BSC dự báo lãi suất huy động có thể tăng tới 1% cùng hai kịch bản tỷ giá 2026

Ánh Tuyết
Theo nhóm phân tích BSC, năm 2026, tỷ giá USD/VND có thiên hướng mất giá một cách từ từ theo hai kịch bản, áp lực tỷ giá được kỳ vọng sẽ giảm dần sau nửa đầu năm. Cùng với đó, lãi suất huy động được dự báo nhích lên 0,5 - 1% do cầu tín dụng cao, trong khi cung tiền không theo kịp khiến thanh khoản hệ thống chịu sức ép.
aa
Điều hành tỷ giá linh hoạt trong "vùng nhiễu động" Nhiều sức ép đẩy lãi suất huy động vào cuộc rượt đuổi đầu năm Thị trường tiền tệ tuần 19 - 23/1: Lãi suất qua đêm rơi về 2,8%, hút ròng liên tiếp hơn 110.000 tỷ đồng

Dự báo USD suy yếu dần, tỷ giá chỉ bớt căng sau nửa đầu 2026

Trong báo cáo vĩ mô - thị trường năm 2026 vừa công bố, bàn về chiến lược đầu tư, Công ty Cổ phần Chứng khoán BIDV (BSC) nhấn mạnh quan điểm “đường dài mới biết ngựa hay”.

Nhóm phân tích BSC cho rằng, nền kinh tế Việt Nam đang bước vào giai đoạn tăng trưởng cao và ổn định hơn so với các chu kỳ trước. Nếu các chu kỳ tăng trưởng trước đây phụ thuộc nhiều vào các biện pháp nới lỏng tiền tệ ngắn hạn, thì chu kỳ hiện tại được hậu thuẫn bởi cách thức điều hành chủ động, linh hoạt, với sự phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tiền tệ và tài khóa, hướng tới mục tiêu tăng trưởng trung - dài hạn.

Cùng với đó, hàng loạt nghị quyết và chính sách mới đang từng bước tháo gỡ các nút thắt thể chế, khơi thông nguồn lực xã hội và mở ra dư địa tăng trưởng mới trong các lĩnh vực như chuyển đổi số, công nghệ - dữ liệu, chuỗi cung ứng công nghệ cao, năng lượng tái tạo, kinh tế xanh, logistics và hạ tầng.

Dự báo về tỷ giá USD/VND, nhóm phân tích BSC cho rằng, năm 2026, nhiều khả năng tỷ giá có thiên hướng mất giá một cách từ từ, với kịch bản 1 tăng khoảng 1,5 - 3,5% cùng kỳ và kịch bản 2 tích cực hơn, dự báo tăng khoảng 0 - 1,5% cùng kỳ.

BSC dự báo lãi suất huy động có thể tăng tới 1% cùng hai kịch bản tỷ giá 2026
"Áp lực tỷ giá được kỳ vọng sẽ giảm dần khi Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục cắt giảm lãi suất và đồng USD duy trì mặt bằng giá trị thấp. Tuy vậy, chúng tôi cũng không loại trừ kịch bản Fed có thể giữ nguyên lãi suất trong nửa đầu năm 2026 kết hợp với việc đáo hạn các hợp đồng bán USD kỳ hạn của Ngân hàng Nhà nước sẽ khiến áp lực tỷ giá vẫn còn trong hai quý đầu năm" - nhóm phân tích BSC nhìn nhận.

Trước đó, năm 2025, Ngân hàng Nhà nước điều hành chính sách tiền tệ theo hướng linh hoạt, với mục tiêu bảo đảm các cân đối vĩ mô lớn và hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Mặt bằng lãi suất nhìn chung được duy trì ổn định ở mức thấp trong phần lớn thời gian của năm, chỉ tăng nhẹ vào giai đoạn cuối năm đối với cả lãi suất huy động và lãi suất cho vay, do áp lực đến từ tình trạng thanh khoản hệ thống căng thẳng hơn và vấn đề tỷ giá.

Theo BSC, áp lực đối với chính sách tiền tệ một phần đến từ yếu tố tỷ giá. Tính đến hết năm 2025, chỉ số DXY, chỉ số đo lường sức mạnh của đồng đô la Mỹ so với 6 loại tiền tệ khác, giảm khoảng 10%, tuy nhiên tỷ giá USD/VND vẫn tăng khoảng 3,3%.

Diễn biến này xuất phát từ một số nguyên nhân chính được BSC chỉ rõ, đó là Kho bạc Nhà nước mua khoảng 2 tỷ USD để trả nợ nước ngoài. Cùng với đó, giá vàng thế giới tăng mạnh khiến một lượng lớn USD chảy ra ngoài thị trường để thực hiện các hoạt động mua vàng; các doanh nghiệp FDI và FII thực hiện chốt lời và chuyển lợi nhuận về nước.

