Đại hội đồng cổ đông Sacombank: Dồn lực tái cơ cấu, ưu tiên “đệm” dự phòng trước ngưỡng triệu tỷ

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Năm 2026, Sacombank đặt mục tiêu tài sản vượt 1 triệu tỷ đồng, lợi nhuận 8.100 tỷ đồng; kiểm soát nợ xấu dưới 4,5%; đồng thời thông qua các quyết sách mang tính “bước ngoặt. Lãnh đạo Sacombank cho biết, đã hoàn tất xử lý các tồn đọng tài chính và trích đủ dự phòng 100%, nhưng vẫn chờ xử lý 32,5% cổ phần tại VAMC. Sacombank sẽ tiếp tục ưu tiên trích lập dự phòng rủi ro, nâng cao tỷ lệ bao phủ nợ xấu.
aa
Gia cố “lớp đệm” dự phòng, lợi nhuận Sacombank 2025 giảm còn hơn 7.600 tỷ đồng Sacombank trước “ngã rẽ lớn”, trình Đại hội đồng cổ đông kế hoạch đổi tên, dời trụ sở Sacombank đặt mục tiêu giữ nợ xấu dưới 4,5%, "để dành" trên 30.000 tỷ đồng lợi nhuận

Đổi tên, dời trụ sở, hướng tới quy mô triệu tỷ

Ngày 22/4, tại Phú Thọ, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank - mã Ck: STB) tổ chức Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ). Tại đại hội xem xét báo cáo của Hội đồng quản trị (HĐQT) về kết quả hoạt động năm 2025 và định hướng năm 2026; phương án phân phối lợi nhuận năm 2025 và kế hoạch năm 2026; xem xét tờ trình miễn nhiệm thành viên Hội đồng quản trị (HĐQT). Đáng chú ý, đại hội trình nhiều nội dung mang tính “bước ngoặt” như: thay đổi địa điểm trụ sở chính, đổi tên, nhằm chuẩn bị cho giai đoạn phát triển mới.

Tại thời điểm 9 giờ ngày 22/4, đại hội có 135 cổ đông tham dự trực tiếp và ủy quyền, nắm giữ 1,52 tỷ cổ phần, tương đương 80,6% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết của Sacombank.

Đại hội đồng cổ đông Sacombank
Sacombank tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên tại Phú Thọ.

Đưa tổng tài sản vượt 1 triệu tỷ đồng

Năm 2026, Sacombank đặt mục tiêu kiểm soát tỷ lệ nợ xấu nội bảng dưới 4,5%. Tổng tài sản vượt 1 triệu tỷ đồng, tăng 10%; dư nợ tín dụng đạt 699.400 tỷ đồng, tăng 12%, hoặc không vượt hạn mức Ngân hàng Nhà nước phê duyệt. Tổng huy động đạt 921.300 tỷ đồng, tăng 10% và điều hành linh hoạt theo tăng trưởng tín dụng.

Lợi nhuận trước thuế đạt 8.100 tỷ đồng, tăng 6%; đồng thời, đảm bảo các tỷ lệ an toàn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.

Tại đại hội, ông Phan Đình Tuệ - Thành viên HĐQT trình bày báo cáo của Hội đồng quản trị về kết quả hoạt động năm 2025 và định hướng năm 2026.

Ông Phan Đình Tuệ nêu rõ, trong bối cảnh xung đột vũ trang và căng thẳng địa chính trị ngày càng leo thang trên thế giới, tạo ra những diễn biến phức tạp, bất khả kháng đối với nền kinh tế toàn cầu nói chung và Việt Nam nói riêng.

Điều này có khả năng phát sinh các tác động kém tích cực và khó dự báo đến quá trình thực hiện kế hoạch kinh doanh của Sacombank.

Do đó, nhằm tạo sự chủ động, linh hoạt trong công tác quản trị điều hành, kịp thời thích ứng với diễn biến thị trường, HĐQT trình ĐHĐCĐ xem xét ủy quyền cho HĐQT được chủ động điều chỉnh kế hoạch kinh doanh, trên cơ sở phù hợp với tình hình thực tế và quy định pháp luật đảm bảo sự tăng trưởng ổn định, bền vững và mang lại hiệu quả cao nhất cho ngân hàng.

