Ngân hàng tăng tốc tái cơ cấu danh mục, dòng tín dụng rẽ hướng khi room bị siết

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Quý I/2026, tín dụng tại nhóm ngân hàng niêm yết tăng khoảng 3,5%, nổi bật ở nhóm được áp dụng cơ chế riêng. Trong bối cảnh room tín dụng và các lĩnh vực rủi ro tiếp tục bị kiểm soát chặt, tín dụng doanh nghiệp và trung dài hạn có tín hiệu tăng nhanh hơn bán lẻ, khi nhiều ngân hàng chủ động đẩy mạnh chuyển dịch, tái cơ cấu danh mục cho vay.
aa

Tín dụng doanh nghiệp vượt bán lẻ, nhóm hưởng cơ chế riêng dẫn “sóng”

Trong quý I/2026, thống kê của phóng viên cho thấy, tăng trưởng cho vay tại nhiều ngân hàng ghi nhận mức tăng khá cao, nhờ được áp dụng cơ chế riêng, dù Ngân hàng Nhà nước tiếp tục duy trì kiểm soát hạn mức tín dụng quý đầu năm không vượt quá 25% chỉ tiêu cả năm.

Theo đó, NCB dẫn đầu hệ thống về tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay khách hàng khi tăng 19,8% so với đầu năm, lên gần 117 nghìn tỷ đồng, nhờ đang triển khai phương án cơ cấu lại ngân hàng đã được phê duyệt.

Theo sau là VPBank với tốc độ tăng 10,3%, đưa dư nợ lên 1,041 triệu đồng; HDBank đạt trên 601 nghìn tỷ đồng, tăng 10%. Đây đều là những ngân hàng tham gia nhận chuyển giao bắt buộc tổ chức tín dụng yếu kém, qua đó, có dư địa mở rộng cho vay lớn hơn đáng kể so với mặt bằng chung toàn ngành.

Ngân hàng tăng tốc tái cơ cấu danh mục, dòng tín dụng rẽ hướng khi room bị siết
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo tài chính ngân hàng quý I/2026. Đồ họa: Ánh Tuyết

Hầu hết các ngân hàng còn lại ghi nhận tăng trưởng cho vay khách hàng quý đầu năm dao động từ 0,1 - 4,6%, riêng PGBank ghi nhận dư nợ cho vay giảm 4,2%. Tính chung toàn bộ các ngân hàng niêm yết được khảo sát, tăng trưởng tín dụng đạt khoảng 3,5% trong quý I/2026. Diễn biến này cho thấy tín dụng toàn hệ thống tăng trưởng ổn định ngay từ đầu năm, song mức độ phân hóa giữa các ngân hàng ngày càng rõ nét.

Nhận định tốc độ tăng trưởng theo kỳ hạn, thông tin từ Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho thấy, nhu cầu vay trung dài hạn duy trì đà tăng trưởng tích cực hơn so với cho vay ngắn hạn, kể từ quý III/2025. Bên cạnh đó, tốc độ tăng trưởng cao của tín dụng doanh nghiệp khoảng 5% từ đầu năm, cao hơn đáng kể tín dụng bán lẻ chỉ khoảng 2%. Điều này phản ánh nhu cầu đầu tư mở rộng sản xuất, phát triển dự án mạnh mẽ của các doanh nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực bất động sản.

Cùng với đó, dù lãi suất cho vay doanh nghiệp cũng ở mức cao, phổ biến từ 9 - 12%/năm và một số lĩnh vực rủi ro cao như kinh doanh bất động sản có thể trên 12 - 14%, nhu cầu tín dụng của khách hàng doanh nghiệp vẫn khả quan hơn khách hàng cá nhân, chủ yếu nhờ giải ngân theo tiến độ các dự án đã được phê duyệt trước đó.

“Tuy nhiên, việc tín dụng trung dài hạn tiếp tục tăng nhanh lại là tín hiệu cho thấy áp lực thanh khoản và lãi suất chưa sớm chấm dứt trong ngắn hạn” - VDSC nêu quan điểm.

Còn tăng trưởng tín dụng của phân khúc khách hàng cá nhân quý I/2026 khá chậm, bị kìm hãm đáng kể bởi mặt bằng lãi suất cho vay cao. Lãi suất cho vay dao động từ 9 - 10,5% đối với các khoản vay ngắn hạn và từ 10 - 12% đối với các khoản vay trung dài hạn, tăng tới 200 - 300 điểm cơ bản so với năm 2025.

