thành “Saigon Treasure Commercial Joint Stock Bank". Tên giao dịch/tên viết tắt bằng tiếng Anh đổi từ "Sacombank" thành "SACOMBANK".

Trích lập dự phòng 100%, chờ "mở khóa" 32,5% cổ phần tại VAMC

Ông Hà Văn Trung - Phó Tổng giám đốc thường trực trình bày phương án phân phối lợi nhuận của Sacombank năm 2025. Theo đó, sau khi trích lập các quỹ, lợi nhuận còn lại năm 2025 đạt 4.770,1 tỷ đồng. Cộng với lợi nhuận giữ lại các năm trước 25.355,1 tỷ đồng, tổng lợi nhuận giữ lại lũy kế của Sacombank lên tới 30.125,2 tỷ đồng.

Như vậy, Sacombank tiếp tục ưu tiên tích lũy vốn và củng cố nền tảng tài chính thay vì chia cổ tức, tạo dư địa cho xử lý tồn đọng và tăng trưởng trong các năm tới

Đại hội đồng cổ đông Sacombank: Dồn lực tái cơ cấu, ưu tiên “đệm” dự phòng trước ngưỡng triệu tỷ
Nguồn: Sacombank.

Tại ĐHĐCĐ Sacombank, cổ đông tập trung chất vấn loạt vấn đề cốt lõi xoay quanh tái cơ cấu, chất lượng tài sản và hiệu quả kinh doanh. Cụ thể, cổ đông quan tâm tiến độ thực hiện đề án tái cơ cấu đến cuối năm 2025; thời điểm xử lý dứt điểm 32,5% cổ phần liên quan ông Trầm Bê; nguyên nhân nợ xấu tăng mạnh trong năm 2025 và khả năng thu hồi.

Bên cạnh đó, kế hoạch lợi nhuận 2026 ở mức 8.100 tỷ đồng được đánh giá khá thận trọng, dù ngân hàng đã trích lập dự phòng cao cũng gây nhiều băn khoăn. Ngoài ra, cổ đông đặt vấn đề về xu hướng suy giảm NIM và định hướng cải thiện thời gian tới; cập nhật nhanh kết quả kinh doanh quý I/2026; chiến lược kinh doanh sắp tới; yêu cầu giải trình lý do đổi tên thương hiệu sau nhiều năm duy trì nhận diện cũ...

Trả lời câu hỏi của cổ đông, ông Phan Đình Tuệ - Thành viên HĐQT nêu rõ, trong nhiều năm vừa qua, Sacombank đã quyết liệt triển khai nhiều biện pháp để hoàn thành đề án, đến nay đã hoàn tất xử lý các tồn đọng tài chính và đặc biệt trích lập dự phòng 100%.

Một trong những nội dung hết sức quan trọng của đề án tái cơ cấu là việc xử lý cổ phần 32,5% bị phong tỏa tại VAMC, bởi khi xử lý xong mới đảm bảo tỷ lệ nợ xấu theo quy định và đưa ngân hàng trở lại trạng thái hoạt động bình thường. Hiện tỷ lệ nợ xấu Sacombank cuối năm 2025 đang ở mức 5,01%, đây là nội dung cần tiếp tục xử lý.

Tuy nhiên, việc xử lý cổ phần tại VAMC phải được Ngân hàng Nhà nước phê duyệt. "Năm 2026, HĐQT sẽ tiếp tục làm việc với Ngân hàng Nhà nước để thông qua phương án xử lý, song còn phải phụ thuộc và cũng cố gắng trong năm 2026, nếu thuận lợi sẽ được thông qua" - ông Tuệ nhấn mạnh.

Dù vậy, theo lãnh đạo Sacombank, việc xử lý cổ phần tại VAMC có thể kéo dài thêm một số năm, HĐQT cam kết sẽ nỗ lực tối đa để hoàn thành đề án.

