Ngân hàng tăng tốc tái cơ cấu danh mục, dòng tín dụng rẽ hướng khi room bị siết

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Quý I/2026, tín dụng tại nhóm ngân hàng niêm yết tăng khoảng 3,5%, nổi bật ở nhóm được áp dụng cơ chế riêng. Trong bối cảnh room tín dụng và các lĩnh vực rủi ro tiếp tục bị kiểm soát chặt, tín dụng doanh nghiệp và trung dài hạn có tín hiệu tăng nhanh hơn bán lẻ, khi nhiều ngân hàng chủ động đẩy mạnh chuyển dịch, tái cơ cấu danh mục cho vay.
aa

Tín dụng doanh nghiệp vượt bán lẻ, nhóm hưởng cơ chế riêng dẫn “sóng”

Trong quý I/2026, thống kê của phóng viên cho thấy, tăng trưởng cho vay tại nhiều ngân hàng ghi nhận mức tăng khá cao, nhờ được áp dụng cơ chế riêng, dù Ngân hàng Nhà nước tiếp tục duy trì kiểm soát hạn mức tín dụng quý đầu năm không vượt quá 25% chỉ tiêu cả năm.

Theo đó, NCB dẫn đầu hệ thống về tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay khách hàng khi tăng 19,8% so với đầu năm, lên gần 117 nghìn tỷ đồng, nhờ đang triển khai phương án cơ cấu lại ngân hàng đã được phê duyệt.

Theo sau là VPBank với tốc độ tăng 10,3%, đưa dư nợ lên 1,041 triệu đồng; HDBank đạt trên 601 nghìn tỷ đồng, tăng 10%. Đây đều là những ngân hàng tham gia nhận chuyển giao bắt buộc tổ chức tín dụng yếu kém, qua đó, có dư địa mở rộng cho vay lớn hơn đáng kể so với mặt bằng chung toàn ngành.

Ngân hàng tăng tốc tái cơ cấu danh mục, dòng tín dụng rẽ hướng khi room bị siết
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo tài chính ngân hàng quý I/2026. Đồ họa: Ánh Tuyết

Hầu hết các ngân hàng còn lại ghi nhận tăng trưởng cho vay khách hàng quý đầu năm dao động từ 0,1 - 4,6%, riêng PGBank ghi nhận dư nợ cho vay giảm 4,2%. Tính chung toàn bộ các ngân hàng niêm yết được khảo sát, tăng trưởng tín dụng đạt khoảng 3,5% trong quý I/2026. Diễn biến này cho thấy tín dụng toàn hệ thống tăng trưởng ổn định ngay từ đầu năm, song mức độ phân hóa giữa các ngân hàng ngày càng rõ nét.

Nhận định tốc độ tăng trưởng theo kỳ hạn, thông tin từ Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho thấy, nhu cầu vay trung dài hạn duy trì đà tăng trưởng tích cực hơn so với cho vay ngắn hạn, kể từ quý III/2025. Bên cạnh đó, tốc độ tăng trưởng cao của tín dụng doanh nghiệp khoảng 5% từ đầu năm, cao hơn đáng kể tín dụng bán lẻ chỉ khoảng 2%. Điều này phản ánh nhu cầu đầu tư mở rộng sản xuất, phát triển dự án mạnh mẽ của các doanh nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực bất động sản.

Cùng với đó, dù lãi suất cho vay doanh nghiệp cũng ở mức cao, phổ biến từ 9 - 12%/năm và một số lĩnh vực rủi ro cao như kinh doanh bất động sản có thể trên 12 - 14%, nhu cầu tín dụng của khách hàng doanh nghiệp vẫn khả quan hơn khách hàng cá nhân, chủ yếu nhờ giải ngân theo tiến độ các dự án đã được phê duyệt trước đó.

“Tuy nhiên, việc tín dụng trung dài hạn tiếp tục tăng nhanh lại là tín hiệu cho thấy áp lực thanh khoản và lãi suất chưa sớm chấm dứt trong ngắn hạn” - VDSC nêu quan điểm.