Đại hội đồng cổ đông Sacombank: Dồn lực tái cơ cấu, ưu tiên “đệm” dự phòng trước ngưỡng triệu tỷ
Đồ họa: Ánh Tuyết.

Tại đại hội, trình bày tờ trình thay đổi địa chỉ trụ sở chính của Sacombank; thay đổi tên ngân hàng; tờ trình miễn nhiệm Thành viên HĐQT; bầu bổ sung Thành viên HĐQT nhiệm kỳ 2022 - 2026. Ứng viên là ông Nguyễn Đức Thụy, hiện là Tổng Giám đốc của Sacombank.

Hội đồng quản trị trình ĐHĐCĐ về việc thay đổi tên ngân hàng từ “Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín” thành “Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Tài Lộc". Tên đầy đủ bằng tiếng Anh đổi từ “Sai Gon Thuong Tin Joint Stock Commercial Bank" thành “Saigon Treasure Commercial Joint Stock Bank". Tên giao dịch/tên viết tắt bằng tiếng Anh đổi từ "Sacombank" thành "SACOMBANK".

Trích lập dự phòng 100%, chờ "mở khóa" 32,5% cổ phần tại VAMC

Ông Hà Văn Trung - Phó Tổng giám đốc thường trực trình bày phương án phân phối lợi nhuận của Sacombank năm 2025. Theo đó, sau khi trích lập các quỹ, lợi nhuận còn lại năm 2025 đạt 4.770,1 tỷ đồng. Cộng với lợi nhuận giữ lại các năm trước 25.355,1 tỷ đồng, tổng lợi nhuận giữ lại lũy kế của Sacombank lên tới 30.125,2 tỷ đồng.

Như vậy, Sacombank tiếp tục ưu tiên tích lũy vốn và củng cố nền tảng tài chính thay vì chia cổ tức, tạo dư địa cho xử lý tồn đọng và tăng trưởng trong các năm tới

Đại hội đồng cổ đông Sacombank: Dồn lực tái cơ cấu, ưu tiên “đệm” dự phòng trước ngưỡng triệu tỷ
Nguồn: Sacombank.

Tại ĐHĐCĐ Sacombank, cổ đông tập trung chất vấn loạt vấn đề cốt lõi xoay quanh tái cơ cấu, chất lượng tài sản và hiệu quả kinh doanh. Cụ thể, cổ đông quan tâm tiến độ thực hiện đề án tái cơ cấu đến cuối năm 2025; thời điểm xử lý dứt điểm 32,5% cổ phần liên quan ông Trầm Bê; nguyên nhân nợ xấu tăng mạnh trong năm 2025 và khả năng thu hồi.

Bên cạnh đó, kế hoạch lợi nhuận 2026 ở mức 8.100 tỷ đồng được đánh giá khá thận trọng, dù ngân hàng đã trích lập dự phòng cao cũng gây nhiều băn khoăn. Ngoài ra, cổ đông đặt vấn đề về xu hướng suy giảm NIM và định hướng cải thiện thời gian tới; cập nhật nhanh kết quả kinh doanh quý I/2026; chiến lược kinh doanh sắp tới; yêu cầu giải trình lý do đổi tên thương hiệu sau nhiều năm duy trì nhận diện cũ...

Trả lời câu hỏi của cổ đông, ông Phan Đình Tuệ - Thành viên HĐQT nêu rõ, trong nhiều năm vừa qua, Sacombank đã quyết liệt triển khai nhiều biện pháp để hoàn thành đề án, đến nay đã hoàn tất xử lý các tồn đọng tài chính và đặc biệt trích lập dự phòng 100%.

Một trong những nội dung hết sức quan trọng của đề án tái cơ cấu là việc xử lý cổ phần 32,5% bị phong tỏa tại VAMC, bởi khi xử lý xong mới đảm bảo tỷ lệ nợ xấu theo quy định và đưa ngân hàng trở lại trạng thái hoạt động bình thường. Hiện tỷ lệ nợ xấu Sacombank cuối năm 2025 đang ở mức 5,01%, đây là nội dung cần tiếp tục xử lý.