Ngân hàng dịch chuyển, tái cơ cấu danh mục cho vay

Xu hướng tín dụng trung dài hạn và phân khúc doanh nghiệp nhỉnh hơn như nhận định của chuyên gia VDSC cũng được phản ánh rõ trong việc dịch chuyển cơ cấu, tốc độ cho vay của nhiều ngân hàng.

Trong quý I/2026, dư nợ tín dụng của ngân hàng VietinBank tăng khoảng 1,8%. Phân theo kỳ hạn, dư nợ ngắn hạn tăng khoảng 1%, dư nợ trung hạn tăng 1,37% và dư nợ dài hạn tăng 3,35%. Tỷ trọng dư nợ ngắn hạn trong tổng danh mục có xu hướng giảm, thay vào đó là sự chuyển dịch sang dư nợ trung dài hạn.

Tiếp tục siết chặt tín dụng vào lĩnh vực rủi ro

Theo ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục giảm thiểu và kiểm soát rất chặt chẽ đối với những lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, bởi nếu không có thể phát sinh nợ xấu và gây mất an toàn hệ thống trong thời gian tới.

Lý giải về điều này tại hội nghị cập nhật kết quả kinh doanh vừa diễn ra, theo bà Nguyễn Thùy Dương - Trưởng phòng Phát triển kinh doanh Khối bán lẻ VietinBank, trong bối cảnh thị trường chịu áp lực lớn về thanh khoản, mặt bằng lãi suất cho vay gia tăng, tín dụng bất động sản và room tín dụng bị kiểm soát chặt chẽ, ngân hàng xác định cần điều chỉnh lại chiến lược kinh doanh trong mảng bán lẻ.

“Ngay từ quý I/2026, chúng tôi tập trung vào việc chủ động cải thiện, cấu trúc lại cơ cấu danh mục tín dụng và chủ động để sụt giảm những danh mục đang còn tiềm ẩn một số rủi ro và hiệu quả chưa cao” - bà Dương nhấn mạnh.

Đại diện VietinBank đánh giá, nhu cầu tín dụng dân cư sẽ dần hồi phục khi nhu cầu bất động sản và tiêu dùng cải thiện, khi các chủ đầu tư uy tín triển khai các chiến lược bán hàng mới. Ngân hàng cũng chủ động chuẩn bị nguồn lực về vốn để tập trung cho tăng trưởng tín dụng trong các quý tiếp theo và kỳ vọng dư nợ bán lẻ sớm tăng trở lại.

Cùng chung xu hướng, thông tin từ ACB cho thấy, mức tăng trưởng tín dụng của ngân hàng đạt 3,2%, trong đó, mảng khách hàng cá nhân tăng chậm hơn.

Tổng giám đốc ACB Từ Tiến Phát cho biết, đây là kết quả của chiến lược tái cơ cấu danh mục cho vay theo hướng gia tăng tỷ trọng các khoản vay có hiệu quả sinh lời tốt hơn và khả năng kiểm soát rủi ro, nhằm phù hợp với điều kiện thị trường, đồng thời duy trì biên lợi nhuận và hiệu quả hoạt động.

Mặc dù dư nợ khách hàng cá nhân tăng khoảng 0,8%, các phân khúc có khả năng sinh lời cao vẫn ghi nhận tăng trưởng tích cực. Cụ thể, cho vay mua nhà tăng khoảng 3%, cho vay tiêu dùng tăng khoảng 12% và cho vay hộ kinh doanh tăng 2%.

“Việc tái cấu trúc thời gian qua được nhìn nhận là sự thành công và chúng tôi sẽ tiếp tục duy trì chiến lược này trong suốt năm 2026 và những năm tiếp theo” - lãnh đạo ACB cho biết.

Trong bối cảnh Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục kiểm soát chặt chẽ tăng trưởng tín dụng, ưu tiên dòng vốn cho các lĩnh vực sản xuất kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên, Tổng giám đốc Từ Tiến Phát nhấn mạnh ACB sẽ tập trung vào hai mục tiêu quan trọng, đó là tái cấu trúc danh mục tín dụng và bảo đảm chất lượng tài sản, chất lượng nợ.

Chia sẻ gần đây, ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ nhấn mạnh Ngân hàng Nhà nước đã định hướng tăng trưởng tín dụng khoảng 15% ngay từ đầu năm. Một mặt, nhằm bảo đảm hoạt động ổn định, an toàn của các tổ chức tín dụng; đồng thời, kiểm soát lạm phát và duy trì các cân đối lớn của nền kinh tế. Mặt khác, chính sách tín dụng cũng phải hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, tạo nền tảng cho mục tiêu tăng trưởng hai con số.

