Thị trường tiền tệ tuần 25 - 29/12:

Giá vàng tăng giảm chóng mặt, sẽ xem xét lại các quy định về quản lý vàng

Chí Tín
(TBTCO) - Tuần qua ghi nhận giai đoạn nóng... "bỏng tay" của giá vàng trong nước với các kỷ lục liên tục bị phá vỡ, tuy nhiên giá vàng cuối tuần quay đầu giảm mạnh. Cũng trong tuần, Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ đạo việc thực hiện giải pháp ổn định thị trường và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cũng cho biết sẽ trình báo cáo về tình hình thực hiện Nghị định 24/2012/NĐ-CP (về quản lý kinh doanh vàng) trong tháng 1/2024.
aa

Giá vàng nóng, nhưng hạ nhiệt vào cuối tuần

Giá vàng tuần qua ghi nhận một khoảng thời gian sôi sục, với nhiều diễn biến cảm xúc diễn ra chỉ trong 1 tuần.

Trong những ngày đầu tuần, giá vàng liên tục thiết lập các kỷ mục mới và một số thời điểm vàng miếng SJC 9999 đã vượt qua mốc lịch sử 80 triệu đồng/lượng bán ra.

Diễn biến của giá vàng trong nước một phần chịu sự ảnh hưởng của giá vàng thế giới. Cụ thể, giá vàng thế giới trong thời gian qua cũng bước vào chu kỳ tăng mạnh và cũng liên tục phá vỡ các mốc lịch sử. Chiều ngày 29/12 theo giờ Việt Nam, giá vàng thế giới giao dịch ở mức 2.071 USD/ounce.

Ông Nguyễn Minh Tuấn - CEO của AFA Capital, việc giá vàng tăng thời gian qua cũng có cơ sở, bởi một số ngân hàng trung ương trên thế giới cũng có động thái tăng dự trữ vàng trong danh mục của họ. Trong khi đó, các yếu tố địa chính trị trên thế giới cũng có thể có tác động lên giá vàng.

Giá vàng tăng giảm chóng mặt, sẽ xem xét lại các quy định về quản lý vàng
Tuần qua ghi nhận nhiều diễn biến kịch tính với giá vàng. Ảnh: T.L
Công điện của Thủ tướng về các giải pháp quản lý thị trường vàng

Tuy nhiên, tốc độ tăng của giá vàng trong nước nhanh hơn khá nhiều so với giá vàng thế giới và theo đó vào lúc đỉnh điểm, giá vàng miếng SJC 9999 đã chênh cao hơn so với giá thế giới tới hơn 18 triệu đồng mỗi lượng. Sau một số ngày tăng nóng, giá vàng có tín hiệu hạ nhiệt từ trưa ngày 28/19, đến chiều 29/12, giá vàng miếng SJC 9999 công bố mức mua vào là 72 triệu đồng mỗi lượng và bán ra với giá 75 triệu đồng mỗi lượng.

Hôm 29/12, Tổng cục Thống kê cũng đã công bố chỉ số giá vàng tháng 12/2023 tăng 3,98% so với tháng trước, tăng 13,13% so với cùng kỳ năm trước.

Thủ tướng chỉ đạo ổn định thị trường vàng

Sau những ngày giá vàng tăng nóng, Thủ tướng Chính phủ đã có công điện gửi NHNN và các cơ quan liên quan về các giải pháp ổn định thị trường vàng.

Cụ thể, Thủ tướng yêu cầu NHNN theo dõi sát diễn biến giá vàng thế giới và trong nước để khẩn trương thực hiện ngay các giải pháp theo quy định để bình ổn thị trường vàng; chủ động xây dựng các kịch bản, phương án ứng phó với biến động của giá vàng thế giới và trong nước để sẵn sàng các biện pháp xử lý.

NHNN có thể sử dụng các công cụ theo thẩm quyền phù hợp, hiệu quả, kịp thời, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, ổn định kinh tế vĩ mô, dứt khoát không để tình trạng “vàng hóa” nền kinh tế, không để tác động tiêu cực đến tỷ giá, lãi suất, thị trường tiền tệ, ngoại hối và an toàn, an ninh tài chính, tiền tệ quốc gia.