Về nợ xấu, ông Phan Đình Tuệ - Thành viên HĐQT cho biết, nguyên nhân nợ xấu gia tăng trong năm 2025 đến từ bối cảnh bên ngoài, đặc biệt các chính sách thuế của Mỹ và biến động toàn cầu ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất kinh doanh, nhất là nhóm khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ, dẫn đến phát sinh nợ quá hạn. Đồng thời, việc không còn áp dụng cơ chế cơ cấu nợ như trước khiến các khoản vay phải chuyển nhóm và trích lập dự phòng.

Bên cạnh đó, quá trình xử lý nợ gặp vướng mắc pháp lý, thời gian kéo dài và khối lượng hồ sơ lớn cũng khiến việc giảm nhanh tỷ lệ nợ xấu gặp khó khăn. "Tất cả các khoản nợ xấu của ngân hàng phần lớn đều có tài sản đảm bảo và theo nhận định của chúng tôi, đủ bù đắp nghĩa vụ nợ của khách hàng. Do đó, khả năng thu hồi vốn được đánh giá rất cao, tuy nhiên, tiến độ xử lý còn phụ thuộc vào thị trường" - ông Tuệ nêu rõ./.

Không chạy theo tăng trưởng nóng, lãi quý I đạt 44% kế hoạch

Thông tin tới cổ đông về kế hoạch lợi nhuận 8.100 tỷ đồng năm 2026, ông Phan Đình Tuệ - Thành viên HĐQT cho biết, ngân hàng lựa chọn kịch bản tăng trưởng thận trọng, bắt nguồn từ chiến lược của ngân hàng trong các hoạt động sắp tới.

"Chúng tôi muốn gia tăng nội lực dự phòng nhằm chủ động xử lý nợ xấu và tạo nên nền tảng trong bối cảnh rủi ro cũng đang gia tăng. Thay vì chúng ta chạy theo con số tăng trưởng nóng, Sacombank lựa chọn phương án tối ưu, ưu tiên trích lập dự phòng rủi ro, nâng cao tỷ lệ bao phủ nợ xấu, tạo nền tảng tài chính vững chắc trong tương lai trước những biến động khó lường của toàn cầu cũng như thị trường" - ông Tuệ nhấn mạnh.

Về kết quả kinh doanh quý I/2026, lãnh đạo Sacombank bật mí, dư nợ tín dụng đạt 627 nghìn tỷ đồng, tăng nhẹ 567 tỷ đồng. Lợi nhuận trước thuế đạt 3.572 tỷ đồng, tương đương 44% kế hoạch, chủ yếu nhờ nỗ lực tiết giảm chi phí và tối ưu vận hành./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ trước quy định mới về phòng, chống rửa tiền

Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ trước quy định mới về phòng, chống rửa tiền

(TBTCO) - Các quy định mới về phòng, chống rửa tiền đặt ra yêu cầu đối với doanh nghiệp bảo hiểm trong việc xác định chủ sở hữu hưởng lợi, nhận biết khách hàng, kiểm soát giao dịch... Việc tuân thủ pháp luật không chỉ giúp doanh nghiệp phòng ngừa rủi ro, bảo vệ quyền lợi khách hàng, mà còn góp phần củng cố niềm tin vào thị trường bảo hiểm.
Tổng đài AI Lumi của LPBank thắng Giải thưởng Chuyển đổi số Việt Nam 2026

Tổng đài AI Lumi của LPBank thắng Giải thưởng Chuyển đổi số Việt Nam 2026

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) được vinh danh tại Giải thưởng Chuyển đổi số Việt Nam lần thứ 9 – Vietnam Digital Awards 2026, hạng mục Doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp chuyển đổi số xuất sắc với giải pháp Lumi – AI Customer Experience Platform (Lumi). Giải thưởng ghi nhận hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và khai thác dữ liệu theo thời gian thực nhằm mang lại trải nghiệm chăm sóc khách hàng vượt trội, nhanh chóng và thuận tiện.
Giá vàng hôm nay ngày 27/10: Giá vàng thế giới tăng trở lại, vàng nhẫn trong nước giảm