BIDV dẫn đầu dư nợ cho vay, VietinBank và VPBank lập cột mốc mới

Trong nhóm ngân hàng có dư nợ cho vay vượt “triệu tỷ” trong quý I/2026, BIDV tiếp tục dẫn đầu hệ thống với dư nợ cho vay khách hàng đạt 2,4 triệu tỷ đồng, tăng 2,4% so với đầu năm. Xếp sau là VietinBank với 2,03 triệu tỷ đồng, tăng 1,8% và Vietcombank đạt 1,75 triệu tỷ đồng, tăng 4,9% - mức tăng cao nhất trong nhóm ngân hàng thương mại nhà nước.

Quý này cũng ghi dấu mốc đáng chú ý khi VietinBank lần đầu vượt ngưỡng 2 triệu tỷ đồng dư nợ cho vay, còn VPBank chính thức gia nhập nhóm ngân hàng có dư nợ vượt 1 triệu tỷ đồng.

Đáng chú ý, nhóm các ngân hàng quốc doanh niêm yết trên sàn gồm: BIDV, VietinBank và Vietcombank hiện chiếm khoảng 41,3% tổng dư nợ cho vay của nhóm ngân hàng khảo sát, cho thấy vai trò áp đảo của khối ngân hàng quốc doanh trong cung ứng tín dụng cho nền kinh tế. Trong khi đó, Agribank không công bố báo cáo tài chính quý, song nếu tính thêm dư nợ của ngân hàng này, nhóm “Big 4” nhiều khả năng đang chiếm gần 50% tổng dư nợ cho vay toàn hệ thống ngân hàng.

Trong nhóm ngân hàng tư nhân, MB ghi nhận dư nợ cho vay đạt 1,12 triệu tỷ đồng, tăng 3,4% so với đầu năm; trong khi VPBank đạt 1.04 triệu tỷ đồng, tăng mạnh 10,3% - thuộc nhóm tăng trưởng cao nhất hệ thống.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (20/10): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY đi ngang trước thềm cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay (20/10): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY đi ngang trước thềm cuộc họp Fed

(TBTCO) - Sáng 20/10, tỷ giá trung tâm tăng 6 đồng lên 25.639 đồng, trong khi USD ngân hàng biến động hẹp, chỉ số DXY quanh 101,95 điểm. Dù lạm phát Mỹ vượt dự báo, thị trường vẫn nghiêng về khả năng Fed giữ nguyên lãi suất tháng 10. Đồng USD được hỗ trợ bởi sự suy yếu của euro giữa bất ổn chính trị tại châu Âu.
Giá vàng hôm nay ngày 20/10: Vàng thế giới giảm về 4.143 USD/ounce, trong nước biến động trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 20/10: Vàng thế giới giảm về 4.143 USD/ounce, trong nước biến động trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 23 USD/ounce, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước biến động trái chiều, với mức điều chỉnh khác nhau giữa các thương hiệu.
VietinBank triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm, tiếp sức tăng trưởng kinh tế

VietinBank triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm, tiếp sức tăng trưởng kinh tế

(TBTCO) - Giảm lãi suất đến 2%/năm, VietinBank triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và người dân.
LPBank được vinh danh Thương hiệu truyền cảm hứng tại APEA 2026

LPBank được vinh danh Thương hiệu truyền cảm hứng tại APEA 2026

(TBTCO) - LPBank được vinh danh Thương hiệu truyền cảm hứng tại Giải thưởng Doanh nghiệp Châu Á – Thái Bình Dương (APEA) 2026, ghi nhận hành trình tái định vị thương hiệu, đổi mới sản phẩm, nâng cao trải nghiệm khách hàng và tạo ra những giá trị tích cực cho cộng đồng.
Tỷ giá USD hôm nay (19/10): USD biến động hẹp, thị trường chờ tín hiệu từ các ngân hàng trung ương

Tỷ giá USD hôm nay (19/10): USD biến động hẹp, thị trường chờ tín hiệu từ các ngân hàng trung ương