Ngoài ra, NHNN cũng phải khẩn trương có giải pháp hiệu quả để quản lý, điều hành giá vàng miếng trong nước theo nguyên tắc thị trường, không để tình trạng chênh lệch giữa giá vàng miếng trong nước và vàng quốc tế ở mức cao như thời gian qua ảnh hưởng tiêu cực đến điều hành kinh tế vĩ mô, báo cáo kết quả thực hiện trong tháng 1/2024.

Báo cáo kết quả thực hiện Nghị định 24

Ngay sau khi Thủ tướng có công điện liên quan đến thị trường vàng, NHNN cũng có thông điệp cho biết, nguyên nhân khiến giá vàng miếng SJC trong nước tăng mạnh trong những ngày vừa qua chủ yếu do yếu tố tâm lý trước đà tăng liên tục của giá vàng quốc tế. Do vậy, trong những ngày giá vàng quốc tế biến động tăng mạnh, giá vàng miếng SJC trong nước thường tăng với tốc độ nhanh hơn.

Khuyến cáo thận trọng với biến động giá vàng

Trước diễn biến phức tạp, khó lường của thị trường vàng quốc tế và trong nước, NHNN khuyến cáo người dân nên thận trọng trong giao dịch vàng.

NHNN sẽ tiếp tục theo dõi sát diễn biến thị trường vàng, chuẩn bị sẵn sàng để triển khai phương án can thiệp bình ổn thị trường vàng. Trong tháng 1/2024, NHNN sẽ trình báo cáo tổng kết Nghị định 24/2012/NĐ-CP, trong đó có đề xuất sửa đổi, bổ sung một số quy định quản lý thị trường vàng để phù hợp với bối cảnh mới của thị trường.

Liên quan đến việc quản lý vàng, LS.Trương Thanh Đức - Giám đốc Công ty Luật ANVI cho biết, những yếu tố không có ảnh hưởng lớn thì có thể NHNN không cần thiết phải quản lý nữa hoặc để cho bộ ngành khác quản lý. Một số loại vàng nhập khẩu thuộc dự trữ ngoại hối thì thuộc phạm vi quản lý ngoại hối chứ không cần phải quản lý về hình thức, kích cỡ, tiêu chuẩn.

Giá vàng tăng giảm chóng mặt, sẽ xem xét lại các quy định về quản lý vàng
Tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2023 vẫn nhỉnh hơn so với tốc độ tăng trưởng vốn huy động. Ảnh: T.L

Tỷ giá diễn biến ổn định

Trái ngược với bầu không khí sôi sục của giá vàng, tuần qua chứng kiến một tuần diễn biến khá êm đềm của tỷ giá.

Tỷ giá USD trung tâm do NHNN công bố hôm thứ hai đầu tuần ở mức 23.895 đồng/USD, sau đó có 1 phiên giảm và 2 phiếu tăng nhẹ trước giảm trở lại vào phiên thứ sáu cuối tuần. Diễn biến chung cho thấy biên độ điều chỉnh của tỷ giá trung tâm trong tuần vừa qua ở mức khá hẹp.

Tại ngân hàng thương mại, tỷ giá do Vietcombank niêm yết hôm đầu tuần ở mức 24.400 đồng/USD. Sau các phiêu điều chỉnh nhẹ trong tuần, tỷ giá tại Vietcombank hôm thứ sáu cuối tuần là 24.440 đồng/USD, chỉ tăng 40 đồng mỗi USD so với đầu tuần.

Theo công bố của Tổng cục Thống kê, Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 12/2023 giảm 0,56% so với tháng trước; tăng 1,04% so với cùng kỳ năm trước; bình quân năm 2023 tăng 1,86%.

Tín dụng tăng hơn 11%

Tổng cục Thống kê đã công bố tổng phương tiện thanh toán tính đến cuối tháng 12/2023 tăng 10,03% so với cuối năm 2022; huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 10,85%; tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 11,09%.

