Thị trường tiền tệ thích ứng với mặt bằng lãi suất mới

Thu Hương
(TBTCO) - Dưới góc nhìn của giới phân tích, khi lãi suất bước vào chu kỳ điều chỉnh, khả năng thích ứng của thị trường tiền tệ cùng với việc kiểm soát rủi ro tỷ giá sẽ là yếu tố then chốt giúp duy trì ổn định vĩ mô và tạo dư địa cho tăng trưởng.
aa
Quyết định lãi suất của Fed là tâm điểm chú ý trong tuần từ 26 - 31/1 BSC dự báo lãi suất huy động có thể tăng tới 1% cùng hai kịch bản tỷ giá 2026

Thị trường thích ứng với điều chỉnh lãi suất

Dưới góc nhìn của giới phân tích, bức tranh vĩ mô giai đoạn tới đang xuất hiện những tín hiệu điều chỉnh quan trọng, trong đó diễn biến lãi suất và tỷ giá tiếp tục là hai biến số then chốt chi phối kỳ vọng thị trường. Khi nền kinh tế bước sang một chu kỳ mới, yêu cầu đặt ra không chỉ là duy trì ổn định, mà còn phải tạo dư địa cho tăng trưởng. Trong bối cảnh đó, cách thức vận hành của chính sách tiền tệ được kỳ vọng sẽ đóng vai trò nền tảng, giúp thị trường thích ứng tốt hơn trong năm 2026.

Từ góc độ này, bà Đỗ Minh Trang - Giám đốc Trung tâm Phân tích, Công ty Chứng khoán ACB (ACBS) cho rằng, rủi ro tỷ giá trong năm 2026 có xu hướng giảm bớt so với giai đoạn trước. Cơ sở của nhận định này nằm ở diễn biến chênh lệch lãi suất, yếu tố đã tác động đáng kể đến tỷ giá trong thời gian qua, đặc biệt trong bối cảnh dòng vốn quốc tế ngày càng nhạy cảm với sự thay đổi chi phí vốn giữa các thị trường.

Thị trường tiền tệ thích ứng với mặt bằng lãi suất mới
Diễn biến tỷ giá các đồng tiền.

Theo số liệu từ ACBS, mặt bằng lãi suất huy động bình quân của toàn hệ thống ngân hàng hiện ở khoảng 5%/năm, trong khi lãi suất cho vay bình quân vào khoảng 7%. Với mức chênh lệch chỉ xấp xỉ 2%, biên lãi giữa huy động và cho vay đang ở mức khá mỏng so với nhiều giai đoạn trước. Diễn biến này phản ánh áp lực chi phí vốn của hệ thống ngân hàng đã hạ nhiệt đáng kể, đồng thời cho thấy dư địa để điều chỉnh mặt bằng lãi suất trong thời gian tới vẫn còn tương đối rõ ràng.

Trên cơ sở kịch bản vĩ mô xây dựng cho năm 2026, chuyên gia từ ACBS dự báo, lãi suất huy động có thể tăng thêm khoảng 1 - 1,5 điểm phần trăm, đưa mức bình quân từ khoảng 5% hiện nay lên 6 - 6,5%. Song song với đó, lãi suất cho vay được dự báo sẽ điều chỉnh mạnh hơn, tăng khoảng 1,5 - 2 điểm phần trăm, lên khoảng 8,5 - 9%/năm. Kịch bản này được đặt trong bối cảnh điều chỉnh mang tính hệ thống, áp dụng trên diện rộng, thay vì chỉ diễn ra cục bộ tại một số tổ chức tín dụng.

Chuyên gia ACBS cho biết, giai đoạn 2013 - 2017 trước khi đạt đỉnh năm 2018, dù lãi suất cho vay phổ biến ở mức 10 - 12%, hoạt động sản xuất - kinh doanh vẫn tăng trưởng ổn định, cho thấy lãi suất cao không đồng nghĩa với suy giảm tăng trưởng nếu nguồn lực được phân bổ hiệu quả và môi trường kinh doanh thuận lợi.

Theo phân tích của bà Trang, việc lãi suất cho vay tăng nhanh hơn lãi suất huy động không chỉ giúp cải thiện biên lãi của các ngân hàng, mà còn góp phần tạo thế cân đối giữa mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng và yêu cầu bảo đảm an toàn tài chính. Quan trọng hơn, khi chênh lệch lãi suất trong nước và quốc tế được điều chỉnh theo hướng hợp lý, áp lực lên tỷ giá cũng có cơ sở để giảm bớt, qua đó hỗ trợ ổn định môi trường vĩ mô trong trung hạn.

