BSC dự báo lãi suất huy động có thể tăng tới 1% cùng hai kịch bản tỷ giá 2026

Ánh Tuyết
Theo nhóm phân tích BSC, năm 2026, tỷ giá USD/VND có thiên hướng mất giá một cách từ từ theo hai kịch bản, áp lực tỷ giá được kỳ vọng sẽ giảm dần sau nửa đầu năm. Cùng với đó, lãi suất huy động được dự báo nhích lên 0,5 - 1% do cầu tín dụng cao, trong khi cung tiền không theo kịp khiến thanh khoản hệ thống chịu sức ép.
aa
Điều hành tỷ giá linh hoạt trong "vùng nhiễu động" Nhiều sức ép đẩy lãi suất huy động vào cuộc rượt đuổi đầu năm Thị trường tiền tệ tuần 19 - 23/1: Lãi suất qua đêm rơi về 2,8%, hút ròng liên tiếp hơn 110.000 tỷ đồng

Dự báo USD suy yếu dần, tỷ giá chỉ bớt căng sau nửa đầu 2026

Trong báo cáo vĩ mô - thị trường năm 2026 vừa công bố, bàn về chiến lược đầu tư, Công ty Cổ phần Chứng khoán BIDV (BSC) nhấn mạnh quan điểm “đường dài mới biết ngựa hay”.

Nhóm phân tích BSC cho rằng, nền kinh tế Việt Nam đang bước vào giai đoạn tăng trưởng cao và ổn định hơn so với các chu kỳ trước. Nếu các chu kỳ tăng trưởng trước đây phụ thuộc nhiều vào các biện pháp nới lỏng tiền tệ ngắn hạn, thì chu kỳ hiện tại được hậu thuẫn bởi cách thức điều hành chủ động, linh hoạt, với sự phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tiền tệ và tài khóa, hướng tới mục tiêu tăng trưởng trung - dài hạn.

Cùng với đó, hàng loạt nghị quyết và chính sách mới đang từng bước tháo gỡ các nút thắt thể chế, khơi thông nguồn lực xã hội và mở ra dư địa tăng trưởng mới trong các lĩnh vực như chuyển đổi số, công nghệ - dữ liệu, chuỗi cung ứng công nghệ cao, năng lượng tái tạo, kinh tế xanh, logistics và hạ tầng.

Dự báo về tỷ giá USD/VND, nhóm phân tích BSC cho rằng, năm 2026, nhiều khả năng tỷ giá có thiên hướng mất giá một cách từ từ, với kịch bản 1 tăng khoảng 1,5 - 3,5% cùng kỳ và kịch bản 2 tích cực hơn, dự báo tăng khoảng 0 - 1,5% cùng kỳ.

BSC dự báo lãi suất huy động có thể tăng tới 1% cùng hai kịch bản tỷ giá 2026
"Áp lực tỷ giá được kỳ vọng sẽ giảm dần khi Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục cắt giảm lãi suất và đồng USD duy trì mặt bằng giá trị thấp. Tuy vậy, chúng tôi cũng không loại trừ kịch bản Fed có thể giữ nguyên lãi suất trong nửa đầu năm 2026 kết hợp với việc đáo hạn các hợp đồng bán USD kỳ hạn của Ngân hàng Nhà nước sẽ khiến áp lực tỷ giá vẫn còn trong hai quý đầu năm" - nhóm phân tích BSC nhìn nhận.

Trước đó, năm 2025, Ngân hàng Nhà nước điều hành chính sách tiền tệ theo hướng linh hoạt, với mục tiêu bảo đảm các cân đối vĩ mô lớn và hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Mặt bằng lãi suất nhìn chung được duy trì ổn định ở mức thấp trong phần lớn thời gian của năm, chỉ tăng nhẹ vào giai đoạn cuối năm đối với cả lãi suất huy động và lãi suất cho vay, do áp lực đến từ tình trạng thanh khoản hệ thống căng thẳng hơn và vấn đề tỷ giá.

Theo BSC, áp lực đối với chính sách tiền tệ một phần đến từ yếu tố tỷ giá. Tính đến hết năm 2025, chỉ số DXY, chỉ số đo lường sức mạnh của đồng đô la Mỹ so với 6 loại tiền tệ khác, giảm khoảng 10%, tuy nhiên tỷ giá USD/VND vẫn tăng khoảng 3,3%.

Diễn biến này xuất phát từ một số nguyên nhân chính được BSC chỉ rõ, đó là Kho bạc Nhà nước mua khoảng 2 tỷ USD để trả nợ nước ngoài. Cùng với đó, giá vàng thế giới tăng mạnh khiến một lượng lớn USD chảy ra ngoài thị trường để thực hiện các hoạt động mua vàng; các doanh nghiệp FDI và FII thực hiện chốt lời và chuyển lợi nhuận về nước.