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12/2023 tăng 0,12% so với tháng trước. Tính chung cả năm 2023, CPI tăng 3,25% so với năm trước, theo đó tốc độ tăng giá của năm 2023 thấp hơn so với mức 4,5% theo mục tiêu Quốc hội đề ra. Năm 2024, Quốc hội đã đặt ra chỉ tiêu kiểm soát lạm phát ở mức 4 - 4,5%.

Đánh giá tổng thể thị trường vàng

Thủ tướng cũng yêu cầu NHNN phải đánh giá tổng thể, toàn diện về tình hình thị trường vàng trong nước và công tác quản lý nhà nước về thị trường vàng, bao gồm cả các nội dung về sản xuất, kinh doanh vàng miếng, vàng thương hiệu SJC, vàng trang sức... Qua đó, ngành Ngân hàng cần xác định cụ thể những kết quả đạt được, hạn chế, bất cập, tồn tại và nguyên nhân, bài học kinh nghiệm để có cơ sở đề xuất các giải pháp quản lý trong thời gian tới, bảo đảm chặt chẽ, khả thi, hiệu quả, đúng quy định, đúng thẩm quyền, ổn định thị trường vàng, ngoại hối, tiền tệ, góp phần hạn chế tình trạng vàng hóa nền kinh tế, bảo đảm an ninh tài chính, tiền tệ quốc gia.

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 31/10: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm mạnh

Giá vàng hôm nay ngày 31/10: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm mạnh

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 145 USD/ounce, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước cùng mất từ 900.000 đến 1,5 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 30/10: Vàng thế giới lùi về 4.021 USD/ounce, vàng nhẫn SJC giảm 300.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 30/10: Vàng thế giới lùi về 4.021 USD/ounce, vàng nhẫn SJC giảm 300.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Vàng thế giới giảm còn 4.021 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng đứng giá, còn vàng nhẫn SJC giảm 300.000 đồng/lượng.
Ngân hàng Nhà nước làm rõ ngưỡng thanh toán 5 triệu đồng khi mua bán vàng, xử lý hành vi né quy định

Ngân hàng Nhà nước làm rõ ngưỡng thanh toán 5 triệu đồng khi mua bán vàng, xử lý hành vi né quy định

(TBTCO) - Phản hồi vấn đề của Bảo Tín Minh Châu đặt ra, Ngân hàng Nhà nước nêu rõ ngưỡng 5 triệu đồng được tính trên tổng giá trị mua, bán vàng trong ngày của một khách hàng. Trường hợp cố ý chia nhỏ giao dịch hoặc các đợt thanh toán nhằm né tránh quy định về thanh toán không dùng tiền mặt sẽ bị xem xét, xử lý.
Giá vàng hôm nay ngày 29/10: Vàng trong nước tăng, thế giới quanh 4.060 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 29/10: Vàng trong nước tăng, thế giới quanh 4.060 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì quanh 4.060 USD/ounce sau quyết định giữ lãi suất của Fed, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt tăng ở nhiều thương hiệu.
Giá vàng hôm nay ngày 28/10: Vàng thế giới tiếp tục tăng mạnh

Giá vàng hôm nay ngày 28/10: Vàng thế giới tiếp tục tăng mạnh

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 44 USD/ounce, vượt 4.060 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn biến động khác nhau giữa các thương hiệu.
Giá vàng hôm nay ngày 27/10: Giá vàng thế giới tăng trở lại, vàng nhẫn trong nước giảm