Giá vàng hôm nay ngày 27/10: Giá vàng thế giới tăng trở lại, vàng nhẫn trong nước giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 14 USD/ounce, lên quanh 4.017 USD/ounce. Trong nước, vàng nhẫn tại PNJ giảm 400.000 đồng/lượng, còn vàng miếng DOJI giảm 300.000 đồng/lượng.
Ngân hàng chuyển mình cùng "làn sóng" AI Agent

Ngân hàng chuyển mình cùng "làn sóng" AI Agent

(TBTCO) - Trong vài năm tới, dự báo khoảng 50% giao dịch ngân hàng có thể được thực hiện qua các tác nhân trí tuệ nhân tạo (AI Agent), kỳ vọng giúp ngân hàng tối ưu chi phí, tăng lợi nhuận và thay đổi cách khách hàng sử dụng dịch vụ. Song điều này cũng đặt ra yêu cầu kiểm soát rủi ro chặt chẽ hơn, pháp lý theo kịp.
OCB lãi hơn 4.100 tỷ đồng sau 9 tháng, quy mô tổng tài sản "về đích" sớm

OCB lãi hơn 4.100 tỷ đồng sau 9 tháng, quy mô tổng tài sản "về đích" sớm

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, OCB lãi trước thuế 4.122,8 tỷ đồng, tăng 20,2% cùng kỳ. Động lực tăng trưởng đến từ thu nhập lãi thuần cải thiện, thu nhập ngoài lãi tăng mạnh 43%, cùng việc mở rộng các giải pháp tài chính phục vụ giao thương và thanh toán quốc tế. Tổng tài sản OCB đạt 363.726 tỷ đồng cuối tháng 9, vượt kế hoạch năm.
NAPAS đồng hành cùng các trung gian thanh toán khai phá tiềm năng, kiến tạo hệ sinh thái thanh toán bền vững

NAPAS đồng hành cùng các trung gian thanh toán khai phá tiềm năng, kiến tạo hệ sinh thái thanh toán bền vững

(TBTCO) - Tháng 10/2026, Công ty Cổ phần Thanh toán Quốc gia Việt Nam (NAPAS) tổ chức Hội nghị khách hàng 2026 dành cho các tổ chức thành viên là các trung gian thanh toán tại Nha Trang, với chủ đề “Từ nội địa vươn ra quốc tế - Song hành mở rộng thị trường thanh toán”.
SeABank công bố Khung Tài chính bền vững

SeABank công bố Khung Tài chính bền vững

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) chính thức công bố Khung Tài chính bền vững (Sustainable Finance Framework), được S&P Global Ratings đánh giá ý kiến độc lập (Second Party Opinion - SPO) ngày 24/09/2026. Đây là cơ sở để SeABank mở rộng huy động và phân bổ hiệu quả nguồn vốn cho các mục tiêu phát triển bền vững theo cam kết.
Daiichi Life Việt Nam: Top 500 doanh nghiệp lợi nhuận tốt nhất và Top 50 doanh nghiệp lợi nhuận xuất sắc Việt Nam 2026

Daiichi Life Việt Nam: Top 500 doanh nghiệp lợi nhuận tốt nhất và Top 50 doanh nghiệp lợi nhuận xuất sắc Việt Nam 2026