"Chỉ số DXY suy giảm, tuy nhiên, chênh lệch lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ và Việt Nam duy trì ở mức cao, điều này cũng khiến dòng vốn dịch chuyển đến nơi có hiệu suất hấp dẫn hơn" - nhóm phân tích BSC nhìn nhận.

Việc một lượng lớn ngoại tệ chảy ra khỏi nền kinh tế khiến dự trữ ngoại hối của Việt Nam chưa có nhiều tín hiệu khởi sắc. Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), tính đến cuối tháng 9/2025, dự trữ ngoại hối của Việt Nam đạt khoảng 82,1 tỷ USD, tương đương hơn 2 tháng nhập khẩu, thấp hơn mức khuyến nghị theo chuẩn của IMF là 3 - 4 tháng nhập khẩu.

Ngoài ra, trong giai đoạn cuối quý III/2025 đầu quý IV/2025, khi tỷ giá tăng nhanh hơn, Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện bán USD kỳ hạn 6 tháng có huỷ ngang để kiểm soát đà tăng của tỷ giá. Như vậy, áp lực tỷ giá phần lớn đến từ nội lực của Việt Nam, do dự trữ ngoại hối Việt Nam thấp và phải Ngân hàng Nhà nước phải dàn trải nguồn lực để ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong nước hơn.

Cung tiền không theo kịp, lãi suất huy động dự kiến tăng 0,5 - 1%

Dự báo về mặt bằng lãi suất trong năm 2026, nhóm phân tích Chứng khoán BIDV cho rằng, mặt bằng lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng được dự báo có thể tăng thêm khoảng 0,5 - 1%. Trong bối cảnh đó, lạm phát được đánh giá vẫn nằm trong tầm kiểm soát, khi mặt bằng lãi suất tăng có thể góp phần làm chậm lại tốc độ tăng của giá cả.

BSC dự báo lãi suất huy động có thể tăng tới 1% cùng hai kịch bản tỷ giá 2026

Đánh giá về thanh khoản hệ thống, theo BSC, cuối năm 2025, tỷ lệ tín dụng/huy động vốn (LDR) của toàn hệ thống tiến sát 110%, vượt xa mức trần 85% theo quy định tại Thông tư số 22/2019/TT-NHNN.

Nhóm phân tích BSC ước tính, chênh lệch giữa tín dụng và huy động ước khoảng 1,6 triệu tỷ đồng, chủ yếu đến từ ba nguồn gồm tiền gửi Kho bạc Nhà nước với quy mô hơn 1 triệu tỷ đồng; khoản cho vay đặc biệt của Ngân hàng Nhà nước đối với SCB khoảng 590 nghìn tỷ đồng và khoảng 140 nghìn tỷ đồng tái cấp vốn cho các ngân hàng thương mại phục vụ tái cơ cấu các tổ chức tín dụng yếu kém.

Cũng theo BSC, tại Việt Nam, tỷ lệ tín dụng/GDP khoảng 140% cho thấy nguồn vốn cho phát triển kinh tế vẫn phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng.

Việc mặt bằng lãi suất thấp trong những năm gần đây và triển vọng kinh tế phục hồi cho những năm tới sẽ khiến cho nhu cầu tín dụng tiếp tục tăng trưởng tốt. Trong khi đó, so với các kênh đầu tư có lợi suất tốt như: cổ phiếu, bất động sản, trái phiếu, hoặc thậm chí là trái phiếu doanh nghiệp..., kênh tiền gửi có hiệu suất kém nhất, dẫn đến khả năng huy động vốn cho các tổ chức tín dụng gặp nhiều khó khăn.

"Như vậy, việc cầu tiền cao, trong khi cung tiền không theo kịp sẽ khiến cho giá của tiền là lãi suất chịu áp lực tăng trong thời gian tới" - BSC nhận định./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (11/5): Tỷ giá trung tâm tăng, USD tự do tiếp đà giảm

Tỷ giá USD hôm nay (11/5): Tỷ giá trung tâm tăng, USD tự do tiếp đà giảm

(TBTCO) - Trong phiên đầu tuần sáng ngày 11/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.118 đồng, tăng 6 đồng, trong khi USD tự do giảm 30 đồng, xuống 26.420 - 26.470 VND/USD. Chỉ số DXY ở mức 97,9 điểm, khi căng thẳng Trung Đông có dấu hiệu hạ nhiệt, song thị trường vẫn thận trọng trước những bất định về khả năng đạt được thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 9/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do giảm sâu gần 300 đồng sau một tuần. Chỉ số DXY chốt tuần tại 97,86 điểm, giảm 0,19%, khi căng thẳng Trung Đông có tín hiệu hạ nhiệt, dù vẫn nhiều bất định để đạt thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Chứng khoán MBS dự báo áp lực lên tỷ giá quý II/2026, mức biến động quanh 26.350 - 26.700 đồng

