Thị trường tiền tệ thích ứng với mặt bằng lãi suất mới

Thu Hương
(TBTCO) - Dưới góc nhìn của giới phân tích, khi lãi suất bước vào chu kỳ điều chỉnh, khả năng thích ứng của thị trường tiền tệ cùng với việc kiểm soát rủi ro tỷ giá sẽ là yếu tố then chốt giúp duy trì ổn định vĩ mô và tạo dư địa cho tăng trưởng.
aa
Quyết định lãi suất của Fed là tâm điểm chú ý trong tuần từ 26 - 31/1 BSC dự báo lãi suất huy động có thể tăng tới 1% cùng hai kịch bản tỷ giá 2026

Thị trường thích ứng với điều chỉnh lãi suất

Dưới góc nhìn của giới phân tích, bức tranh vĩ mô giai đoạn tới đang xuất hiện những tín hiệu điều chỉnh quan trọng, trong đó diễn biến lãi suất và tỷ giá tiếp tục là hai biến số then chốt chi phối kỳ vọng thị trường. Khi nền kinh tế bước sang một chu kỳ mới, yêu cầu đặt ra không chỉ là duy trì ổn định, mà còn phải tạo dư địa cho tăng trưởng. Trong bối cảnh đó, cách thức vận hành của chính sách tiền tệ được kỳ vọng sẽ đóng vai trò nền tảng, giúp thị trường thích ứng tốt hơn trong năm 2026.

Từ góc độ này, bà Đỗ Minh Trang - Giám đốc Trung tâm Phân tích, Công ty Chứng khoán ACB (ACBS) cho rằng, rủi ro tỷ giá trong năm 2026 có xu hướng giảm bớt so với giai đoạn trước. Cơ sở của nhận định này nằm ở diễn biến chênh lệch lãi suất, yếu tố đã tác động đáng kể đến tỷ giá trong thời gian qua, đặc biệt trong bối cảnh dòng vốn quốc tế ngày càng nhạy cảm với sự thay đổi chi phí vốn giữa các thị trường.

Thị trường tiền tệ thích ứng với mặt bằng lãi suất mới
Diễn biến tỷ giá các đồng tiền.

Theo số liệu từ ACBS, mặt bằng lãi suất huy động bình quân của toàn hệ thống ngân hàng hiện ở khoảng 5%/năm, trong khi lãi suất cho vay bình quân vào khoảng 7%. Với mức chênh lệch chỉ xấp xỉ 2%, biên lãi giữa huy động và cho vay đang ở mức khá mỏng so với nhiều giai đoạn trước. Diễn biến này phản ánh áp lực chi phí vốn của hệ thống ngân hàng đã hạ nhiệt đáng kể, đồng thời cho thấy dư địa để điều chỉnh mặt bằng lãi suất trong thời gian tới vẫn còn tương đối rõ ràng.

Trên cơ sở kịch bản vĩ mô xây dựng cho năm 2026, chuyên gia từ ACBS dự báo, lãi suất huy động có thể tăng thêm khoảng 1 - 1,5 điểm phần trăm, đưa mức bình quân từ khoảng 5% hiện nay lên 6 - 6,5%. Song song với đó, lãi suất cho vay được dự báo sẽ điều chỉnh mạnh hơn, tăng khoảng 1,5 - 2 điểm phần trăm, lên khoảng 8,5 - 9%/năm. Kịch bản này được đặt trong bối cảnh điều chỉnh mang tính hệ thống, áp dụng trên diện rộng, thay vì chỉ diễn ra cục bộ tại một số tổ chức tín dụng.

Chuyên gia ACBS cho biết, giai đoạn 2013 - 2017 trước khi đạt đỉnh năm 2018, dù lãi suất cho vay phổ biến ở mức 10 - 12%, hoạt động sản xuất - kinh doanh vẫn tăng trưởng ổn định, cho thấy lãi suất cao không đồng nghĩa với suy giảm tăng trưởng nếu nguồn lực được phân bổ hiệu quả và môi trường kinh doanh thuận lợi.

Theo phân tích của bà Trang, việc lãi suất cho vay tăng nhanh hơn lãi suất huy động không chỉ giúp cải thiện biên lãi của các ngân hàng, mà còn góp phần tạo thế cân đối giữa mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng và yêu cầu bảo đảm an toàn tài chính. Quan trọng hơn, khi chênh lệch lãi suất trong nước và quốc tế được điều chỉnh theo hướng hợp lý, áp lực lên tỷ giá cũng có cơ sở để giảm bớt, qua đó hỗ trợ ổn định môi trường vĩ mô trong trung hạn.