"Chỉ số DXY suy giảm, tuy nhiên, chênh lệch lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ và Việt Nam duy trì ở mức cao, điều này cũng khiến dòng vốn dịch chuyển đến nơi có hiệu suất hấp dẫn hơn" - nhóm phân tích BSC nhìn nhận.

Việc một lượng lớn ngoại tệ chảy ra khỏi nền kinh tế khiến dự trữ ngoại hối của Việt Nam chưa có nhiều tín hiệu khởi sắc. Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), tính đến cuối tháng 9/2025, dự trữ ngoại hối của Việt Nam đạt khoảng 82,1 tỷ USD, tương đương hơn 2 tháng nhập khẩu, thấp hơn mức khuyến nghị theo chuẩn của IMF là 3 - 4 tháng nhập khẩu.

Ngoài ra, trong giai đoạn cuối quý III/2025 đầu quý IV/2025, khi tỷ giá tăng nhanh hơn, Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện bán USD kỳ hạn 6 tháng có huỷ ngang để kiểm soát đà tăng của tỷ giá. Như vậy, áp lực tỷ giá phần lớn đến từ nội lực của Việt Nam, do dự trữ ngoại hối Việt Nam thấp và phải Ngân hàng Nhà nước phải dàn trải nguồn lực để ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong nước hơn.

Cung tiền không theo kịp, lãi suất huy động dự kiến tăng 0,5 - 1%

Dự báo về mặt bằng lãi suất trong năm 2026, nhóm phân tích Chứng khoán BIDV cho rằng, mặt bằng lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng được dự báo có thể tăng thêm khoảng 0,5 - 1%. Trong bối cảnh đó, lạm phát được đánh giá vẫn nằm trong tầm kiểm soát, khi mặt bằng lãi suất tăng có thể góp phần làm chậm lại tốc độ tăng của giá cả.

BSC dự báo lãi suất huy động có thể tăng tới 1% cùng hai kịch bản tỷ giá 2026

Đánh giá về thanh khoản hệ thống, theo BSC, cuối năm 2025, tỷ lệ tín dụng/huy động vốn (LDR) của toàn hệ thống tiến sát 110%, vượt xa mức trần 85% theo quy định tại Thông tư số 22/2019/TT-NHNN.

Nhóm phân tích BSC ước tính, chênh lệch giữa tín dụng và huy động ước khoảng 1,6 triệu tỷ đồng, chủ yếu đến từ ba nguồn gồm tiền gửi Kho bạc Nhà nước với quy mô hơn 1 triệu tỷ đồng; khoản cho vay đặc biệt của Ngân hàng Nhà nước đối với SCB khoảng 590 nghìn tỷ đồng và khoảng 140 nghìn tỷ đồng tái cấp vốn cho các ngân hàng thương mại phục vụ tái cơ cấu các tổ chức tín dụng yếu kém.

Cũng theo BSC, tại Việt Nam, tỷ lệ tín dụng/GDP khoảng 140% cho thấy nguồn vốn cho phát triển kinh tế vẫn phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng.

Việc mặt bằng lãi suất thấp trong những năm gần đây và triển vọng kinh tế phục hồi cho những năm tới sẽ khiến cho nhu cầu tín dụng tiếp tục tăng trưởng tốt. Trong khi đó, so với các kênh đầu tư có lợi suất tốt như: cổ phiếu, bất động sản, trái phiếu, hoặc thậm chí là trái phiếu doanh nghiệp..., kênh tiền gửi có hiệu suất kém nhất, dẫn đến khả năng huy động vốn cho các tổ chức tín dụng gặp nhiều khó khăn.

"Như vậy, việc cầu tiền cao, trong khi cung tiền không theo kịp sẽ khiến cho giá của tiền là lãi suất chịu áp lực tăng trong thời gian tới" - BSC nhận định./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/8: Lãi suất qua đêm lùi về 3% khi thanh khoản "dễ thở", tỷ giá USD vẫn “lệch pha”

Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/8: Lãi suất qua đêm lùi về 3% khi thanh khoản "dễ thở", tỷ giá USD vẫn “lệch pha”

(TBTCO) - Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/8 ghi nhận nhiều diễn biến đáng chú ý, khi Ngân hàng Nhà nước hút ròng 7.839 tỷ đồng qua OMO, doanh số vay liên ngân hàng vượt 900 nghìn tỷ đồng/phiên, nhưng lãi suất qua đêm lại lùi về 3,01%/năm. Điều này cho thấy thanh khoản ngắn hạn bớt căng, song “cơn khát” vốn trung dài hạn vẫn lớn. Trong khi đó, tỷ giá USD tuần qua tiếp tục diễn biến phân hóa.
Doanh thu cất cánh, lợi nhuận hãng hàng không chao đảo trước “bão” nhiên liệu