Còn tăng trưởng tín dụng của phân khúc khách hàng cá nhân quý I/2026 khá chậm, bị kìm hãm đáng kể bởi mặt bằng lãi suất cho vay cao. Lãi suất cho vay dao động từ 9 - 10,5% đối với các khoản vay ngắn hạn và từ 10 - 12% đối với các khoản vay trung dài hạn, tăng tới 200 - 300 điểm cơ bản so với năm 2025.

Ngân hàng dịch chuyển, tái cơ cấu danh mục cho vay

Xu hướng tín dụng trung dài hạn và phân khúc doanh nghiệp nhỉnh hơn như nhận định của chuyên gia VDSC cũng được phản ánh rõ trong việc dịch chuyển cơ cấu, tốc độ cho vay của nhiều ngân hàng.

Trong quý I/2026, dư nợ tín dụng của ngân hàng VietinBank tăng khoảng 1,8%. Phân theo kỳ hạn, dư nợ ngắn hạn tăng khoảng 1%, dư nợ trung hạn tăng 1,37% và dư nợ dài hạn tăng 3,35%. Tỷ trọng dư nợ ngắn hạn trong tổng danh mục có xu hướng giảm, thay vào đó là sự chuyển dịch sang dư nợ trung dài hạn.

Tiếp tục siết chặt tín dụng vào lĩnh vực rủi ro

Theo ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục giảm thiểu và kiểm soát rất chặt chẽ đối với những lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, bởi nếu không có thể phát sinh nợ xấu và gây mất an toàn hệ thống trong thời gian tới.

Lý giải về điều này tại hội nghị cập nhật kết quả kinh doanh vừa diễn ra, theo bà Nguyễn Thùy Dương - Trưởng phòng Phát triển kinh doanh Khối bán lẻ VietinBank, trong bối cảnh thị trường chịu áp lực lớn về thanh khoản, mặt bằng lãi suất cho vay gia tăng, tín dụng bất động sản và room tín dụng bị kiểm soát chặt chẽ, ngân hàng xác định cần điều chỉnh lại chiến lược kinh doanh trong mảng bán lẻ.

“Ngay từ quý I/2026, chúng tôi tập trung vào việc chủ động cải thiện, cấu trúc lại cơ cấu danh mục tín dụng và chủ động để sụt giảm những danh mục đang còn tiềm ẩn một số rủi ro và hiệu quả chưa cao” - bà Dương nhấn mạnh.

Đại diện VietinBank đánh giá, nhu cầu tín dụng dân cư sẽ dần hồi phục khi nhu cầu bất động sản và tiêu dùng cải thiện, khi các chủ đầu tư uy tín triển khai các chiến lược bán hàng mới. Ngân hàng cũng chủ động chuẩn bị nguồn lực về vốn để tập trung cho tăng trưởng tín dụng trong các quý tiếp theo và kỳ vọng dư nợ bán lẻ sớm tăng trở lại.

Cùng chung xu hướng, thông tin từ ACB cho thấy, mức tăng trưởng tín dụng của ngân hàng đạt 3,2%, trong đó, mảng khách hàng cá nhân tăng chậm hơn.

Tổng giám đốc ACB Từ Tiến Phát cho biết, đây là kết quả của chiến lược tái cơ cấu danh mục cho vay theo hướng gia tăng tỷ trọng các khoản vay có hiệu quả sinh lời tốt hơn và khả năng kiểm soát rủi ro, nhằm phù hợp với điều kiện thị trường, đồng thời duy trì biên lợi nhuận và hiệu quả hoạt động.

Mặc dù dư nợ khách hàng cá nhân tăng khoảng 0,8%, các phân khúc có khả năng sinh lời cao vẫn ghi nhận tăng trưởng tích cực. Cụ thể, cho vay mua nhà tăng khoảng 3%, cho vay tiêu dùng tăng khoảng 12% và cho vay hộ kinh doanh tăng 2%.