Đặt trong bối cảnh dài hạn hơn, đại diện ACBS nhìn lại các giai đoạn lịch sử cho thấy mối quan hệ giữa lãi suất và tăng trưởng không mang tính tuyến tính. Giai đoạn 2008 - 2012 từng ghi nhận mặt bằng lãi suất rất cao, gắn liền với bối cảnh khủng hoảng kinh tế và nhiều bất ổn vĩ mô.

Từ những dẫn chứng đó, bà Trang cho rằng, với mặt bằng lãi suất cho vay bình quân khoảng 8,5 - 10% trong thời gian tới, nền kinh tế Việt Nam vẫn có khả năng tăng trưởng hiệu quả. Điều kiện đi kèm là quá trình vận hành của nền kinh tế cần bảo đảm tính thông suốt, các nguồn lực tài chính được phân bổ đúng trọng tâm, đồng thời niềm tin của doanh nghiệp và nhà đầu tư được duy trì ổn định. Trong bối cảnh này, việc kiểm soát tốt rủi ro tỷ giá sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc củng cố kỳ vọng và ổn định tâm lý thị trường.

Điều chỉnh lãi suất là tất yếu

Trong khi kịch bản lãi suất trung hạn được nhìn nhận theo hướng có kiểm soát, diễn biến ngắn hạn trên thị trường tiền tệ cũng là yếu tố thu hút sự quan tâm của giới phân tích. Ở góc nhìn bổ sung, ông Nguyễn Kỳ Minh - Kinh tế trưởng, Công ty CP Chứng khoán Guotai Junan Việt Nam cho biết, vào cuối năm 2025, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng từng có thời điểm tăng lên 7 - 8% đối với kỳ hạn 1 tháng. Diễn biến này khiến không ít ý kiến lo ngại mặt bằng lãi suất đã lên mức cao.

Thị trường tiền tệ thích ứng với mặt bằng lãi suất mới

Tuy nhiên, theo đánh giá của ông Minh, nếu đặt trong bối cảnh lịch sử, đây vẫn là vùng lãi suất mà thị trường tiền tệ Việt Nam từng trải qua trong các chu kỳ trước, chưa phải là mức bất thường. Vấn đề then chốt không nằm ở việc lãi suất tăng lên bao nhiêu, mà ở khả năng thích ứng của thị trường với điều kiện mới. Trong ngắn hạn, các chủ thể kinh tế có thể cần thêm thời gian để điều chỉnh kế hoạch tài chính, dòng tiền và hoạt động sản xuất - kinh doanh khi lãi suất không còn duy trì ở vùng thấp như giai đoạn trước.

Từ góc độ chu kỳ, chuyên gia từ Chứng khoán Guotai Junan Việt Nam cho rằng, việc điều chỉnh mặt bằng lãi suất liên ngân hàng là một phần tất yếu trong vận động của thị trường tiền tệ. Dù có thể tạo ra những xáo trộn nhất định trong giai đoạn đầu, nhưng với sự điều hành linh hoạt và nhất quán, các biến động này hoàn toàn có thể được kiểm soát.

Trên cơ sở đó, ông Minh kỳ vọng thị trường sẽ từng bước thích nghi với mặt bằng lãi suất mới, qua đó góp phần củng cố ổn định vĩ mô và tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững trong thời gian tới.

Kịch bản tỷ giá USD/VND năm 2026

Trong bối cảnh lãi suất và tỷ giá bước vào giai đoạn điều chỉnh, theo dự báo của các chuyên gia Công ty CP Chứng khoán BIDV (BSC), áp lực tỷ giá trong năm 2026 có xu hướng giảm dần khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục cắt giảm lãi suất và đồng USD duy trì mặt bằng giá trị thấp. Tuy nhiên, không loại trừ khả năng FED giữ nguyên lãi suất trong nửa đầu năm 2026, cùng với việc đáo hạn các hợp đồng bán USD kỳ hạn của Ngân hàng Nhà nước, khiến áp lực tỷ giá vẫn hiện hữu trong hai quý đầu năm.

Trên cơ sở đó, giới phân tích dự báo, tỷ giá USD/VND năm 2026 có xu hướng mất giá từ từ, với mức tăng bình quân theo hai kịch bản: kịch bản cơ sở tăng 1,5 - 3,5% so với cùng kỳ, và kịch bản tích cực tăng 0 - 1,5% so với cùng kỳ.