(TBTCO) - Sáng 19/10, tỷ giá trung tâm giảm 4 đồng xuống 25.633 đồng, trong khi USD ngân hàng và thị trường tự do biến động hẹp. Chỉ số DXY dao động quanh 101,82 điểm. Tuần này, thị trường hướng sự chú ý đến dữ liệu PMI sơ bộ tháng 10 của Mỹ, các chỉ báo kinh tế và loạt quyết định lãi suất của các ngân hàng trung ương.
Giá vàng hôm nay ngày 19/10: Vàng trong nước giữ giá, thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 19/10: Vàng trong nước giữ giá, thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce, trong khi giá vàng miếng trong nước không có sự thay đổi với giá bán ra phổ biến ở mức 143,6 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng Nhà nước yêu cầu giảm lãi suất huy động tối thiểu 0,5%, siết chặt các khoản vay lách quy định

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu giảm lãi suất huy động tối thiểu 0,5%, siết chặt các khoản vay lách quy định

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng giảm lãi suất huy động tối thiểu 0,5%/năm, tập trung giảm lãi suất cho vay 1,5 - 2%/năm với lĩnh vực ưu tiên; đồng thời, kiểm soát chặt chẽ việc cấp tín dụng nhiều khoản vay. Ngân hàng không tuân thủ chỉ đạo lãi suất có thể bị xem xét lại room tín dụng, áp tỷ lệ bảo đảm an toàn cao hơn.
Giá vàng hôm nay ngày 18/10: Giá vàng trong nước giảm, vàng thế giới duy trì quanh 4.166 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 18/10: Giá vàng trong nước giảm, vàng thế giới duy trì quanh 4.166 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt giảm từ 200.000 - 400.000 đồng/lượng tại các thương hiệu, trong khi vàng thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,500 141,500
Hà Nội - PNJ 138,500 141,500
Đà Nẵng - PNJ 138,500 141,500
Miền Tây - PNJ 138,500 141,500
Tây Nguyên - PNJ 138,500 141,500
Đông Nam Bộ - PNJ 138,500 141,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,960 14,260
Miếng SJC Nghệ An 13,960 14,260
Miếng SJC Thái Bình 13,960 14,260
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,870 14,250
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,870 14,250
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,870 14,250
NL 99.99 13,200
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,050
Trang sức 99.9 13,530 14,130
Trang sức 99.99 13,540 14,140
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,396 14,262
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,396 14,263
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,377 1,412
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,377 1,413
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,357 1,402
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 131,812 138,812
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,511 105,311
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 85,696 95,496
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,881 85,681
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,095 81,895
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,819 58,619
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Cập nhật: 21/10/2026 00:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17542 17815 18391
CAD 17880 18154 18771
CHF 30738 31115 31762
CNY 0 3832 3928
EUR 28370 28587 29667
GBP 33711 34100 35037
HKD 0 3165 3368
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14383 14973
SGD 19692 19973 20552
THB 684 747 800
USD (1,2) 25610 0 0
USD (5,10,20) 25648 0 0
USD (50,100) 25676 25690 26060
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,685 25,685 26,065
USD(1-2-5) 24,658 - -
USD(10-20) 24,658 - -
EUR 28,479 28,502 29,862
JPY 159.14 159.43 169.08
GBP 33,922 34,014 35,194
AUD 17,752 17,816 18,503
CAD 18,030 18,088 18,757
CHF 30,960 31,056 31,977
SGD 19,816 19,878 20,661
CNY - 3,799 3,945
HKD 3,230 3,240 3,376
KRW 17.96 18.73 20.38
THB 733.97 743.03 795.86
NZD 14,380 14,514 14,946
SEK - 2,570 2,661
DKK - 3,820 3,956
NOK - 2,706 2,805
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,921.68 - 6,682.73
TWD 716.21 - 867.76
SAR - 6,778.81 7,141.45
KWD - 81,731 86,975
AED - 6,790 7,317
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,680 25,710 26,090
EUR 28,448 28,591 29,816
GBP 33,830 34,000 35,034
HKD 3,226 3,245 3,363
CHF 30,793 30,948 31,891
JPY 158.50 160.10 168.08
AUD 17,687 17,812 18,409
SGD 19,793 19,973 20,568
THB 740 755 792
CAD 17,990 18,117 18,716
NZD 14,418 14,975
KRW 18.84 20.82
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25660 25690 26060
AUD 17729 17829 18759
CAD 18056 18156 19170
CHF 30975 31005 32583
CNY 3814.7 3839.7 3974.8
CZK 0 1140 0
DKK 0 3860 0
EUR 28566 28596 30321
GBP 34030 34080 35838
HKD 0 3300 0
JPY 160.12 160.62 171.14
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6445 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14497 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2605 0
SGD 19855 19985 20709
THB 0 713.7 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 14000000 14000000 14300000
SBJ 12500000 12500000 14300000
Cập nhật: 21/10/2026 00:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30