Đặt trong bối cảnh dài hạn hơn, đại diện ACBS nhìn lại các giai đoạn lịch sử cho thấy mối quan hệ giữa lãi suất và tăng trưởng không mang tính tuyến tính. Giai đoạn 2008 - 2012 từng ghi nhận mặt bằng lãi suất rất cao, gắn liền với bối cảnh khủng hoảng kinh tế và nhiều bất ổn vĩ mô.

Từ những dẫn chứng đó, bà Trang cho rằng, với mặt bằng lãi suất cho vay bình quân khoảng 8,5 - 10% trong thời gian tới, nền kinh tế Việt Nam vẫn có khả năng tăng trưởng hiệu quả. Điều kiện đi kèm là quá trình vận hành của nền kinh tế cần bảo đảm tính thông suốt, các nguồn lực tài chính được phân bổ đúng trọng tâm, đồng thời niềm tin của doanh nghiệp và nhà đầu tư được duy trì ổn định. Trong bối cảnh này, việc kiểm soát tốt rủi ro tỷ giá sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc củng cố kỳ vọng và ổn định tâm lý thị trường.

Điều chỉnh lãi suất là tất yếu

Trong khi kịch bản lãi suất trung hạn được nhìn nhận theo hướng có kiểm soát, diễn biến ngắn hạn trên thị trường tiền tệ cũng là yếu tố thu hút sự quan tâm của giới phân tích. Ở góc nhìn bổ sung, ông Nguyễn Kỳ Minh - Kinh tế trưởng, Công ty CP Chứng khoán Guotai Junan Việt Nam cho biết, vào cuối năm 2025, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng từng có thời điểm tăng lên 7 - 8% đối với kỳ hạn 1 tháng. Diễn biến này khiến không ít ý kiến lo ngại mặt bằng lãi suất đã lên mức cao.

Thị trường tiền tệ thích ứng với mặt bằng lãi suất mới

Tuy nhiên, theo đánh giá của ông Minh, nếu đặt trong bối cảnh lịch sử, đây vẫn là vùng lãi suất mà thị trường tiền tệ Việt Nam từng trải qua trong các chu kỳ trước, chưa phải là mức bất thường. Vấn đề then chốt không nằm ở việc lãi suất tăng lên bao nhiêu, mà ở khả năng thích ứng của thị trường với điều kiện mới. Trong ngắn hạn, các chủ thể kinh tế có thể cần thêm thời gian để điều chỉnh kế hoạch tài chính, dòng tiền và hoạt động sản xuất - kinh doanh khi lãi suất không còn duy trì ở vùng thấp như giai đoạn trước.

Từ góc độ chu kỳ, chuyên gia từ Chứng khoán Guotai Junan Việt Nam cho rằng, việc điều chỉnh mặt bằng lãi suất liên ngân hàng là một phần tất yếu trong vận động của thị trường tiền tệ. Dù có thể tạo ra những xáo trộn nhất định trong giai đoạn đầu, nhưng với sự điều hành linh hoạt và nhất quán, các biến động này hoàn toàn có thể được kiểm soát.

Trên cơ sở đó, ông Minh kỳ vọng thị trường sẽ từng bước thích nghi với mặt bằng lãi suất mới, qua đó góp phần củng cố ổn định vĩ mô và tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững trong thời gian tới.

Kịch bản tỷ giá USD/VND năm 2026

Trong bối cảnh lãi suất và tỷ giá bước vào giai đoạn điều chỉnh, theo dự báo của các chuyên gia Công ty CP Chứng khoán BIDV (BSC), áp lực tỷ giá trong năm 2026 có xu hướng giảm dần khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục cắt giảm lãi suất và đồng USD duy trì mặt bằng giá trị thấp. Tuy nhiên, không loại trừ khả năng FED giữ nguyên lãi suất trong nửa đầu năm 2026, cùng với việc đáo hạn các hợp đồng bán USD kỳ hạn của Ngân hàng Nhà nước, khiến áp lực tỷ giá vẫn hiện hữu trong hai quý đầu năm.

Trên cơ sở đó, giới phân tích dự báo, tỷ giá USD/VND năm 2026 có xu hướng mất giá từ từ, với mức tăng bình quân theo hai kịch bản: kịch bản cơ sở tăng 1,5 - 3,5% so với cùng kỳ, và kịch bản tích cực tăng 0 - 1,5% so với cùng kỳ.