Giá vàng hôm nay ngày 27/10: Giá vàng thế giới tăng trở lại, vàng nhẫn trong nước giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 14 USD/ounce, lên quanh 4.017 USD/ounce. Trong nước, vàng nhẫn tại PNJ giảm 400.000 đồng/lượng, còn vàng miếng DOJI giảm 300.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 26/10: Giá vàng thế giới duy trì dưới 4.000 USD, trong nước biến động trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 26/10: Giá vàng thế giới duy trì dưới 4.000 USD, trong nước biến động trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới dao động quanh 3.998 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước biến động trái chiều giữa các thương hiệu.
Giá vàng hôm nay ngày 25/10: Vàng miếng, vàng nhẫn giảm 300.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 25/10: Vàng miếng, vàng nhẫn giảm 300.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục duy trì dưới mốc 4.000 USD/ounce. Bên cạnh đó, vàng miếng và vàng nhẫn trong nước cũng tiếp tục giảm 300.000 đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 133,600 137,600
Hà Nội - PNJ 133,600 137,600
Đà Nẵng - PNJ 133,600 137,600
Miền Tây - PNJ 133,600 137,600
Tây Nguyên - PNJ 133,600 137,600
Đông Nam Bộ - PNJ 133,600 137,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,600 13,900
Miếng SJC Nghệ An 13,600 13,900
Miếng SJC Thái Bình 13,600 13,900
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,400 13,800
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,400 13,800
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,400 13,800
Trang sức 99.9 13,080 13,680
Trang sức 99.99 13,090 13,690
Vàng 99.9 12,550
Vàng 99.99 12,700
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 136 13,902
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 136 13,903
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,318 1,358
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,318 1,359
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,298 1,348
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 126,465 133,465
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,146 10,126
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 82,023 91,823
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 72,586 82,386
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 68,946 78,746
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 46,567 56,367
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Cập nhật: 02/11/2026 05:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17606 17879 18468
CAD 17934 18209 18825
CHF 30632 31008 31646
CNY 0 3835 3931
EUR 28164 28379 29467
GBP 33752 34141 35078
HKD 0 3158 3361
JPY 157 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14212 14810
SGD 19642 19923 20507
THB 680 743 796
USD (1,2) 25541 0 0
USD (5,10,20) 25579 0 0
USD (50,100) 25606 25620 25990
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,600 25,600 25,980
USD(1-2-5) 24,576 - -
USD(10-20) 24,576 - -
EUR 28,265 28,288 29,635
JPY 159.23 159.52 169.21
GBP 33,914 34,006 35,181
AUD 17,787 17,851 18,530
CAD 18,105 18,163 18,837
CHF 30,955 31,051 31,974
SGD 19,762 19,823 20,602
CNY - 3,798 3,944
HKD 3,220 3,230 3,366
KRW 17.82 18.58 20.22
THB 729.58 738.59 790.91
NZD 14,209 14,341 14,769
SEK - 2,578 2,670
DKK - 3,792 3,927
NOK - 2,744 2,843
LAK - 0.87 1.21
MYR 5,942.82 - 6,708.6
TWD 713.71 - 864.77
SAR - 6,753.85 7,115.12
KWD - 81,408 86,635
AED - 6,767 7,292
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,580 25,610 25,990
EUR 28,275 28,417 29,646
GBP 33,899 34,069 35,104
HKD 3,215 3,234 3,352
CHF 30,825 30,980 31,925
JPY 159.11 160.72 168.70
AUD 17,784 17,909 18,507
SGD 19,739 19,918 20,516
THB 734 749 786
CAD 18,077 18,204 18,802
NZD 14,304 14,859
KRW 18.62 20.60
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25600 25600 26000
AUD 17782 17882 18812
CAD 18132 18232 19245
CHF 31001 31031 32620
CNY 3817.4 3842.4 3977.6
CZK 0 1130 0
DKK 0 3845 0
EUR 28447 28477 30200
GBP 34145 34195 35953
HKD 0 3300 0
JPY 160.49 160.99 171.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6450 0
NOK 0 2778 0
NZD 0 14351 0
PHP 0 373 0
SEK 0 2605 0
SGD 19820 19950 20671
THB 0 710.3 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13840000 13840000 14140000
SBJ 12500000 12500000 14140000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,490 25,640 26,000
USD20 25,460 25,640 26,000
USD1 25,440 25,640 26,000
AUD 17,711 17,861 19,054
EUR 28,208 28,308 30,008
CAD 18,055 18,155 19,490
SGD 19,877 20,027 20,900
JPY 160.92 162.42 168.22
GBP 33,976 34,126 35,455
XAU 13,838,000 0 14,142,000
CNY 0 3,794 0
THB 0 746 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/11/2026 05:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30