Dự báo USD suy yếu dần, tỷ giá chỉ bớt căng sau nửa đầu 2026
Trong báo cáo vĩ mô - thị trường năm 2026 vừa công bố, bàn về chiến lược đầu tư, Công ty Cổ phần Chứng khoán BIDV (BSC) nhấn mạnh quan điểm “đường dài mới biết ngựa hay”.
Nhóm phân tích BSC cho rằng, nền kinh tế Việt Nam đang bước vào giai đoạn tăng trưởng cao và ổn định hơn so với các chu kỳ trước. Nếu các chu kỳ tăng trưởng trước đây phụ thuộc nhiều vào các biện pháp nới lỏng tiền tệ ngắn hạn, thì chu kỳ hiện tại được hậu thuẫn bởi cách thức điều hành chủ động, linh hoạt, với sự phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tiền tệ và tài khóa, hướng tới mục tiêu tăng trưởng trung - dài hạn.
Cùng với đó, hàng loạt nghị quyết và chính sách mới đang từng bước tháo gỡ các nút thắt thể chế, khơi thông nguồn lực xã hội và mở ra dư địa tăng trưởng mới trong các lĩnh vực như chuyển đổi số, công nghệ - dữ liệu, chuỗi cung ứng công nghệ cao, năng lượng tái tạo, kinh tế xanh, logistics và hạ tầng.
Dự báo về tỷ giá USD/VND, nhóm phân tích BSC cho rằng, năm 2026, nhiều khả năng tỷ giá có thiên hướng mất giá một cách từ từ, với kịch bản 1 tăng khoảng 1,5 - 3,5% cùng kỳ và kịch bản 2 tích cực hơn, dự báo tăng khoảng 0 - 1,5% cùng kỳ.
![]() |
| "Áp lực tỷ giá được kỳ vọng sẽ giảm dần khi Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục cắt giảm lãi suất và đồng USD duy trì mặt bằng giá trị thấp. Tuy vậy, chúng tôi cũng không loại trừ kịch bản Fed có thể giữ nguyên lãi suất trong nửa đầu năm 2026 kết hợp với việc đáo hạn các hợp đồng bán USD kỳ hạn của Ngân hàng Nhà nước sẽ khiến áp lực tỷ giá vẫn còn trong hai quý đầu năm" - nhóm phân tích BSC nhìn nhận. |
Trước đó, năm 2025, Ngân hàng Nhà nước điều hành chính sách tiền tệ theo hướng linh hoạt, với mục tiêu bảo đảm các cân đối vĩ mô lớn và hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Mặt bằng lãi suất nhìn chung được duy trì ổn định ở mức thấp trong phần lớn thời gian của năm, chỉ tăng nhẹ vào giai đoạn cuối năm đối với cả lãi suất huy động và lãi suất cho vay, do áp lực đến từ tình trạng thanh khoản hệ thống căng thẳng hơn và vấn đề tỷ giá.
Theo BSC, áp lực đối với chính sách tiền tệ một phần đến từ yếu tố tỷ giá. Tính đến hết năm 2025, chỉ số DXY, chỉ số đo lường sức mạnh của đồng đô la Mỹ so với 6 loại tiền tệ khác, giảm khoảng 10%, tuy nhiên tỷ giá USD/VND vẫn tăng khoảng 3,3%.
Diễn biến này xuất phát từ một số nguyên nhân chính được BSC chỉ rõ, đó là Kho bạc Nhà nước mua khoảng 2 tỷ USD để trả nợ nước ngoài. Cùng với đó, giá vàng thế giới tăng mạnh khiến một lượng lớn USD chảy ra ngoài thị trường để thực hiện các hoạt động mua vàng; các doanh nghiệp FDI và FII thực hiện chốt lời và chuyển lợi nhuận về nước.
"Chỉ số DXY suy giảm, tuy nhiên, chênh lệch lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ và Việt Nam duy trì ở mức cao, điều này cũng khiến dòng vốn dịch chuyển đến nơi có hiệu suất hấp dẫn hơn" - nhóm phân tích BSC nhìn nhận.
Việc một lượng lớn ngoại tệ chảy ra khỏi nền kinh tế khiến dự trữ ngoại hối của Việt Nam chưa có nhiều tín hiệu khởi sắc. Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), tính đến cuối tháng 9/2025, dự trữ ngoại hối của Việt Nam đạt khoảng 82,1 tỷ USD, tương đương hơn 2 tháng nhập khẩu, thấp hơn mức khuyến nghị theo chuẩn của IMF là 3 - 4 tháng nhập khẩu.
Ngoài ra, trong giai đoạn cuối quý III/2025 đầu quý IV/2025, khi tỷ giá tăng nhanh hơn, Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện bán USD kỳ hạn 6 tháng có huỷ ngang để kiểm soát đà tăng của tỷ giá. Như vậy, áp lực tỷ giá phần lớn đến từ nội lực của Việt Nam, do dự trữ ngoại hối Việt Nam thấp và phải Ngân hàng Nhà nước phải dàn trải nguồn lực để ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong nước hơn.
Cung tiền không theo kịp, lãi suất huy động dự kiến tăng 0,5 - 1%
Dự báo về mặt bằng lãi suất trong năm 2026, nhóm phân tích Chứng khoán BIDV cho rằng, mặt bằng lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng được dự báo có thể tăng thêm khoảng 0,5 - 1%. Trong bối cảnh đó, lạm phát được đánh giá vẫn nằm trong tầm kiểm soát, khi mặt bằng lãi suất tăng có thể góp phần làm chậm lại tốc độ tăng của giá cả.
![]() |
Đánh giá về thanh khoản hệ thống, theo BSC, cuối năm 2025, tỷ lệ tín dụng/huy động vốn (LDR) của toàn hệ thống tiến sát 110%, vượt xa mức trần 85% theo quy định tại Thông tư số 22/2019/TT-NHNN.
Nhóm phân tích BSC ước tính, chênh lệch giữa tín dụng và huy động ước khoảng 1,6 triệu tỷ đồng, chủ yếu đến từ ba nguồn gồm tiền gửi Kho bạc Nhà nước với quy mô hơn 1 triệu tỷ đồng; khoản cho vay đặc biệt của Ngân hàng Nhà nước đối với SCB khoảng 590 nghìn tỷ đồng và khoảng 140 nghìn tỷ đồng tái cấp vốn cho các ngân hàng thương mại phục vụ tái cơ cấu các tổ chức tín dụng yếu kém.
Cũng theo BSC, tại Việt Nam, tỷ lệ tín dụng/GDP khoảng 140% cho thấy nguồn vốn cho phát triển kinh tế vẫn phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng.
Việc mặt bằng lãi suất thấp trong những năm gần đây và triển vọng kinh tế phục hồi cho những năm tới sẽ khiến cho nhu cầu tín dụng tiếp tục tăng trưởng tốt. Trong khi đó, so với các kênh đầu tư có lợi suất tốt như: cổ phiếu, bất động sản, trái phiếu, hoặc thậm chí là trái phiếu doanh nghiệp..., kênh tiền gửi có hiệu suất kém nhất, dẫn đến khả năng huy động vốn cho các tổ chức tín dụng gặp nhiều khó khăn.
"Như vậy, việc cầu tiền cao, trong khi cung tiền không theo kịp sẽ khiến cho giá của tiền là lãi suất chịu áp lực tăng trong thời gian tới" - BSC nhận định./.