Tuy nhiên, việc xử lý cổ phần tại VAMC phải được Ngân hàng Nhà nước phê duyệt. "Năm 2026, HĐQT sẽ tiếp tục làm việc với Ngân hàng Nhà nước để thông qua phương án xử lý, song còn phải phụ thuộc và cũng cố gắng trong năm 2026, nếu thuận lợi sẽ được thông qua" - ông Tuệ nhấn mạnh.

Dù vậy, theo lãnh đạo Sacombank, việc xử lý cổ phần tại VAMC có thể kéo dài thêm một số năm, HĐQT cam kết sẽ nỗ lực tối đa để hoàn thành đề án.

Về nợ xấu, ông Phan Đình Tuệ - Thành viên HĐQT cho biết, nguyên nhân nợ xấu gia tăng trong năm 2025 đến từ bối cảnh bên ngoài, đặc biệt các chính sách thuế của Mỹ và biến động toàn cầu ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất kinh doanh, nhất là nhóm khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ, dẫn đến phát sinh nợ quá hạn. Đồng thời, việc không còn áp dụng cơ chế cơ cấu nợ như trước khiến các khoản vay phải chuyển nhóm và trích lập dự phòng.

Bên cạnh đó, quá trình xử lý nợ gặp vướng mắc pháp lý, thời gian kéo dài và khối lượng hồ sơ lớn cũng khiến việc giảm nhanh tỷ lệ nợ xấu gặp khó khăn. "Tất cả các khoản nợ xấu của ngân hàng phần lớn đều có tài sản đảm bảo và theo nhận định của chúng tôi, đủ bù đắp nghĩa vụ nợ của khách hàng. Do đó, khả năng thu hồi vốn được đánh giá rất cao, tuy nhiên, tiến độ xử lý còn phụ thuộc vào thị trường" - ông Tuệ nêu rõ./.

Không chạy theo tăng trưởng nóng, lãi quý I đạt 44% kế hoạch

Thông tin tới cổ đông về kế hoạch lợi nhuận 8.100 tỷ đồng năm 2026, ông Phan Đình Tuệ - Thành viên HĐQT cho biết, ngân hàng lựa chọn kịch bản tăng trưởng thận trọng, bắt nguồn từ chiến lược của ngân hàng trong các hoạt động sắp tới.

"Chúng tôi muốn gia tăng nội lực dự phòng nhằm chủ động xử lý nợ xấu và tạo nên nền tảng trong bối cảnh rủi ro cũng đang gia tăng. Thay vì chúng ta chạy theo con số tăng trưởng nóng, Sacombank lựa chọn phương án tối ưu, ưu tiên trích lập dự phòng rủi ro, nâng cao tỷ lệ bao phủ nợ xấu, tạo nền tảng tài chính vững chắc trong tương lai trước những biến động khó lường của toàn cầu cũng như thị trường" - ông Tuệ nhấn mạnh.

Về kết quả kinh doanh quý I/2026, lãnh đạo Sacombank bật mí, dư nợ tín dụng đạt 627 nghìn tỷ đồng, tăng nhẹ 567 tỷ đồng. Lợi nhuận trước thuế đạt 3.572 tỷ đồng, tương đương 44% kế hoạch, chủ yếu nhờ nỗ lực tiết giảm chi phí và tối ưu vận hành./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 24/4: Giá vàng trong nước neo ở ngưỡng 166 - 169,2 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 24/4: Giá vàng trong nước neo ở ngưỡng 166 - 169,2 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 24/4 ghi nhận diễn biến ổn định tại nhiều doanh nghiệp lớn, mặt bằng giao dịch duy trì quanh vùng 166 - 169,2 triệu đồng/lượng.
Thêm lựa chọn linh hoạt cho kế hoạch tài chính cá nhân với Chubb - Tự Do An Phát