“Việc tái cấu trúc thời gian qua được nhìn nhận là sự thành công và chúng tôi sẽ tiếp tục duy trì chiến lược này trong suốt năm 2026 và những năm tiếp theo” - lãnh đạo ACB cho biết.

Trong bối cảnh Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục kiểm soát chặt chẽ tăng trưởng tín dụng, ưu tiên dòng vốn cho các lĩnh vực sản xuất kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên, Tổng giám đốc Từ Tiến Phát nhấn mạnh ACB sẽ tập trung vào hai mục tiêu quan trọng, đó là tái cấu trúc danh mục tín dụng và bảo đảm chất lượng tài sản, chất lượng nợ.

Chia sẻ gần đây, ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ nhấn mạnh Ngân hàng Nhà nước đã định hướng tăng trưởng tín dụng khoảng 15% ngay từ đầu năm. Một mặt, nhằm bảo đảm hoạt động ổn định, an toàn của các tổ chức tín dụng; đồng thời, kiểm soát lạm phát và duy trì các cân đối lớn của nền kinh tế. Mặt khác, chính sách tín dụng cũng phải hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, tạo nền tảng cho mục tiêu tăng trưởng hai con số.

BIDV dẫn đầu dư nợ cho vay, VietinBank và VPBank lập cột mốc mới

Trong nhóm ngân hàng có dư nợ cho vay vượt “triệu tỷ” trong quý I/2026, BIDV tiếp tục dẫn đầu hệ thống với dư nợ cho vay khách hàng đạt 2,4 triệu tỷ đồng, tăng 2,4% so với đầu năm. Xếp sau là VietinBank với 2,03 triệu tỷ đồng, tăng 1,8% và Vietcombank đạt 1,75 triệu tỷ đồng, tăng 4,9% - mức tăng cao nhất trong nhóm ngân hàng thương mại nhà nước.

Quý này cũng ghi dấu mốc đáng chú ý khi VietinBank lần đầu vượt ngưỡng 2 triệu tỷ đồng dư nợ cho vay, còn VPBank chính thức gia nhập nhóm ngân hàng có dư nợ vượt 1 triệu tỷ đồng.

Đáng chú ý, nhóm các ngân hàng quốc doanh niêm yết trên sàn gồm: BIDV, VietinBank và Vietcombank hiện chiếm khoảng 41,3% tổng dư nợ cho vay của nhóm ngân hàng khảo sát, cho thấy vai trò áp đảo của khối ngân hàng quốc doanh trong cung ứng tín dụng cho nền kinh tế. Trong khi đó, Agribank không công bố báo cáo tài chính quý, song nếu tính thêm dư nợ của ngân hàng này, nhóm “Big 4” nhiều khả năng đang chiếm gần 50% tổng dư nợ cho vay toàn hệ thống ngân hàng.

Trong nhóm ngân hàng tư nhân, MB ghi nhận dư nợ cho vay đạt 1,12 triệu tỷ đồng, tăng 3,4% so với đầu năm; trong khi VPBank đạt 1.04 triệu tỷ đồng, tăng mạnh 10,3% - thuộc nhóm tăng trưởng cao nhất hệ thống.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

ABIC để ngỏ hai phương án cổ tức, phấn đấu mở rộng độ phủ bảo hiểm dư nợ ngân hàng mẹ

ABIC để ngỏ hai phương án cổ tức, phấn đấu mở rộng độ phủ bảo hiểm dư nợ ngân hàng mẹ

Bảo hiểm ABIC đặt mục tiêu năm 2026 đạt 3.100 tỷ đồng doanh thu kinh doanh bảo hiểm, phấn đấu đưa tỷ lệ dư nợ tín dụng Agribank được bảo hiểm lên tối thiểu 41,4% trong giai đoạn 5 năm tới. Doanh nghiệp dự kiến duy trì cổ tức tối thiểu 15%, ưu tiên trả bằng cổ phiếu nếu đủ điều kiện pháp lý.
Eximbank biến động nhân sự cấp cao trước thềm Đại hội đồng cổ đông bất thường