Chứng khoán MBS dự báo áp lực lên tỷ giá quý II/2026, mức biến động quanh 26.350 - 26.700 đồng

(TBTCO) - Theo đánh giá của Chứng khoán MBS, tỷ giá USD/VND tháng 4/2026 tương đối ổn định, tuy nhiên, áp lực vẫn hiện hữu khi giá dầu neo cao do căng thẳng Trung Đông tiếp tục thúc đẩy đà tăng đồng USD, Fed dự báo trì hoãn giảm lãi suất hết năm 2027 và thặng dư thương mại trong nước thu hẹp. Tỷ giá USD quý II/2026 dự báo dao động quanh 26.350 - 26.700 VND/USD.
Thị trường tiền tệ tuần 4 - 8/5: Tỷ giá USD tự do mất mốc 26.500 đồng, bơm tiền mạnh khi lãi suất qua đêm vượt 7%

Thị trường tiền tệ tuần 4 - 8/5: Tỷ giá USD tự do mất mốc 26.500 đồng, bơm tiền mạnh khi lãi suất qua đêm vượt 7%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 4 - 8/5 cho thấy, tỷ giá trung tâm chỉ giảm nhẹ 1 đồng, trong khi USD tự do lao dốc tới 290 đồng, mất mốc 26.500 VND/USD. Trong bối cảnh áp lực tỷ giá hạ nhiệt nhờ DXY suy yếu, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 5.831 tỷ đồng qua kênh OMO, sau khi lãi suất liên ngân hàng qua đêm có thời điểm vọt lên 7% đầu tuần.
Tỷ giá USD hôm nay (8/5): USD biến động hẹp, chờ tín hiệu mở lại eo biển Hormuz chấm dứt 10 tuần xung đột

Tỷ giá USD hôm nay (8/5): USD biến động hẹp, chờ tín hiệu mở lại eo biển Hormuz chấm dứt 10 tuần xung đột

(TBTCO) - Sáng ngày 8/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố giảm 1 đồng xuống 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do phổ biến quanh 26.580 - 26.620 VND/USD. Chỉ số DXY tăng 0,19% lên 98,25 điểm, cho thấy đồng USD phục hồi nhẹ, khi giới đầu tư chờ phản hồi từ Iran về đề xuất mở lại eo biển Hormuz và chấm dứt xung đột kéo dài 10 tuần.
Tỷ giá USD hôm nay (7/5): USD tự do đi lùi, DXY hồi nhẹ nhờ khả năng eo biển Hormuz mở cửa lại

Tỷ giá USD hôm nay (7/5): USD tự do đi lùi, DXY hồi nhẹ nhờ khả năng eo biển Hormuz mở cửa lại

(TBTCO) - Sáng ngày 7/5, tỷ giá trung tâm giữ nguyên ở mức 25.113 đồng, trong khi USD tự do giảm 40 đồng xuống quanh 26.580 - 26.620 VND/USD. Còn DXY nhích nhẹ lên 98,03 điểm sau khi rơi dưới mốc 98 điểm, nhờ kỳ vọng căng thẳng Trung Đông hạ nhiệt, eo biển Hormuz có thể được mở cửa trở lại và áp lực trú ẩn vào USD suy yếu.
Tỷ giá USD hôm nay (6/5): USD tự do lùi nhẹ, DXY lùi sát 98 điểm khi Mỹ tạm dừng chiến dịch hỗ trợ tàu qua Hormuz

Tỷ giá USD hôm nay (6/5): USD tự do lùi nhẹ, DXY lùi sát 98 điểm khi Mỹ tạm dừng chiến dịch hỗ trợ tàu qua Hormuz

(TBTCO) - Sáng ngày 6/5, tỷ giá trung tâm tăng 2 đồng lên 25.113 đồng, trong khi USD tự do giảm về 26.620 - 26.660 VND/USD. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY giảm 0,17% xuống 98,28 điểm khi Mỹ sẽ tạm dừng chiến dịch hỗ trợ tàu thương mại qua Hormuz để chờ tiến triển đàm phán với Iran.
Tỷ giá USD hôm nay (5/5): Tỷ giá trong nước cùng lùi nhẹ, USD giữ sức chờ tín hiệu đàm phán Mỹ - Iran