Thêm lựa chọn linh hoạt cho kế hoạch tài chính cá nhân với Chubb - Tự Do An Phát

(TBTCO) - Nhằm đáp ứng nhu cầu bảo vệ và tích lũy tài chính ngày càng đa dạng của người dân Việt Nam, Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) vừa ra mắt sản phẩm bảo hiểm liên kết đơn vị Chubb - Tự Do An Phát.
Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026: SeABank chốt trả cổ tức 20,5%, tăng vốn lên 34.688 tỷ đồng

Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026: SeABank chốt trả cổ tức 20,5%, tăng vốn lên 34.688 tỷ đồng

(TBTCO) - Ngày 22/04/2026, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) đã tổ chức thành công Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) thường niên năm 2026. Đại hội đã thông qua nhiều nội dung quan trọng liên quan đến kết quả hoạt động năm 2025 và kế hoạch kinh doanh năm 2026, với trọng tâm mục tiêu lợi nhuận trước thuế đạt 7.068 tỷ đồng, bầu bổ sung thành viên Ban kiểm soát nhiệm kỳ 2023 – 2028, tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng bền vững.
FE CREDIT thăng hạng tín nhiệm lên Ba3 từ Moody’s, triển vọng ổn định

FE CREDIT thăng hạng tín nhiệm lên Ba3 từ Moody’s, triển vọng ổn định

(TBTCO) - Tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế Moody’s Ratings (Moody’s) mới đây đã công bố nâng xếp hạng tín nhiệm Ba3, cho Công ty Tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC (FE CREDIT).
Lợi nhuận quý I/2026 của OCB đạt 1.224 tỷ đồng, tăng 37% so với cùng kỳ

Lợi nhuận quý I/2026 của OCB đạt 1.224 tỷ đồng, tăng 37% so với cùng kỳ

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Phương Đông (mã ck: OCB) vừa công bố báo cáo tài chính hợp nhất quý I/2026 với những chuyển biến tích cực. Không chỉ ghi nhận sự tăng trưởng về quy mô và hiệu quả vận hành, cấu trúc thu nhập cũng cho thấy ngân hàng đang bước vào một chu kỳ phục hồi mang tính nền tảng.
Giá vàng hôm nay ngày 23/4: Trong nước tiếp tục giảm 700.000 đồng - 800.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 23/4: Trong nước tiếp tục giảm 700.000 đồng - 800.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 23/4 tiếp tục điều chỉnh giảm mạnh tại nhiều doanh nghiệp, với mức phổ biến 700.000 - 800.000 đồng/lượng, kéo mặt bằng giao dịch lùi sâu về vùng 166 - 169,2 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (23/4): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, DXY hồi nhẹ khi kỳ vọng cắt giảm lãi suất tiếp tục lùi xa

Tỷ giá USD hôm nay (23/4): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, DXY hồi nhẹ khi kỳ vọng cắt giảm lãi suất tiếp tục lùi xa

(TBTCO) - Sáng ngày 23/4, tỷ giá trung tâm tăng nhẹ lên 25.103 VND/USD, USD tự do ổn định quanh 26.600 - 26.650 đồng, trong khi DXY hiện ở 98,57 điểm, cho thấy tín hiệu phục hồi sau nhịp giảm. Áp lực lạm phát toàn cầu vẫn hiện hữu khi giá năng lượng tăng mạnh tại Mỹ và lan rộng sang các nền kinh tế lớn, khiến kỳ vọng Fed duy trì lãi suất cao lâu hơn tiếp tục được củng cố.
Sớm thành lập sàn vàng quốc gia để minh bạch thị trường