Eximbank biến động nhân sự cấp cao trước thềm Đại hội đồng cổ đông bất thường

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank, mã ck: EIB) đã chính thức phát đi thông báo về việc tiếp tục triển khai các nội dung quản trị và thay đổi nhân sự quan trọng thuộc Hội đồng quản trị. Đây là bước đi nằm trong định hướng chuyển đổi đã được Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026 thông qua.
Hơn 60% dư nợ tập trung cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

Hơn 60% dư nợ tập trung cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

(TBTCO) - Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) cho biết, hiện dư nợ lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn chiếm trên 60% trong tổng dư nợ cho vay nền kinh tế trên 2 triệu tỷ đồng của Agribank.
Tỷ giá chịu sức ép ngắn hạn khi nhập siêu tăng, USD phục hồi

Tỷ giá chịu sức ép ngắn hạn khi nhập siêu tăng, USD phục hồi

(TBTCO) - Sau giai đoạn hạ nhiệt đầu năm, tỷ giá USD/VND chịu áp lực trở lại khi USD phục hồi mạnh trước căng thẳng Mỹ - Iran. Dù mới tăng khoảng 0,1% từ đầu năm, tỷ giá vẫn đối mặt sức ép từ xu hướng trượt giá của VND và cán cân thương mại thâm hụt 6 tháng liên tiếp, dù triển vọng cuối năm được kỳ vọng tích cực hơn.
Bắt nhịp “sóng” lãi suất, doanh nghiệp bảo hiểm xoay trục danh mục "trăm nghìn tỷ"

Bắt nhịp “sóng” lãi suất, doanh nghiệp bảo hiểm xoay trục danh mục "trăm nghìn tỷ"