Tỷ giá USD hôm nay (5/5): Tỷ giá trong nước cùng lùi nhẹ, USD giữ sức chờ tín hiệu đàm phán Mỹ - Iran

(TBTCO) - Sáng ngày 5/5, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 1 đồng xuống 25.111 đồng, tỷ giá USD tự do lùi nhẹ 10 đồng, trong khi DXY nhích lên 98,49 điểm. Đồng bạc xanh duy trì sức mạnh khi căng thẳng tại eo biển Hormuz chưa hạ nhiệt, đe dọa nguồn cung dầu toàn cầu, dù đàm phán Mỹ - Iran có tín hiệu tiến triển giúp giá dầu tạm điều chỉnh giảm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Kim TT/AVPL 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Nguyên Liệu 99.99 15,300 ▲60K 15,500 ▲60K
Nguyên Liệu 99.9 15,250 ▲60K 15,450 ▲60K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,050 ▲30K 16,450 ▲30K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,000 ▲30K 16,400 ▲30K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,930 ▲30K 16,380 ▲30K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Hà Nội - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Đà Nẵng - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Miền Tây - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Tây Nguyên - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Đông Nam Bộ - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Miếng SJC Nghệ An 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Miếng SJC Thái Bình 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
NL 99.90 15,100 ▲30K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,150 ▲30K
Trang sức 99.9 15,740 ▲30K 16,440 ▲30K
Trang sức 99.99 15,750 ▲30K 16,450 ▲30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,625 ▲3K 16,552 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,625 ▲3K 16,553 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,623 ▲6K 1,653 ▲6K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,623 ▲6K 1,654 ▲6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,603 ▲5K 1,638 ▲5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,678 ▲495K 162,178 ▲495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 114,112 ▲375K 123,012 ▲375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,645 ▲340K 111,545 ▲340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 91,178 ▲305K 100,078 ▲305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,755 ▲292K 95,655 ▲292K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,561 ▲208K 68,461 ▲208K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Cập nhật: 12/05/2026 23:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18486 18762 19335
CAD 18676 18954 19571
CHF 33073 33459 34104
CNY 0 3838 3930
EUR 30303 30577 31602
GBP 34851 35244 36178
HKD 0 3233 3435
JPY 160 164 170
KRW 0 16 18
NZD 0 15357 15942
SGD 20146 20429 20951
THB 728 791 844
USD (1,2) 26073 0 0
USD (5,10,20) 26114 0 0
USD (50,100) 26142 26162 26379
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,139 26,139 26,379
USD(1-2-5) 25,094 - -
USD(10-20) 25,094 - -
EUR 30,480 30,504 31,794
JPY 162.98 163.27 172.21
GBP 35,090 35,185 36,203
AUD 18,690 18,758 19,363
CAD 18,917 18,978 19,568
CHF 33,416 33,520 34,319
SGD 20,302 20,365 21,059
CNY - 3,810 3,934
HKD 3,304 3,314 3,434
KRW 16.33 17.03 18.42
THB 776.63 786.22 837.23
NZD 15,340 15,482 15,856
SEK - 2,800 2,883
DKK - 4,080 4,201
NOK - 2,819 2,903
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,263.03 - 7,032.46
TWD 755.19 - 909.35
SAR - 6,915.92 7,245.03
KWD - 83,885 88,772
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,119 26,139 26,379
EUR 30,418 30,540 31,723
GBP 35,166 35,307 36,320
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 33,216 33,349 34,293
JPY 163.34 164 171.44
AUD 18,703 18,778 19,371
SGD 20,374 20,456 21,043
THB 794 797 832
CAD 18,887 18,963 19,538
NZD 15,439 15,975
KRW 17.03 18.70
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26211 26211 26379
AUD 18672 18772 19700
CAD 18860 18960 19974
CHF 33315 33345 34933
CNY 3817.2 3842.2 3977.3
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30480 30510 32236
GBP 35158 35208 36968
HKD 0 3355 0
JPY 163.59 164.09 174.6
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15469 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20302 20432 21164
THB 0 757.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16250000 16250000 16550000
SBJ 14000000 14000000 16550000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,152 26,202 26,379
USD20 26,152 26,202 26,379
USD1 23,867 26,202 26,379
AUD 18,736 18,836 19,949
EUR 30,663 30,663 32,081
CAD 18,823 18,923 20,237
SGD 20,408 20,558 21,529
JPY 164.06 165.56 170.17
GBP 35,161 35,511 36,387
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 793 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 12/05/2026 23:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80