Xuất khẩu tăng trưởng cao, vì sao doanh nghiệp nội chưa bứt phá?
Khoảng cách cạnh tranh đặt ra yêu cầu đổi mới
Trong 9 tháng năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 888,02 tỷ USD, tăng 30,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu đạt 434,30 tỷ USD. Tuy nhiên, khu vực kinh tế trong nước chỉ đạt 83,89 tỷ USD, chiếm 19,3% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đạt 350,41 tỷ USD, chiếm 80,7%.
Sự chênh lệch về quy mô và tốc độ tăng trưởng giữa hai khu vực cho thấy doanh nghiệp trong nước vẫn đối mặt với nhiều thách thức trong việc mở rộng thị trường xuất khẩu.
Ông Đinh Hồng Kỳ - Chủ tịch Hiệp hội Xây dựng và Vật liệu xây dựng TP. Hồ Chí Minh (SACA), cho rằng doanh nghiệp Việt Nam không thể chỉ cạnh tranh bằng giá rẻ mà cần nâng cao năng suất, ứng dụng công nghệ, phát triển thương hiệu, đáp ứng tiêu chuẩn xanh và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
Những yêu cầu này ngày càng rõ nét khi các tiêu chuẩn về truy xuất nguồn gốc, giảm phát thải và môi trường tác động đến khả năng tiếp cận thị trường. Trong khi đó, chi phí nguyên liệu, logistics và vốn tiếp tục tạo áp lực lên hoạt động sản xuất, kinh doanh, hạn chế nguồn lực dành cho đổi mới công nghệ và mở rộng quy mô.
![]() |
| Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam tăng trưởng mạnh trong 9 tháng năm 2026. Ảnh: Lê Toàn |
Ở góc độ ngành thủ công mỹ nghệ, bà Tôn Nữ Xuân Quyên - Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần BLUSAIGON cho biết, doanh nghiệp Việt Nam có nhiều tiềm năng nhưng còn hạn chế về tính hệ thống trong sản xuất và đào tạo. Để đáp ứng các đơn hàng lớn, doanh nghiệp không chỉ cần sản phẩm chất lượng mà còn phải bảo đảm tính đồng đều khi mở rộng quy mô.
Bà cũng cho rằng doanh nghiệp cần khai thác tốt hơn cơ hội từ dòng khách du lịch quốc tế. Trong 8 tháng đầu năm 2026, Việt Nam đón gần 16 triệu lượt khách quốc tế, tăng 14,4%. Đây là cơ hội để quảng bá và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ, nhưng cần có sự kết nối hiệu quả hơn giữa doanh nghiệp, ngành du lịch và các đơn vị lữ hành.
Bà dẫn chứng mô hình OTOP của Thái Lan, với sự phối hợp giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp lữ hành và các nhà sản xuất địa phương; đồng thời đề cập chương trình chứng nhận dịch vụ du lịch chất lượng của Hồng Kông nhằm đưa du khách đến các cửa hàng uy tín.
Ở lĩnh vực công nghệ, ông Hồ Văn Tâm - Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Công nghệ InCard nhận định, làm được sản phẩm tốt chưa đủ; doanh nghiệp còn cần năng lực thương mại hóa, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, marketing, sales và xây dựng mạng lưới thị trường. OECD cũng cho thấy xuất khẩu trực tiếp chỉ chiếm khoảng 2,8% doanh thu của doanh nghiệp Việt Nam, trong khi ở doanh nghiệp FDI là khoảng 30%.
Như vậy, để cạnh tranh tốt hơn trên thị trường quốc tế, doanh nghiệp Việt không chỉ cần nâng cao chất lượng sản phẩm mà còn phải cải thiện năng lực sản xuất, công nghệ và khả năng tìm kiếm thị trường. Tuy nhiên, những nỗ lực này khó đạt kết quả nếu doanh nghiệp vẫn gặp khó trong tiếp cận vốn và các thủ tục kinh doanh.
Tháo gỡ điểm nghẽn, tạo nền tảng nâng sức cạnh tranh
Ông Nguyễn Chí Trung - Phó Chủ tịch Hiệp hội Da giày - Túi xách Việt Nam cho rằng, khó khăn lớn nhất hiện nay của doanh nghiệp là nguồn vốn, được ví như “nguồn thở” duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, lãi suất ngân hàng cao, cùng những hạn chế trong giải ngân và cấp hạn mức tín dụng, đang tạo áp lực lớn cho doanh nghiệp trong những tháng cuối năm.
Để khu vực kinh tế tư nhân đóng góp mạnh hơn vào tăng trưởng năm 2026 và những năm tiếp theo, ông Trung nhấn mạnh sự cần thiết của việc tăng cường đồng hành giữa Nhà nước và doanh nghiệp. Trong đó, Nhà nước cần tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, đơn giản hóa thủ tục hành chính và tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp ổn định hoạt động, mở rộng đầu tư.
![]() |
| Doanh nghiệp Việt ứng dụng công nghệ trong sản xuất, kinh doanh. Ảnh: Lê Toàn. |
Đối với ngành chế biến, xuất khẩu thủy sản, ông Huỳnh Minh Tường - Phó Chủ tịch Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), cần có cơ chế tín dụng phù hợp giúp doanh nghiệp chủ động vốn thu mua, dự trữ nguyên liệu và duy trì sản xuất. Trong đó, cần nghiên cứu chính sách tín dụng ưu đãi cho doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản, nhất là các dự án chế biến sâu, tự động hóa và chuyển đổi xanh.
Bên cạnh việc cải thiện khả năng tiếp cận vốn, cần đẩy nhanh hoàn thuế giá trị gia tăng để giải phóng nguồn vốn lưu động, giúp doanh nghiệp duy trì vòng quay sản xuất, kinh doanh. Điều này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ hơn giữa các cơ quan quản lý ở Trung ương và địa phương.
Ông Tường cũng đề xuất xem xét cơ chế khấu hao nhanh đối với thiết bị phục vụ tự động hóa, xử lý môi trường và chuyển đổi xanh. Công nghệ thay đổi nhanh khiến doanh nghiệp đối mặt với nguy cơ thiết bị lạc hậu khi chưa kịp thu hồi vốn nếu thời gian khấu hao kéo dài. Vì vậy, chính sách cần tạo điều kiện để doanh nghiệp đẩy nhanh đổi mới công nghệ và nâng cao hiệu quả đầu tư.
Bên cạnh các giải pháp hỗ trợ theo đặc thù ngành, việc cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao hiệu quả thực thi chính sách có ý nghĩa quan trọng đối với khả năng đầu tư dài hạn của khu vực kinh tế tư nhân.
Theo ông Đinh Hồng Kỳ, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân cần được triển khai với những kết quả cụ thể, thể hiện qua việc giảm thời gian, chi phí thủ tục, tháo gỡ các dự án ách tắc và tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển.
Để nâng cao hiệu quả thực thi, cần đẩy mạnh chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, tăng cường quản lý theo rủi ro, kết nối dữ liệu giữa các cơ quan quản lý và bảo đảm bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực. Chính sách hỗ trợ cũng cần có trọng tâm, tập trung vào tín dụng xanh, đổi mới công nghệ, chuyển đổi số và đào tạo nhân lực, thay vì dàn trải.
Về dài hạn, Việt Nam cần phát triển các doanh nghiệp tư nhân đủ sức dẫn dắt chuỗi cung ứng, đồng thời tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp lớn với doanh nghiệp nhỏ và vừa để hình thành hệ sinh thái có khả năng cạnh tranh quốc tế./.




