Từ hợp tác Việt Nam - Thụy Sĩ đến cơ hội nâng tầm doanh nghiệp Việt
Thu hẹp khoảng cách trong chuỗi cung ứng toàn cầu
Tại phiên thảo luận cấp cao trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế Thụy Sĩ - Việt Nam 2026, ngày 19/10, tại Hà Nội, bà Mariam J. Sherman - Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam, Lào và Campuchia, đánh giá Việt Nam là một trong những nền kinh tế có độ mở và mức độ hội nhập quốc tế cao. Tuy nhiên, lợi ích từ thương mại và hội nhập chưa được phân bổ đồng đều giữa các khu vực doanh nghiệp.
![]() |
| Các đại diện trong phiên thảo luận cấp cao tại diễn đàn. Ảnh: LV |
Dẫn số liệu tại diễn đàn, bà Mariam J. Sherman cho biết, các doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, đặc biệt là nhóm sản xuất phục vụ xuất khẩu, chỉ chiếm khoảng 5% tổng số doanh nghiệp tại Việt Nam nhưng đóng góp tới 73% kim ngạch xuất khẩu.
Theo bà, sự chênh lệch còn thể hiện qua diễn biến xuất khẩu trước những thay đổi trong chính sách thuế quan của Mỹ. Xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng khoảng 38%, trong khi xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước giảm gần 10%.
Những số liệu này cho thấy khoảng cách đáng kể về năng lực cạnh tranh và khả năng thích ứng giữa các nhóm doanh nghiệp. Trong khi doanh nghiệp FDI có lợi thế về công nghệ, thị trường và mạng lưới cung ứng, nhiều doanh nghiệp nội địa vẫn chủ yếu tham gia những công đoạn có giá trị gia tăng thấp.
“Đây cũng chính là lĩnh vực mà các doanh nghiệp Thụy Sĩ có thể đóng góp thông qua hợp tác đầu tư, nâng cao kỹ năng lao động, chuyển giao công nghệ và hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tham gia những công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn” - bà Mariam J. Sherman nhấn mạnh.
Từ góc nhìn này, hiệu quả hợp tác Việt Nam - Thụy Sĩ không chỉ nằm ở việc mở rộng thương mại hay thu hút thêm vốn đầu tư, mà còn ở khả năng giúp doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực sản xuất, cải thiện trình độ công nghệ và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Kết nối công nghệ, nâng chất nguồn nhân lực
Ông Nguyễn Quang Vinh- Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), cho rằng hợp tác với doanh nghiệp Thụy Sĩ mở ra cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, tiếp cận kinh nghiệm quản trị, công nghệ tiên tiến và hoạt động chuyển giao công nghệ.
Các lĩnh vực giàu tiềm năng gồm công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, công nghệ sinh học và những ngành công nghiệp có hàm lượng tri thức lớn. Bên cạnh đó, doanh nghiệp Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm của Thụy Sĩ trong du lịch, dịch vụ lưu trú, chăm sóc sức khỏe và y tế.
Một yêu cầu khác là nâng cao năng lực đáp ứng các tiêu chuẩn về môi trường, xã hội và quản trị (ESG). Theo ông Vinh, phát triển bền vững là một trong những nội dung có thể thúc đẩy hợp tác giữa cộng đồng doanh nghiệp hai nước.
Từ phía xúc tiến thương mại, bà Anja Fiedler, Giám đốc điều hành Switzerland Global Enterprise (S-GE), cho biết sự quan tâm của doanh nghiệp Thụy Sĩ đối với thị trường Việt Nam đã tăng đáng kể ngay cả trước khi Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EFTA được ký kết. Trong những năm gần đây, cả số lượng doanh nghiệp được tổ chức hỗ trợ và số lượng dịch vụ cung cấp cho doanh nghiệp đều tăng hơn gấp đôi.
Các lĩnh vực được doanh nghiệp Thụy Sĩ quan tâm khá đa dạng, gồm máy móc, dược phẩm, công nghệ sinh học, khoa học sự sống, công nghệ y tế, công nghệ thông tin và truyền thông, công nghiệp thực phẩm và cơ sở hạ tầng.
Bà Anja Fiedler cho rằng vai trò của tổ chức xúc tiến thương mại là cung cấp thông tin thị trường, hỗ trợ tìm kiếm đối tác, làm rõ quy định pháp lý và hướng dẫn doanh nghiệp tận dụng các cam kết của hiệp định. Quyết định đầu tư cần dựa trên đánh giá về tính khả thi và khả năng phát triển bền vững của từng dự án.
Bên cạnh các ngành công nghiệp truyền thống, công nghệ số cũng mở ra không gian hợp tác mới. Đại diện doanh nghiệp công nghệ Việt Nam tại diễn đàn cho biết, Việt Nam đã tham gia phát triển, triển khai các hệ thống công nghệ phục vụ lĩnh vực ngân hàng tại nhiều thị trường, trong đó có Malaysia và Indonesia.
Theo đại diện này, Việt Nam có thể trở thành cửa ngõ để doanh nghiệp công nghệ Thụy Sĩ tiếp cận thị trường châu Á, nhờ quy mô thị trường trong nước, lực lượng lao động trẻ và đội ngũ kỹ sư có khả năng thích ứng nhanh với công nghệ mới. Trong khi đó, Thụy Sĩ có thế mạnh về nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo.
Hai bên có thể kết hợp năng lực công nghệ của Thụy Sĩ với nguồn nhân lực và thị trường Việt Nam để phát triển sản phẩm, dịch vụ, đồng thời mở rộng hoạt động sang các nước trong khu vực. Trí tuệ nhân tạo (AI) và blockchain là những lĩnh vực được đề cập tại diễn đàn.
Tuy nhiên, ông Nguyễn Quang Vinh nhấn mạnh, bên cạnh ứng dụng công nghệ mới, cần chú trọng giáo dục, đào tạo và nâng cao năng lực người lao động. Con người vẫn phải là trung tâm của quá trình phát triển, nhất là khi công nghệ đang làm thay đổi nhanh chóng phương thức sản xuất và kinh doanh.
Ở chiều ngược lại, bà Anja Fiedler cho rằng doanh nghiệp Việt Nam cũng có thể nghiên cứu cơ hội mở rộng hoạt động tại Thụy Sĩ, nơi có môi trường chính trị ổn định, cơ sở hạ tầng phát triển và nguồn nhân lực chất lượng cao. Việc kết nối các hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của hai nước sẽ tạo thêm cơ hội hợp tác trong những lĩnh vực công nghệ tiên tiến.
Để cụ thể hóa cơ hội, ông Nguyễn Quang Vinh cho biết VCCI sẽ chú trọng phổ biến nội dung hiệp định, từ ưu đãi thuế quan đến các cam kết, quy định liên quan đến thương mại và đầu tư; đồng thời phối hợp với các tổ chức xúc tiến thương mại, hiệp hội ngành hàng để tăng cường kết nối doanh nghiệp.
Việc ký kết Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EFTA tạo thêm điều kiện thuận lợi cho hợp tác song phương. Tuy nhiên, để cơ hội chuyển hóa thành kết quả thực chất, doanh nghiệp Việt Nam cần chủ động nâng cao năng lực công nghệ, chất lượng nhân lực và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Đây cũng là nền tảng để doanh nghiệp từng bước chuyển từ tham gia chuỗi cung ứng sang đảm nhận những công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn.