Doanh thu cất cánh, lợi nhuận hãng hàng không chao đảo trước “bão” nhiên liệu

(TBTCO) - Sức ép chi phí đang phủ bóng ngành hàng không, khi khách tăng, doanh thu lập đỉnh nhưng lợi nhuận bị nhiên liệu “ăn mòn”. Giá nhiên liệu tăng mạnh khiến nhiều hãng từ lãi chuyển lỗ, buộc các hãng bay phải chủ động xây dựng kịch bản ứng phó, dù nhu cầu đi lại tiếp tục là lực đỡ cho thị trường.
Tỷ giá USD hôm nay (21/8): Tỷ giá trung tâm lần đầu chạm 25.600 đồng, USD ngân hàng đi ngược chiều

Tỷ giá USD hôm nay (21/8): Tỷ giá trung tâm lần đầu chạm 25.600 đồng, USD ngân hàng đi ngược chiều

(TBTCO) - Sáng 21/8, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng, lần đầu chạm 25.600 đồng, trong khi tại ngân hàng diễn biến trái chiều, nhiều nơi giảm 70 đồng. Chỉ số DXY dao động hẹp, hiện quanh 98,77 điểm. Đồng bạc xanh được hỗ trợ nhẹ khi thị trường chờ loạt PMI sơ bộ tại châu Âu, Anh và Mỹ, tìm thêm tín hiệu về triển vọng kinh tế và chính sách tiền tệ.
Tỷ giá USD hôm nay (20/8): Tỷ giá trong nước phân hóa, DXY sụt giảm do Mỹ tăng mua lại trái phiếu

Tỷ giá USD hôm nay (20/8): Tỷ giá trong nước phân hóa, DXY sụt giảm do Mỹ tăng mua lại trái phiếu

(TBTCO) - Sáng 20/8, tỷ giá USD trong nước phân hóa rõ rệt, khi tỷ giá trung tâm giảm 8 đồng xuống 25.590 đồng, các ngân hàng thương mại đi ngang, trong khi USD tự do tăng vọt. Chỉ số DXY giảm mạnh 0,88% xuống 98,76 điểm do áp lực từ chính sách hỗ trợ trái phiếu của Bộ Tài chính Mỹ, dù Fed vẫn để ngỏ khả năng tăng lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (19/8): Tỷ giá trung tâm tiến sát 25.600 đồng, DXY nhích lên trước biên bản Fed

Tỷ giá USD hôm nay (19/8): Tỷ giá trung tâm tiến sát 25.600 đồng, DXY nhích lên trước biên bản Fed

(TBTCO) - Sáng 19/8, tỷ giá trung tâm tăng 18 đồng lên 25.598 đồng, trong khi chỉ số DXY nhích 0,06% lên 99,64 điểm. Thị trường đang chờ biên bản cuộc họp gần nhất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), trong bối cảnh phần lớn chuyên gia dự báo Fed giữ nguyên lãi suất đến cuối năm, song căng thẳng Mỹ - Iran kéo dài tiếp tục tạo lực đỡ cho đồng USD.
Tỷ giá USD hôm nay (18/8): USD diễn biến phân hóa, dữ liệu kinh tế Mỹ hạ nhiệt kỳ vọng Fed nâng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (18/8): USD diễn biến phân hóa, dữ liệu kinh tế Mỹ hạ nhiệt kỳ vọng Fed nâng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 18/8, tỷ giá USD diễn biến phân hóa khi tỷ giá trung tâm giảm 6 đồng xuống 25.580 đồng, USD tự do giảm 150 đồng, trong khi giá USD tại nhiều ngân hàng bật tăng. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY nhích 0,01% lên 99,6 điểm khi dữ liệu kinh tế Mỹ kém khả quan làm giảm kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục nâng lãi suất cuối năm.
Tỷ giá USD hôm nay (15/8): USD tự do giảm sâu 2.000 đồng từ đỉnh, thị trường chờ tín hiệu từ biên bản FOMC

Tỷ giá USD hôm nay (15/8): USD tự do giảm sâu 2.000 đồng từ đỉnh, thị trường chờ tín hiệu từ biên bản FOMC