Sớm thành lập sàn vàng quốc gia để minh bạch thị trường

(TBTCO) - TS. Nguyễn Trí Hiếu - Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển thị trường tài chính và bất động sản toàn cầu nhấn mạnh, việc sớm thành lập sàn vàng quốc gia giúp minh bạch thị trường, thu hẹp chênh lệch giá vàng về mức hợp lý và khai thông nguồn lực vàng trong dân. Tuy nhiên, lộ trình triển khai vẫn đối mặt nhiều thách thức, trong đó có vấn đề cấp phép nhập khẩu, sản xuất vàng miếng và cân đối nguồn ngoại tệ.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,620 ▼50K 16,870 ▼50K
Kim TT/AVPL 16,620 ▼50K 16,870 ▼50K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,570 ▼50K 16,870 ▼50K
Nguyên Liệu 99.99 15,530 15,730
Nguyên Liệu 99.9 15,480 15,680
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,330 ▲60K 16,730 ▲60K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,280 ▲60K 16,680 ▲60K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,210 ▲60K 16,660 ▲60K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 165,700 ▼300K 168,700 ▼300K
Hà Nội - PNJ 165,700 ▼300K 168,700 ▼300K
Đà Nẵng - PNJ 165,700 ▼300K 168,700 ▼300K
Miền Tây - PNJ 165,700 ▼300K 168,700 ▼300K
Tây Nguyên - PNJ 165,700 ▼300K 168,700 ▼300K
Đông Nam Bộ - PNJ 165,700 ▼300K 168,700 ▼300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,620 ▼50K 16,870 ▼50K
Miếng SJC Nghệ An 16,620 ▼50K 16,870 ▼50K
Miếng SJC Thái Bình 16,620 ▼50K 16,870 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,570 ▼50K 16,870 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,570 ▼50K 16,870 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,570 ▼50K 16,870 ▼50K
NL 99.90 15,400 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,450 ▼50K
Trang sức 99.9 16,060 ▼50K 16,760 ▼50K
Trang sức 99.99 16,070 ▼50K 16,770 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Cập nhật: 24/04/2026 15:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18241 18517 19092
CAD 18686 18964 19577
CHF 32821 33206 33851
CNY 0 3813 3905
EUR 30136 30409 31435
GBP 34669 35061 35995
HKD 0 3231 3434
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15103 15688
SGD 20066 20349 20866
THB 726 789 843
USD (1,2) 26076 0 0
USD (5,10,20) 26117 0 0
USD (50,100) 26145 26165 26368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,138 26,138 26,368
USD(1-2-5) 25,093 - -
USD(10-20) 25,093 - -
EUR 30,593 30,617 31,618
JPY 162.12 162.41 169.75
GBP 35,233 35,328 36,014
AUD 18,650 18,717 19,144
CAD 19,080 19,141 19,561
CHF 33,454 33,558 34,050
SGD 20,406 20,469 20,974
CNY - 3,827 3,916
HKD 3,331 3,341 3,431
KRW 16.57 17.28 18.53
THB 782.39 792.05 835.78
NZD 15,263 15,405 15,635
SEK - 2,829 2,887
DKK - 4,094 4,177
NOK - 2,805 2,863
LAK - 0.93 1.27
MYR 6,269.87 - 6,976.18
TWD 761.94 - 909.73
SAR - 6,979.6 7,245.98
KWD - 84,527 88,639
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,118 26,148 26,368
EUR 30,211 30,332 31,512
GBP 34,847 34,987 35,995
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 32,910 33,042 33,977
JPY 160.98 161.63 168.89
AUD 18,436 18,510 19,104
SGD 20,253 20,334 20,915
THB 791 794 829
CAD 18,877 18,953 19,527
NZD 15,187 15,719
KRW 17.03 18.70
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26120 26120 26368
AUD 18414 18514 19437
CAD 18870 18970 19986
CHF 33076 33106 34689
CNY 3792.6 3817.6 3952.9
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30317 30347 32069
GBP 34958 35008 36765
HKD 0 3355 0
JPY 161.34 161.84 172.35
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15214 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2850 0
SGD 20223 20353 21075
THB 0 755.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16620000 16620000 16870000
SBJ 15000000 15000000 16870000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,138 26,138 26,368
USD20 26,138 26,138 26,368
USD1 26,138 26,138 26,368
AUD 18,449 18,549 19,658
EUR 30,451 30,451 31,862
CAD 18,807 18,907 20,215
SGD 20,287 20,437 21,080
JPY 161.78 163.28 167.84
GBP 34,839 35,189 36,056
XAU 16,668,000 0 16,922,000
CNY 0 3,702 0
THB 0 790 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 24/04/2026 15:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80