Chính sách tiền tệ và tín dụng góp phần thúc đẩy tăng trưởng cao, bền vững

Mai Tấn
(TBTCO) - Trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều biến động và hệ thống tài chính trong nước vẫn phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng, việc huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho nền kinh tế đang trở thành yêu cầu cấp thiết. Các chuyên gia cho rằng, để đạt mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững trong giai đoạn tới, cần điều hành linh hoạt chính sách tiền tệ, đồng thời phát triển mạnh thị trường vốn và khơi thông các nguồn lực trong xã hội.
aa

Hướng dòng vốn vào các lĩnh vực gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Phát biểu tại hội thảo “Huy động hiệu quả nguồn vốn, phục vụ mục tiêu tăng trưởng hai con số” do Báo Lao Động tổ chức chiều 12/3/2026, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Phạm Thanh Hà cho rằng, kinh nghiệm thực tiễn cho thấy tăng trưởng kinh tế cao chỉ thực sự có ý nghĩa khi gắn với môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát tốt và các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm.

Theo Phó Thống đốc, kinh tế thế giới hiện nay đang tiềm ẩn nhiều rủi ro trước những biến động khó lường như chiến tranh, xung đột địa chính trị, biến đổi khí hậu và biến động giá năng lượng. Những yếu tố này đã và đang tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất – kinh doanh, thương mại và dòng vốn toàn cầu, qua đó tạo sức ép không nhỏ lên nền kinh tế Việt Nam.

Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra đối với việc điều hành chính sách kinh tế vĩ mô là phải linh hoạt, chủ động và có sự phối hợp chặt chẽ giữa các chính sách, đặc biệt là chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa.

Chính sách tiền tệ và tín dụng góp phần thúc đẩy tăng trưởng cao, bền vững
Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Phạm Thanh Hà phát biểu tại Hội thảo. Ảnh: Hải Nguyễn

“Chính sách tiền tệ cần được điều hành linh hoạt, phù hợp với diễn biến trong nước và quốc tế nhằm đảm bảo hài hòa các mục tiêu: ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đồng thời vẫn cung ứng đủ nguồn vốn tín dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng của người dân, doanh nghiệp” - Phó Thống đốc nhấn mạnh.

Không chỉ đáp ứng nhu cầu vốn về quy mô, việc định hướng dòng vốn cũng là vấn đề quan trọng. Theo Phó Thống đốc, trong thời gian tới tín dụng ngân hàng cần tiếp tục tập trung vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, các ngành ưu tiên và những động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế.

Đặc biệt, dòng vốn cần hướng mạnh hơn vào các lĩnh vực gắn với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trong đó lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính. Các mô hình kinh tế mới như kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn được xem là những lĩnh vực có tiềm năng tạo ra giá trị gia tăng cao và tăng trưởng bền vững.

Ông Nguyễn Lê Nam - Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (NHNN) cho biết, thời gian qua NHNN đã điều hành chính sách tiền tệ theo hướng chủ động, linh hoạt và phù hợp với diễn biến của thị trường trong nước cũng như quốc tế, qua đó góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

NHNN đã điều tiết tiền tệ hợp lý nhằm kiểm soát lạm phát, đồng thời đảm bảo cung ứng vốn cho nền kinh tế và ổn định thị trường ngoại tệ. Áp lực thanh khoản gia tăng trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng đạt mức cao nhất trong vòng 15 năm trở lại đây, song cơ quan điều hành đã triển khai đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ để đảm bảo thanh khoản cho hệ thống tổ chức tín dụng.

Theo ông Nam, các công cụ như nghiệp vụ thị trường mở và hoán đổi ngoại tệ được sử dụng linh hoạt nhằm cung cấp thanh khoản ngắn hạn cho hệ thống ngân hàng khi cần thiết. Về lãi suất, NHNN duy trì lãi suất điều hành ở mức thấp nhằm ổn định mặt bằng lãi suất thị trường và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Đồng thời, các tổ chức tín dụng được yêu cầu tiết giảm chi phí, đẩy mạnh chuyển đổi số và công khai thông tin lãi suất cho vay nhằm nâng cao tính minh bạch, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận vốn.