Thu Hương

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (11/5): Tỷ giá trung tâm tăng, USD tự do tiếp đà giảm

Tỷ giá USD hôm nay (11/5): Tỷ giá trung tâm tăng, USD tự do tiếp đà giảm

(TBTCO) - Trong phiên đầu tuần sáng ngày 11/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.118 đồng, tăng 6 đồng, trong khi USD tự do giảm 30 đồng, xuống 26.420 - 26.470 VND/USD. Chỉ số DXY ở mức 97,9 điểm, khi căng thẳng Trung Đông có dấu hiệu hạ nhiệt, song thị trường vẫn thận trọng trước những bất định về khả năng đạt được thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 9/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do giảm sâu gần 300 đồng sau một tuần. Chỉ số DXY chốt tuần tại 97,86 điểm, giảm 0,19%, khi căng thẳng Trung Đông có tín hiệu hạ nhiệt, dù vẫn nhiều bất định để đạt thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Chứng khoán MBS dự báo áp lực lên tỷ giá quý II/2026, mức biến động quanh 26.350 - 26.700 đồng

Chứng khoán MBS dự báo áp lực lên tỷ giá quý II/2026, mức biến động quanh 26.350 - 26.700 đồng

(TBTCO) - Theo đánh giá của Chứng khoán MBS, tỷ giá USD/VND tháng 4/2026 tương đối ổn định, tuy nhiên, áp lực vẫn hiện hữu khi giá dầu neo cao do căng thẳng Trung Đông tiếp tục thúc đẩy đà tăng đồng USD, Fed dự báo trì hoãn giảm lãi suất hết năm 2027 và thặng dư thương mại trong nước thu hẹp. Tỷ giá USD quý II/2026 dự báo dao động quanh 26.350 - 26.700 VND/USD.
Thị trường tiền tệ tuần 4 - 8/5: Tỷ giá USD tự do mất mốc 26.500 đồng, bơm tiền mạnh khi lãi suất qua đêm vượt 7%

Thị trường tiền tệ tuần 4 - 8/5: Tỷ giá USD tự do mất mốc 26.500 đồng, bơm tiền mạnh khi lãi suất qua đêm vượt 7%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 4 - 8/5 cho thấy, tỷ giá trung tâm chỉ giảm nhẹ 1 đồng, trong khi USD tự do lao dốc tới 290 đồng, mất mốc 26.500 VND/USD. Trong bối cảnh áp lực tỷ giá hạ nhiệt nhờ DXY suy yếu, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 5.831 tỷ đồng qua kênh OMO, sau khi lãi suất liên ngân hàng qua đêm có thời điểm vọt lên 7% đầu tuần.
Tỷ giá USD hôm nay (8/5): USD biến động hẹp, chờ tín hiệu mở lại eo biển Hormuz chấm dứt 10 tuần xung đột

Tỷ giá USD hôm nay (8/5): USD biến động hẹp, chờ tín hiệu mở lại eo biển Hormuz chấm dứt 10 tuần xung đột

(TBTCO) - Sáng ngày 8/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố giảm 1 đồng xuống 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do phổ biến quanh 26.580 - 26.620 VND/USD. Chỉ số DXY tăng 0,19% lên 98,25 điểm, cho thấy đồng USD phục hồi nhẹ, khi giới đầu tư chờ phản hồi từ Iran về đề xuất mở lại eo biển Hormuz và chấm dứt xung đột kéo dài 10 tuần.
Tỷ giá USD hôm nay (7/5): USD tự do đi lùi, DXY hồi nhẹ nhờ khả năng eo biển Hormuz mở cửa lại

Tỷ giá USD hôm nay (7/5): USD tự do đi lùi, DXY hồi nhẹ nhờ khả năng eo biển Hormuz mở cửa lại

(TBTCO) - Sáng ngày 7/5, tỷ giá trung tâm giữ nguyên ở mức 25.113 đồng, trong khi USD tự do giảm 40 đồng xuống quanh 26.580 - 26.620 VND/USD. Còn DXY nhích nhẹ lên 98,03 điểm sau khi rơi dưới mốc 98 điểm, nhờ kỳ vọng căng thẳng Trung Đông hạ nhiệt, eo biển Hormuz có thể được mở cửa trở lại và áp lực trú ẩn vào USD suy yếu.
Tỷ giá USD hôm nay (6/5): USD tự do lùi nhẹ, DXY lùi sát 98 điểm khi Mỹ tạm dừng chiến dịch hỗ trợ tàu qua Hormuz

Tỷ giá USD hôm nay (6/5): USD tự do lùi nhẹ, DXY lùi sát 98 điểm khi Mỹ tạm dừng chiến dịch hỗ trợ tàu qua Hormuz

(TBTCO) - Sáng ngày 6/5, tỷ giá trung tâm tăng 2 đồng lên 25.113 đồng, trong khi USD tự do giảm về 26.620 - 26.660 VND/USD. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY giảm 0,17% xuống 98,28 điểm khi Mỹ sẽ tạm dừng chiến dịch hỗ trợ tàu thương mại qua Hormuz để chờ tiến triển đàm phán với Iran.
Tỷ giá USD hôm nay (5/5): Tỷ giá trong nước cùng lùi nhẹ, USD giữ sức chờ tín hiệu đàm phán Mỹ - Iran