Thu Hương

Đọc thêm

Doanh thu cất cánh, lợi nhuận hãng hàng không chao đảo trước “bão” nhiên liệu

Doanh thu cất cánh, lợi nhuận hãng hàng không chao đảo trước “bão” nhiên liệu

(TBTCO) - Sức ép chi phí đang phủ bóng ngành hàng không, khi khách tăng, doanh thu lập đỉnh nhưng lợi nhuận bị nhiên liệu “ăn mòn”. Giá nhiên liệu tăng mạnh khiến nhiều hãng từ lãi chuyển lỗ, buộc các hãng bay phải chủ động xây dựng kịch bản ứng phó, dù nhu cầu đi lại tiếp tục là lực đỡ cho thị trường.
Tỷ giá USD hôm nay (21/8): Tỷ giá trung tâm lần đầu chạm 25.600 đồng, USD ngân hàng đi ngược chiều

Tỷ giá USD hôm nay (21/8): Tỷ giá trung tâm lần đầu chạm 25.600 đồng, USD ngân hàng đi ngược chiều

(TBTCO) - Sáng 21/8, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng, lần đầu chạm 25.600 đồng, trong khi tại ngân hàng diễn biến trái chiều, nhiều nơi giảm 70 đồng. Chỉ số DXY dao động hẹp, hiện quanh 98,77 điểm. Đồng bạc xanh được hỗ trợ nhẹ khi thị trường chờ loạt PMI sơ bộ tại châu Âu, Anh và Mỹ, tìm thêm tín hiệu về triển vọng kinh tế và chính sách tiền tệ.
Tỷ giá USD hôm nay (20/8): Tỷ giá trong nước phân hóa, DXY sụt giảm do Mỹ tăng mua lại trái phiếu

Tỷ giá USD hôm nay (20/8): Tỷ giá trong nước phân hóa, DXY sụt giảm do Mỹ tăng mua lại trái phiếu

(TBTCO) - Sáng 20/8, tỷ giá USD trong nước phân hóa rõ rệt, khi tỷ giá trung tâm giảm 8 đồng xuống 25.590 đồng, các ngân hàng thương mại đi ngang, trong khi USD tự do tăng vọt. Chỉ số DXY giảm mạnh 0,88% xuống 98,76 điểm do áp lực từ chính sách hỗ trợ trái phiếu của Bộ Tài chính Mỹ, dù Fed vẫn để ngỏ khả năng tăng lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (19/8): Tỷ giá trung tâm tiến sát 25.600 đồng, DXY nhích lên trước biên bản Fed

Tỷ giá USD hôm nay (19/8): Tỷ giá trung tâm tiến sát 25.600 đồng, DXY nhích lên trước biên bản Fed

(TBTCO) - Sáng 19/8, tỷ giá trung tâm tăng 18 đồng lên 25.598 đồng, trong khi chỉ số DXY nhích 0,06% lên 99,64 điểm. Thị trường đang chờ biên bản cuộc họp gần nhất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), trong bối cảnh phần lớn chuyên gia dự báo Fed giữ nguyên lãi suất đến cuối năm, song căng thẳng Mỹ - Iran kéo dài tiếp tục tạo lực đỡ cho đồng USD.
Tỷ giá USD hôm nay (18/8): USD diễn biến phân hóa, dữ liệu kinh tế Mỹ hạ nhiệt kỳ vọng Fed nâng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (18/8): USD diễn biến phân hóa, dữ liệu kinh tế Mỹ hạ nhiệt kỳ vọng Fed nâng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 18/8, tỷ giá USD diễn biến phân hóa khi tỷ giá trung tâm giảm 6 đồng xuống 25.580 đồng, USD tự do giảm 150 đồng, trong khi giá USD tại nhiều ngân hàng bật tăng. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY nhích 0,01% lên 99,6 điểm khi dữ liệu kinh tế Mỹ kém khả quan làm giảm kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục nâng lãi suất cuối năm.
Tỷ giá USD hôm nay (15/8): USD tự do giảm sâu 2.000 đồng từ đỉnh, thị trường chờ tín hiệu từ biên bản FOMC

Tỷ giá USD hôm nay (15/8): USD tự do giảm sâu 2.000 đồng từ đỉnh, thị trường chờ tín hiệu từ biên bản FOMC