“Trong khi đó, tỷ giá và cung cầu ngoại tệ của nền kinh tế vẫn chịu áp lực trong bối cảnh hệ thống ngân hàng thực hiện chủ trương giảm lãi suất. Trước diễn biến này, NHNN đã điều hành tỷ giá trung tâm linh hoạt, kết hợp đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ và can thiệp ngoại tệ khi cần thiết để giảm áp lực lên thị trường” - ông Nam nói.

Phát triển thị trường vốn để giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng

Theo ông Nam, nhờ các giải pháp điều hành đồng bộ, ổn định kinh tế vĩ mô của Việt Nam tiếp tục được giữ vững; lạm phát được kiểm soát theo mục tiêu của Quốc hội và Chính phủ, thấp hơn đáng kể so với mức bình quân toàn cầu. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam cũng duy trì ở mức cao trong khu vực và trên thế giới.

Tuy nhiên, bối cảnh kinh tế thế giới đang xuất hiện thêm nhiều yếu tố rủi ro khi giá năng lượng tăng mạnh và căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông khiến thị trường tài chính toàn cầu biến động. Trong bối cảnh đó, nhiều ngân hàng trung ương lớn như Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) trở nên thận trọng hơn trong việc hạ lãi suất, trong khi Ngân hàng Trung ương Úc thậm chí cân nhắc tăng lãi suất để kiểm soát lạm phát.

Những yếu tố này, theo ông Nam, đang tạo sức ép lên tỷ giá và thị trường tiền tệ trong nước, đồng thời tiềm ẩn rủi ro đối với triển vọng tăng trưởng và lạm phát toàn cầu.

Chính sách tiền tệ và tín dụng góp phần thúc đẩy tăng trưởng cao, bền vững
Các đại biểu điều hành Hội thảo. Ảnh: Hải Nguyễn

Một thực tế đáng chú ý là dù thị trường vốn Việt Nam đã có những bước phát triển trong thời gian qua, nhưng vẫn chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu vốn trung và dài hạn của nền kinh tế. Vì vậy, gánh nặng cung ứng vốn vẫn chủ yếu đặt lên hệ thống ngân hàng.

“Trong bối cảnh dư địa điều hành chính sách tiền tệ nhằm hỗ trợ tăng trưởng không còn nhiều, yêu cầu phối hợp giữa các chính sách kinh tế vĩ mô, đặc biệt là chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, trở nên quan trọng hơn bao giờ hết” - ông Nam nhấn mạnh.

Theo đó, chính sách tài khóa cần được triển khai theo hướng mở rộng có trọng tâm, trọng điểm. Trong đó, việc đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công có thể tạo tác động lan tỏa tới các động lực tăng trưởng của nền kinh tế. Trong khi đó, chính sách tiền tệ cần tiếp tục được điều hành chủ động, linh hoạt, ưu tiên mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát.

Bên cạnh các nguồn vốn trong nước, việc tận dụng cơ hội thu hút vốn đầu tư nước ngoài cũng được xem là yếu tố quan trọng nhằm bổ sung nguồn lực cho nền kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam hướng tới mục tiêu nâng hạng và kế hoạch hình thành các trung tâm tài chính quốc tế./.

Ở góc độ ngân hàng thương mại, ông Nguyễn Quang Ngọc - Phó Trưởng ban Chính sách tín dụng Agribank cho biết, trong nhiều năm qua, tín dụng ngân hàng vẫn là kênh cung ứng vốn chủ đạo cho nền kinh tế Việt Nam. Trong cơ cấu huy động vốn hiện nay, tín dụng ngân hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất, đóng vai trò quan trọng trong việc cung ứng nguồn lực cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Theo thống kê, tín dụng ngân hàng thường chiếm trên 50% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Trong khi đó, các kênh huy động vốn khác như thị trường trái phiếu doanh nghiệp hoặc thị trường chứng khoán dù đã có bước phát triển nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu vốn trung và dài hạn của nền kinh tế.