(TBTCO) - Sáng 15/8, tỷ giá trung tâm ở mức 25.561 đồng, tăng 98 đồng trong tuần, đẩy tỷ giá trần lên 26.839 đồng, trong khi USD tự do lùi xuống vùng thấp nhất khoảng 1,5 năm, giảm 2.130 đồng từ đỉnh. Còn chỉ số DXY giảm 0,33%, chốt tuần ở 99,63 điểm khi bán lẻ Mỹ suy yếu, gây áp lực lên đồng USD. Tuần tới, tâm điểm thị trường chuyển sang biên bản cuộc họp tháng 7 của FOMC.
Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến thị trường tiền tệ tuần qua (10 - 14/8) ghi nhận sự phân hóa khi tỷ giá trung tâm tăng 98 đồng, trong khi USD tự do dưới 26.000 đồng, giảm 7,4% từ đỉnh. Khi thanh khoản hạ nhiệt, lãi suất qua đêm giảm còn 4,38%/năm, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 11.592,78 tỷ đồng. Đáng chú ý, nghiệp vụ hoán đổi USD - VND từng phát huy vai trò "giải nhiệt" thanh khoản, với số dư kỷ lục trên 143.000 tỷ đồng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Hà Nội - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Đà Nẵng - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Miền Tây - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Tây Nguyên - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
Miếng SJC Nghệ An 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
Miếng SJC Thái Bình 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,800 ▲340K 15,200 ▲390K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,800 ▲340K 15,200 ▲390K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,800 ▲340K 15,200 ▲390K
NL 99.99 14,150 ▲450K
Nhẫn Tròn Thái Bình 14,050 ▲450K
Trang sức 99.9 14,510 ▲390K 15,110 ▲390K
Trang sức 99.99 14,520 ▲390K 15,120 ▲390K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 147 ▼1299K 15,002 ▲240K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 147 ▼1299K 15,003 ▲240K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,465 ▲24K 1,495 ▲24K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,465 ▲24K 1,496 ▲24K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,435 ▲24K 148 ▼1308K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 139,535 ▲2377K 146,535 ▲2377K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 101,361 ▲1800K 111,161 ▲1800K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 91 ▼89277K 1,008 ▼98160K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,639 ▲1464K 90,439 ▲1464K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,643 ▲1400K 86,443 ▲1400K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 52,072 ▲1001K 61,872 ▲1001K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Cập nhật: 24/08/2026 17:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18203 18478 19061
CAD 18382 18658 19276
CHF 31958 32339 32993
CNY 0 3840 3950
EUR 29888 30111 31192
GBP 34858 35251 36197
HKD 0 3209 3411
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15306 15895
SGD 20055 20338 20916
THB 716 779 832
USD (1,2) 25909 0 0
USD (5,10,20) 25949 0 0
USD (50,100) 25978 25992 26360
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,950 25,950 26,330
USD(1-2-5) 24,912 - -
USD(10-20) 24,912 - -
EUR 29,928 29,952 31,371
JPY 159.96 160.25 169.93
GBP 35,019 35,114 36,339
AUD 18,376 18,442 19,151
CAD 18,596 18,656 19,346
CHF 32,248 32,348 33,303
SGD 20,164 20,227 21,019
CNY - 3,813 3,959
HKD 3,267 3,277 3,414
KRW 17.46 18.21 19.81
THB 763.56 772.99 827.36
NZD 15,268 15,410 15,868
SEK - 2,712 2,808
DKK - 4,014 4,156
NOK - 2,757 2,862
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,044.92 - 6,824.23
TWD 742.72 - 899.2
SAR - 6,842.36 7,207.52
KWD - 82,924 88,232
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,920 25,950 26,330
EUR 29,964 30,084 31,283
GBP 35,036 35,177 36,215
HKD 3,267 3,280 3,397
CHF 32,071 32,200 33,141
JPY 160.36 161 168.96
AUD 18,395 18,469 19,066
SGD 20,233 20,314 20,913
THB 781 784 821
CAD 18,569 18,644 19,240
NZD 15,368 15,917
KRW 18.08 20.06
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26000 26000 26370
AUD 18398 18498 19428
CAD 18566 18666 19680
CHF 32228 32258 33848
CNY 3834.3 3859.3 3994.9
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29690 29700 31841
GBP 35173 35223 36981
HKD 0 3330 0
JPY 160.96 161.46 171.97
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15421 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20231 20361 21082
THB 0 745.5 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14700000 14700000 15000000
SBJ 13000000 13000000 15000000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,985 26,035 26,370
USD20 25,935 26,035 26,830
USD1 25,885 26,035 26,880
AUD 18,432 18,532 19,640
EUR 29,860 29,960 31,619
CAD 18,505 18,605 19,908
SGD 20,288 20,438 21,693
JPY 161.32 162.82 168.37
GBP 35,055 35,205 36,530
XAU 14,598,000 0 14,902,000
CNY 0 3,740 0
THB 0 781 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 24/08/2026 17:00
Ngân hàng