(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất huy động ở mức cao là động lực, đưa tổng lợi nhuận hoạt động tài chính các doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết quý I/2026 tăng 14% so với cùng kỳ. Quản lý danh mục đầu tư hơn 350.000 tỷ đồng, các doanh nghiệp chủ động cơ cấu danh mục tài sản, tăng tiền gửi và khóa lãi suất nhằm cải thiện hiệu quả sinh lời.
Tỷ giá USD hôm nay (6/6): Tỷ giá trung tâm tăng 4 tuần, DXY vượt 100 điểm khi thị trường cược Fed tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (6/6): Tỷ giá trung tâm tăng 4 tuần, DXY vượt 100 điểm khi thị trường cược Fed tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng ngày 6/6, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở 25.147 đồng, tăng 9 đồng trong tuần, đánh dấu tuần tăng thứ 4 liên tiếp. Chỉ số DXY kết tuần tại 100,06 điểm, tăng 0,65% và lên mức cao nhất gần 2 tháng, sau khi dữ liệu việc làm Mỹ vượt kỳ vọng, qua đó, củng cố khả năng Fed có thể tăng 0,25 điểm phần trăm lãi suất vào tháng 12.
Thị trường tiền tệ tuần 1 - 5/6: Lãi suất liên ngân hàng áp sát 11%, phản ứng nhanh rồi xoay trục hút ròng 26.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 1 - 5/6: Lãi suất liên ngân hàng áp sát 11%, phản ứng nhanh rồi xoay trục hút ròng 26.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 1 - 5/6 cho thấy, lãi suất liên ngân hàng qua đêm có thời điểm áp sát 11%, doanh số vay mượn "nóng" vượt 1 triệu tỷ đồng. Ngân hàng Nhà nước nhanh chóng kích hoạt nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ trị giá 1 tỷ USD, bơm mạnh hỗ trợ thanh khoản. Khi áp lực hạ nhiệt, cơ quan điều hành quay lại hút ròng 26.372,11 tỷ đồng, trong bối cảnh tỷ giá vẫn tương đối ổn định.
Giá vàng hôm nay ngày 6/6: Giá vàng trong nước giảm tới gần 4 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 6/6: Giá vàng trong nước giảm tới gần 4 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh tại nhiều doanh nghiệp lớn với mức điều chỉnh lên tới gần 4 triệu đồng/lượng. Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt lùi về quanh ngưỡng 149 - 153 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 13,880 14,380
Kim TT/AVPL 13,880 14,380
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 13,880 14,380
Nguyên Liệu 99.99 13,800 14,000
Nguyên Liệu 99.9 13,750 13,950
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,800 14,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,750 14,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,680 14,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,800 143,800
Hà Nội - PNJ 138,800 143,800
Đà Nẵng - PNJ 138,800 143,800
Miền Tây - PNJ 138,800 143,800
Tây Nguyên - PNJ 138,800 143,800
Đông Nam Bộ - PNJ 138,800 143,800
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,880 14,380
Miếng SJC Nghệ An 13,880 14,380
Miếng SJC Thái Bình 13,880 14,380
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,880 14,380
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,880 14,380
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,880 14,380
NL 99.90 13,450
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,570 14,270
Trang sức 99.99 13,580 14,280
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,388 1,438
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,388 14,382
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,388 14,383
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,386 1,436
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,386 1,437
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,366 1,421
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,693 140,693
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,236 106,736
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,288 96,788
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,734 8,684
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,503 83,003
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,912 59,412
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,388 1,438
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,388 1,438
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,388 1,438
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,388 1,438
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,388 1,438
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,388 1,438
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,388 1,438
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,388 1,438
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,388 1,438
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,388 1,438
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,388 1,438
Cập nhật: 10/06/2026 01:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18045 18320 18899
CAD 18366 18642 19259
CHF 32420 32803 33445
CNY 0 3847 3941
EUR 29820 30042 31126
GBP 34466 34858 35799
HKD 0 3229 3432
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 15058 15648
SGD 19937 20219 20800
THB 717 780 834
USD (1,2) 26066 0 0
USD (5,10,20) 26107 0 0
USD (50,100) 26136 26150 26408
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,128 26,128 26,408
USD(1-2-5) 25,083 - -
USD(10-20) 25,083 - -
EUR 29,826 29,850 31,267
JPY 160.25 160.54 169.56
GBP 34,633 34,727 35,799
AUD 18,269 18,335 18,952
CAD 18,580 18,640 19,250
CHF 32,711 32,813 33,646
SGD 20,082 20,144 20,864
CNY - 3,822 3,953
HKD 3,299 3,309 3,434
KRW 16.02 16.71 18.11
THB 765.47 774.92 826.44
NZD 15,044 15,184 15,575
SEK - 2,750 2,836
DKK - 4,005 4,130
NOK - 2,733 2,822
LAK - 0.91 1.27
MYR 6,071.16 - 6,828.77
TWD 754.97 - 911.05
SAR - 6,907.75 7,248.42
KWD - 83,581 88,583
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,118 26,138 26,408
EUR 29,801 29,921 31,108
GBP 34,490 34,629 35,645
HKD 3,291 3,304 3,420
CHF 32,431 32,561 33,472
JPY 160.47 161.11 168.63
AUD 18,199 18,272 18,864
SGD 20,093 20,174 20,756
THB 783 786 820
CAD 18,528 18,602 19,168
NZD 15,038 15,574
KRW 16.61 18.21
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26158 26158 26408
AUD 18231 18331 19256
CAD 18544 18644 19659
CHF 32670 32700 34274
CNY 3827.8 3852.8 3988.4
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30001 30031 31756
GBP 34766 34816 36577
HKD 0 3355 0
JPY 160.89 161.39 171.9
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15161 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20096 20226 20957
THB 0 746.5 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 13880000 13880000 14380000
SBJ 12000000 12000000 14380000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,170 26,142 26,408
USD20 26,170 26,142 26,408
USD1 23,894 26,142 26,408
AUD 18,264 18,364 19,474
EUR 30,081 30,081 31,495
CAD 18,478 18,578 19,886
SGD 20,150 20,300 20,864
JPY 161.36 162.86 167.46
GBP 34,538 34,888 35,759
XAU 13,878,900 0 14,381,100
CNY 0 3,733 0
THB 0 784 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 10/06/2026 01:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80