Mai Tấn

Đọc thêm

Ngân hàng Phát triển Việt Nam: 20 năm kiến tạo động lực tăng trưởng kinh tế - xã hội đất nước

Ngân hàng Phát triển Việt Nam: 20 năm kiến tạo động lực tăng trưởng kinh tế - xã hội đất nước

(TBTCO) - “Mỗi giai đoạn hình thành và phát triển của Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đều mang dấu ấn riêng, phản ánh những nỗ lực không ngừng trong việc thực hiện sứ mệnh đồng hành cùng đất nước” - đó là chia sẻ của Tổng Giám đốc VDB Đào Quang Trường với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư về chặng đường 20 năm hình thành và phát triển.
VDB và hành trình làm “đòn bẩy” cho các dự án trọng điểm quốc gia

VDB và hành trình làm “đòn bẩy” cho các dự án trọng điểm quốc gia

(TBTCO) - Trong suốt 20 năm qua, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đã phát huy hiệu quả vai trò là công cụ điều tiết và dẫn dắt dòng vốn đầu tư vào các lĩnh vực ưu tiên, góp phần tạo lập nguồn lực cho nền kinh tế và thúc đẩy phát triển thị trường vốn, đặc biệt là thị trường vốn trung và dài hạn.
Doanh nghiệp bảo hiểm tìm động lực tăng trưởng mới

Doanh nghiệp bảo hiểm tìm động lực tăng trưởng mới

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ tiếp đà tăng tích cực 9,88%, với doanh thu phí gốc ước đạt 16.140 tỷ đồng hai tháng đầu năm và ghi nhận nhiều biến động đáng chú ý về tốc độ tăng trưởng, cũng như cục diện thị phần giữa các doanh nghiệp. Hiện nhiều doanh nghiệp đang chuyển dịch cơ cấu nghiệp vụ, tìm động lực tăng trưởng mới trong bảo hiểm kỹ thuật, dự án.
Fubon Life Việt Nam lần thứ 11 được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2025 - 2026

Fubon Life Việt Nam lần thứ 11 được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2025 - 2026

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Fubon Việt Nam (Fubon Life Việt Nam) tiếp tục khẳng định vị thế và uy tín trên thị trường bảo hiểm nhân thọ khi lần thứ 11 liên tiếp được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2025 - 2026 do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức và bình chọn.
Tỷ giá USD hôm nay (15/5): Tỷ giá trung tâm nhích tăng, DXY vượt 99 điểm neo đỉnh hai tuần

Tỷ giá USD hôm nay (15/5): Tỷ giá trung tâm nhích tăng, DXY vượt 99 điểm neo đỉnh hai tuần

(TBTCO) - Sáng ngày 15/5, tỷ giá trung tâm ở mức 25.131 đồng, tăng 5 đồng. Chỉ số DXY tăng 0,2% lên 99,02 điểm, neo vùng cao nhất khoảng hai tuần gần đây khi giới đầu tư theo dõi sát cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung Quốc; đồng thời, lo ngại nguy cơ sai lầm chính sách tiền tệ toàn cầu và khả năng đảo chiều các giao dịch “carry trade” khi Nhật Bản tăng lãi suất.
Đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định về thu, đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông

Đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định về thu, đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước dự kiến sửa đổi Thông tư số 25/2013/TT-NHNN theo hướng phân cấp mạnh về Ngân hàng Nhà nước khu vực, tạo thuận lợi hơn khi đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông. Đáng chú ý, dự thảo bổ sung căn cứ xét đổi đối với tiền polymer bị cháy, co biến dạng còn tối thiểu 30% diện tích.
Mastercard và MDP công bố hợp tác chiến lược

Mastercard và MDP công bố hợp tác chiến lược

(TBTCO) - Mastercard và Công ty cổ phần Thanh toán số - MDP chính thức công bố hợp tác chiến lược nhằm nâng cấp hạ tầng tài chính và thúc đẩy các sáng kiến về thanh toán số. Sự kiện đánh dấu bước đi quan trọng trong việc đón đầu nhu cầu chuyển đổi số thông qua cung ứng các giải pháp thanh toán bảo mật, theo thời gian thực (real-time payment), đảm bảo kết nối thông suốt giữa mạng lưới thanh toán nội địa của Việt Nam và hệ thống thanh toán toàn cầu của Mastercard, tạo động lực tăng trưởng bền vững cho nền kinh tế số quốc gia.
Tỷ giá USD hôm nay (14/5): USD tự do áp về sát ngân hàng, DXY lấy lại đà tăng khi Fed sắp có tân Chủ tịch