Tỷ giá USD hôm nay (5/5): Tỷ giá trong nước cùng lùi nhẹ, USD giữ sức chờ tín hiệu đàm phán Mỹ - Iran

(TBTCO) - Sáng ngày 5/5, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 1 đồng xuống 25.111 đồng, tỷ giá USD tự do lùi nhẹ 10 đồng, trong khi DXY nhích lên 98,49 điểm. Đồng bạc xanh duy trì sức mạnh khi căng thẳng tại eo biển Hormuz chưa hạ nhiệt, đe dọa nguồn cung dầu toàn cầu, dù đàm phán Mỹ - Iran có tín hiệu tiến triển giúp giá dầu tạm điều chỉnh giảm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Kim TT/AVPL 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Nguyên Liệu 99.99 15,300 ▲60K 15,500 ▲60K
Nguyên Liệu 99.9 15,250 ▲60K 15,450 ▲60K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,050 ▲30K 16,450 ▲30K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,000 ▲30K 16,400 ▲30K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,930 ▲30K 16,380 ▲30K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Hà Nội - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Đà Nẵng - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Miền Tây - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Tây Nguyên - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Đông Nam Bộ - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Miếng SJC Nghệ An 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Miếng SJC Thái Bình 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
NL 99.90 15,100 ▲30K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,150 ▲30K
Trang sức 99.9 15,740 ▲30K 16,440 ▲30K
Trang sức 99.99 15,750 ▲30K 16,450 ▲30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,625 ▲3K 16,552 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,625 ▲3K 16,553 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,623 ▲6K 1,653 ▲6K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,623 ▲6K 1,654 ▲6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,603 ▲5K 1,638 ▲5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,678 ▲495K 162,178 ▲495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 114,112 ▲375K 123,012 ▲375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,645 ▲340K 111,545 ▲340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 91,178 ▲305K 100,078 ▲305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,755 ▲292K 95,655 ▲292K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,561 ▲208K 68,461 ▲208K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Cập nhật: 12/05/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18486 18762 19335
CAD 18676 18954 19571
CHF 33073 33459 34104
CNY 0 3838 3930
EUR 30303 30577 31602
GBP 34851 35244 36178
HKD 0 3233 3435
JPY 160 164 170
KRW 0 16 18
NZD 0 15357 15942
SGD 20146 20429 20951
THB 728 791 844
USD (1,2) 26073 0 0
USD (5,10,20) 26114 0 0
USD (50,100) 26142 26162 26379
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,139 26,139 26,379
USD(1-2-5) 25,094 - -
USD(10-20) 25,094 - -
EUR 30,480 30,504 31,794
JPY 162.98 163.27 172.21
GBP 35,090 35,185 36,203
AUD 18,690 18,758 19,363
CAD 18,917 18,978 19,568
CHF 33,416 33,520 34,319
SGD 20,302 20,365 21,059
CNY - 3,810 3,934
HKD 3,304 3,314 3,434
KRW 16.33 17.03 18.42
THB 776.63 786.22 837.23
NZD 15,340 15,482 15,856
SEK - 2,800 2,883
DKK - 4,080 4,201
NOK - 2,819 2,903
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,263.03 - 7,032.46
TWD 755.19 - 909.35
SAR - 6,915.92 7,245.03
KWD - 83,885 88,772
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,119 26,139 26,379
EUR 30,418 30,540 31,723
GBP 35,166 35,307 36,320
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 33,216 33,349 34,293
JPY 163.34 164 171.44
AUD 18,703 18,778 19,371
SGD 20,374 20,456 21,043
THB 794 797 832
CAD 18,887 18,963 19,538
NZD 15,439 15,975
KRW 17.03 18.70
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26211 26211 26379
AUD 18672 18772 19700
CAD 18860 18960 19974
CHF 33315 33345 34933
CNY 3817.2 3842.2 3977.3
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30480 30510 32236
GBP 35158 35208 36968
HKD 0 3355 0
JPY 163.59 164.09 174.6
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15469 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20302 20432 21164
THB 0 757.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16250000 16250000 16550000
SBJ 14000000 14000000 16550000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,152 26,202 26,379
USD20 26,152 26,202 26,379
USD1 23,867 26,202 26,379
AUD 18,736 18,836 19,949
EUR 30,663 30,663 32,081
CAD 18,823 18,923 20,237
SGD 20,408 20,558 21,529
JPY 164.06 165.56 170.17
GBP 35,161 35,511 36,387
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 793 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 12/05/2026 22:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80