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Daiichi Việt Nam (Daiichi Life Việt Nam) tiếp tục được vinh danh trong “Top 500 Doanh nghiệp Lợi nhuận tốt nhất Việt Nam 2026” (PROFIT500 2026) và “Top 50 Doanh nghiệp Lợi nhuận Xuất sắc Việt Nam 2026” tại Lễ công bố Bảng xếp hạng PROFIT500 do Vietnam Report phối hợp cùng Báo VietNamNet tổ chức và trao giải.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 137,600 140,600
Hà Nội - PNJ 137,600 140,600
Đà Nẵng - PNJ 137,600 140,600
Miền Tây - PNJ 137,600 140,600
Tây Nguyên - PNJ 137,600 140,600
Đông Nam Bộ - PNJ 137,600 140,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,870 14,200 ▲30K
Miếng SJC Nghệ An 13,870 14,200 ▲30K
Miếng SJC Thái Bình 13,870 14,200 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,700 ▲10K 14,100 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,700 ▲10K 14,100 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,700 ▲10K 14,100 ▲10K
Trang sức 99.9 13,380 ▲10K 13,980 ▲10K
Trang sức 99.99 13,390 ▲10K 13,990 ▲10K
Vàng 99.9 12,900
Vàng 99.99 13,060
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1248K 142 ▼1275K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 139 ▼1248K 14,202 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 139 ▼1248K 14,203 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 135 139
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 135 1,391
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 133 138
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 129,634 136,634
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,386 10,366
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,199 93,999
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,538 84,338
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,812 80,612
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 47,902 57,702
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1248K 142 ▼1275K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1248K 142 ▼1275K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1248K 142 ▼1275K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1248K 142 ▼1275K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1248K 142 ▼1275K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1248K 142 ▼1275K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1248K 142 ▼1275K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1248K 142 ▼1275K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1248K 142 ▼1275K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1248K 142 ▼1275K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1248K 142 ▼1275K
Cập nhật: 27/10/2026 22:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17632 17905 18484
CAD 17901 18176 18793
CHF 30536 30912 31554
CNY 0 3832 3928
EUR 28169 28384 29467
GBP 33599 33987 34919
HKD 0 3162 3365
JPY 157 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14415 15000
SGD 19625 19906 20475
THB 681 744 797
USD (1,2) 25571 0 0
USD (5,10,20) 25609 0 0
USD (50,100) 25636 25650 26020
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,645 25,645 26,025
USD(1-2-5) 24,620 - -
USD(10-20) 24,620 - -
EUR 28,257 28,280 29,622
JPY 159.2 159.49 169.13
GBP 33,797 33,888 35,074
AUD 17,793 17,857 18,533
CAD 18,076 18,134 18,806
CHF 30,799 30,895 31,820
SGD 19,738 19,799 20,586
CNY - 3,799 3,945
HKD 3,226 3,236 3,373
KRW 17.98 18.75 20.4
THB 729.13 738.14 790.41
NZD 14,378 14,512 14,949
SEK - 2,549 2,639
DKK - 3,791 3,925
NOK - 2,724 2,823
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,905.23 - 6,665.94
TWD 717.38 - 869.2
SAR - 6,765.18 7,127.26
KWD - 81,577 86,813
AED - 6,779 7,306
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,630 25,660 26,040
EUR 28,282 28,424 29,653
GBP 33,838 34,008 35,042
HKD 3,221 3,240 3,358
CHF 30,669 30,823 31,770
JPY 159.16 160.77 168.75
AUD 17,752 17,877 18,475
SGD 19,730 19,909 20,506
THB 734 749 786
CAD 18,052 18,179 18,776
NZD 14,461 15,018
KRW 18.84 20.83
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25604 25634 26034
AUD 17793 17893 18824
CAD 18074 18174 19188
CHF 30782 30812 32389
CNY 3814.6 3839.6 3974.6
CZK 0 1140 0
DKK 0 3860 0
EUR 28332 28362 30089
GBP 33893 33943 35701
HKD 0 3300 0
JPY 160.31 160.81 171.34
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6445 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14502 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2605 0
SGD 19776 19906 20628
THB 0 710 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13900000 13900000 14200000
SBJ 12500000 12500000 14200000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,544 25,664 25,960
USD20 25,514 25,664 25,960
USD1 25,494 25,664 25,960
AUD 17,756 17,906 19,074
EUR 28,212 28,312 29,970
CAD 18,037 18,137 19,442
SGD 19,870 20,020 20,584
JPY 160.87 162.37 167.93
GBP 33,870 34,020 35,082
XAU 13,898,000 0 14,202,000
CNY 0 3,794 0
THB 0 747 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/10/2026 22:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30