Tỷ giá USD hôm nay (14/5): USD tự do áp về sát ngân hàng, DXY lấy lại đà tăng khi Fed sắp có tân Chủ tịch

(TBTCO) - Sáng ngày 14/5, tỷ giá trung tâm ở mức 25.126 đồng, tăng 3 đồng; USD tự do giao dịch quanh 26.370 - 26.400 VND/USD và thu hẹp đáng kể chênh lệch bán ra với ngân hàng thương mại. Chỉ số DXY ở mức 98,46 điểm, phục hồi đáng kể nhờ dữ liệu lạm phát Mỹ vượt dự báo, củng cố kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ duy trì lãi suất cao lâu hơn dưới thời tân Chủ tịch Kevin Warsh.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
Kim TT/AVPL 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
Nguyên Liệu 99.99 15,200 ▼100K 15,400 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 15,150 ▼100K 15,350 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,800 ▼200K 16,200 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,750 ▼200K 16,150 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,680 ▼200K 16,130 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
Miếng SJC Nghệ An 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
Miếng SJC Thái Bình 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
NL 99.90 14,800 ▼250K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,850 ▼250K
Trang sức 99.9 15,540 ▼150K 16,240 ▼150K
Trang sức 99.99 15,550 ▼150K 16,250 ▼150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 161 ▼1K 16,402 ▼100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 161 ▼1K 16,403 ▼100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,608 ▼10K 1,638 ▼10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,608 ▼10K 1,639 ▼10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,588 ▼10K 1,623 ▼10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 154,193 ▼990K 160,693 ▼990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 112,987 ▼750K 121,887 ▼750K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 101,625 ▼680K 110,525 ▼680K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,263 ▼610K 99,163 ▼610K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,588 ▼77875K 9,478 ▼85885K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,936 ▼417K 67,836 ▼417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Cập nhật: 15/05/2026 21:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18299 18575 19156
CAD 18626 18903 19519
CHF 32873 33258 33895
CNY 0 3828 3920
EUR 30009 30283 31308
GBP 34381 34773 35704
HKD 0 3235 3437
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15094 15681
SGD 20045 20328 20854
THB 722 786 839
USD (1,2) 26086 0 0
USD (5,10,20) 26128 0 0
USD (50,100) 26156 26176 26387
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,387
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 30,226 30,250 31,536
JPY 162.13 162.42 171.38
GBP 34,641 34,735 35,763
AUD 18,582 18,649 19,254
CAD 18,864 18,925 19,525
CHF 33,206 33,309 34,128
SGD 20,231 20,294 20,992
CNY - 3,810 3,936
HKD 3,306 3,316 3,438
KRW 16.23 16.93 18.32
THB 773.31 782.86 833.96
NZD 15,150 15,291 15,666
SEK - 2,756 2,839
DKK - 4,045 4,166
NOK - 2,788 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,251.56 - 7,023.92
TWD 755.84 - 911.05
SAR - 6,921.22 7,253.27
KWD - 83,938 88,860
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,127 26,147 26,387
EUR 30,132 30,253 31,433
GBP 34,618 34,757 35,761
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 32,980 33,112 34,046
JPY 162.31 162.96 170.32
AUD 18,625 18,700 19,292
SGD 20,269 20,350 20,932
THB 791 794 829
CAD 18,826 18,902 19,474
NZD 15,270 15,803
KRW 16.85 18.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26207 26207 26387
AUD 18486 18586 19514
CAD 18814 18914 19929
CHF 33126 33156 34735
CNY 3809.5 3834.5 3969.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30198 30228 31954
GBP 34689 34739 36497
HKD 0 3355 0
JPY 162.76 163.26 173.77
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15204 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20208 20338 21066
THB 0 752 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16100000 16100000 16400000
SBJ 14000000 14000000 16400000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,181 26,231 26,387
USD20 26,181 26,231 26,387
USD1 23,875 26,231 26,387
AUD 18,520 18,620 19,725
EUR 30,333 30,333 31,742
CAD 18,756 18,856 20,162
SGD 20,279 20,429 20,989
JPY 163.22 164.72 169.26
GBP 34,542 34,892 35,748
XAU 16,098,000 0 16,402,000
CNY 0 3,719 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 15/05/2026 21:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80