(TBTCO) - Sáng 15/8, tỷ giá trung tâm ở mức 25.561 đồng, tăng 98 đồng trong tuần, đẩy tỷ giá trần lên 26.839 đồng, trong khi USD tự do lùi xuống vùng thấp nhất khoảng 1,5 năm, giảm 2.130 đồng từ đỉnh. Còn chỉ số DXY giảm 0,33%, chốt tuần ở 99,63 điểm khi bán lẻ Mỹ suy yếu, gây áp lực lên đồng USD. Tuần tới, tâm điểm thị trường chuyển sang biên bản cuộc họp tháng 7 của FOMC.
Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến thị trường tiền tệ tuần qua (10 - 14/8) ghi nhận sự phân hóa khi tỷ giá trung tâm tăng 98 đồng, trong khi USD tự do dưới 26.000 đồng, giảm 7,4% từ đỉnh. Khi thanh khoản hạ nhiệt, lãi suất qua đêm giảm còn 4,38%/năm, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 11.592,78 tỷ đồng. Đáng chú ý, nghiệp vụ hoán đổi USD - VND từng phát huy vai trò "giải nhiệt" thanh khoản, với số dư kỷ lục trên 143.000 tỷ đồng.
Tỷ giá USD hôm nay (14/8): Tỷ giá trung tâm giảm, PPI Mỹ thấp hơn dự báo kéo giảm kỳ vọng Fed tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (14/8): Tỷ giá trung tâm giảm, PPI Mỹ thấp hơn dự báo kéo giảm kỳ vọng Fed tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 14/8, tỷ giá trung tâm giảm 5 đồng xuống 25.561 đồng/USD sau chuỗi phiên tăng mạnh, trong khi tỷ giá USD tại các ngân hàng lại đi lên. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,04% xuống 99,92 điểm, khi chỉ số giá sản xuất (PPI) tháng 7 của Mỹ đi ngang và thấp hơn dự báo, nối tiếp CPI hạ nhiệt, gây sức ép lên đồng USD và kéo giảm kỳ vọng Fed tăng lãi suất.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Hà Nội - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Đà Nẵng - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Miền Tây - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Tây Nguyên - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
Miếng SJC Nghệ An 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
Miếng SJC Thái Bình 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,800 ▲340K 15,200 ▲390K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,800 ▲340K 15,200 ▲390K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,800 ▲340K 15,200 ▲390K
NL 99.99 14,150 ▲450K
Nhẫn Tròn Thái Bình 14,050 ▲450K
Trang sức 99.9 14,510 ▲390K 15,110 ▲390K
Trang sức 99.99 14,520 ▲390K 15,120 ▲390K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 147 ▼1299K 15,002 ▲240K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 147 ▼1299K 15,003 ▲240K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,465 ▲24K 1,495 ▲24K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,465 ▲24K 1,496 ▲24K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,435 ▲24K 148 ▼1308K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 139,535 ▲2377K 146,535 ▲2377K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 101,361 ▲1800K 111,161 ▲1800K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 91 ▼89277K 1,008 ▼98160K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,639 ▲1464K 90,439 ▲1464K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,643 ▲1400K 86,443 ▲1400K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 52,072 ▲1001K 61,872 ▲1001K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Cập nhật: 24/08/2026 15:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18206 18481 19065
CAD 18387 18664 19281
CHF 32004 32386 33026
CNY 0 3840 3950
EUR 29911 30134 31210
GBP 34891 35284 36227
HKD 0 3206 3409
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15311 15896
SGD 20054 20337 20913
THB 716 779 833
USD (1,2) 25895 0 0
USD (5,10,20) 25935 0 0
USD (50,100) 25964 25978 26344
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,950 25,950 26,330
USD(1-2-5) 24,912 - -
USD(10-20) 24,912 - -
EUR 29,928 29,952 31,371
JPY 159.96 160.25 169.93
GBP 35,019 35,114 36,339
AUD 18,376 18,442 19,151
CAD 18,596 18,656 19,346
CHF 32,248 32,348 33,303
SGD 20,164 20,227 21,019
CNY - 3,813 3,959
HKD 3,267 3,277 3,414
KRW 17.46 18.21 19.81
THB 763.56 772.99 827.36
NZD 15,268 15,410 15,868
SEK - 2,712 2,808
DKK - 4,014 4,156
NOK - 2,757 2,862
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,044.92 - 6,824.23
TWD 742.72 - 899.2
SAR - 6,842.36 7,207.52
KWD - 82,924 88,232
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,900 25,930 26,310
EUR 29,956 30,076 31,275
GBP 35,029 35,170 36,209
HKD 3,264 3,277 3,394
CHF 32,092 32,221 33,163
JPY 160.46 161.10 169.08
AUD 18,395 18,469 19,066
SGD 20,227 20,308 20,907
THB 781 784 821
CAD 18,596 18,671 19,268
NZD 15,367 15,917
KRW 18.09 20.08
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25930 25930 26330
AUD 18388 18488 19411
CAD 18582 18682 19697
CHF 32257 32287 33869
CNY 3828.5 3853.5 3988.9
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 30082 30112 31837
GBP 35164 35214 36975
HKD 0 3330 0
JPY 161.03 161.53 172.07
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15419 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20215 20345 21066
THB 0 745.3 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14700000 14700000 15000000
SBJ 13000000 13000000 15000000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,930 25,980 26,310
USD20 25,880 25,980 26,830
USD1 25,830 25,980 26,880
AUD 18,406 18,506 19,646
EUR 29,830 29,930 31,633
CAD 18,517 18,617 19,948
SGD 20,261 20,411 21,693
JPY 161.25 162.75 168.54
GBP 35,011 35,161 36,530
XAU 14,458,000 0 14,762,000
CNY 0 3,733 0
THB 0 779 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 24/08/2026 15:30
Ngân hàng