Nâng hiệu quả sử dụng vốn để đạt tăng trưởng hai con số
PV: Ông đánh giá thế nào về những động lực đóng góp chủ yếu vào tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong 9 tháng năm 2026?
![]() |
| PGS.TS Ngô Trí Long |
PGS.TS Ngô Trí Long: Tôi cho rằng, kết quả 9 tháng cho thấy nền kinh tế đang tăng tốc, GDP 9 tháng ước tăng 9,01% so với cùng kỳ; riêng quý III tăng 9,95%. Đây là cơ sở tích cực cho quý IV, song chưa bảo đảm chắc chắn mục tiêu cả năm.
Trong đó, động lực nổi bật ở phía sản xuất là công nghiệp và dịch vụ. Khu vực công nghiệp và xây dựng đóng góp 49,62%, dịch vụ đóng góp 45,03% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của nền kinh tế; riêng chế biến, chế tạo tăng 11,36%. Theo tôi, vai trò của hai khu vực này cần được nhìn qua khả năng tạo việc làm, duy trì đơn hàng và kết nối các hoạt động vận tải, thương mại, tài chính. Khi sản xuất mở rộng cùng với các dịch vụ hỗ trợ, hiệu ứng tăng trưởng có điều kiện lan sang nhiều ngành. Ở phía cầu, đầu tư tạo lực đẩy đáng kể. Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội đạt khoảng 3,11 triệu tỷ đồng, tăng 15,1% theo giá hiện hành; vốn FDI thực hiện đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1%.
Đồng thời, thị trường trong nước tiếp tục hỗ trợ tăng trưởng. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 13,4%, nhưng sau loại trừ yếu tố giá tăng 7,8%. Khoảng cách này cho thấy phải thận trọng khi dùng doanh thu danh nghĩa để đánh giá sức mua. Chính sách hỗ trợ tiêu dùng nên gắn với việc làm, thu nhập thực và khả năng tiếp cận hàng hóa, dịch vụ thiết yếu.
Về đầu tư công, hiệu quả cần được đánh giá qua tiến độ hoàn thành và lợi ích khi công trình vận hành. Vì vậy, nâng hiệu quả sử dụng vốn là điều kiện để đà tăng trưởng hiện nay được duy trì bền vững.
PV: Trước áp lực lạm phát những tháng cuối năm, chính sách tài khóa, tiền tệ và quản lý giá cần phối hợp như thế nào để kiểm soát CPI, đồng thời hỗ trợ sản xuất, kinh doanh và tăng trưởng, thưa ông?
PGS.TS Ngô Trí Long: Theo tôi, phối hợp chính sách phải tập trung vào giảm chi phí và mở rộng nguồn cung, đồng thời kiểm soát áp lực từ tổng cầu. CPI bình quân 9 tháng tăng 4,52%; lạm phát cơ bản tăng 4,26%. Như vậy, dư địa điều hành những tháng cuối năm vì thế đã thu hẹp.
Với chính sách tài khóa, nên ưu tiên khoản chi giúp tăng năng lực cung ứng và giảm chi phí sản xuất. Đầu tư hạ tầng có thể tạo thêm nhu cầu vật liệu, lao động trong ngắn hạn, nhưng khi hoàn thành sẽ giúp giảm chi phí vận tải hoặc tăng khả năng cung ứng năng lượng. Do đó, cần bố trí tiến độ phù hợp với năng lực thi công và nguồn vật liệu, hạn chế tình trạng nhiều dự án cùng đẩy mạnh, mua sắm tại một thời điểm khiến giá đầu vào tăng. Các biện pháp thuế, phí cần được thực hiện kịp thời, đúng đối tượng và phù hợp khả năng ngân sách. Khi cân nhắc hỗ trợ bổ sung, cần lượng hóa tác động đến chi phí doanh nghiệp, giá bán và nguồn thu ngân sách; giữ kỷ luật tài khóa để bảo đảm nguồn lực cho những nhiệm vụ thiết yếu.
Đánh giá điều hành bằng kết quả cụ thểTheo PGS.TS Ngô Trí Long, phải đánh giá năng lực điều hành bằng kết quả cụ thể. Bên cạnh tỷ lệ giải ngân, cần theo dõi số dự án đã vận hành, thời gian thủ tục được rút ngắn, năng lực sản xuất tăng thêm và vốn tư nhân thực hiện tại các khu vực được cải thiện hạ tầng. Những chỉ tiêu này giúp nhận diện nơi nguồn lực phát huy tác dụng, nơi cần điều chỉnh và trách nhiệm của từng cơ quan. Mục tiêu tăng trưởng hai con số đòi hỏi vốn được chuyển thành năng lực sản xuất, năng suất cao hơn và thu nhập thực tốt hơn cho người dân. |
Với chính sách tiền tệ, cần giữ thanh khoản ổn định, điều hành tỷ giá linh hoạt và tạo điều kiện để doanh nghiệp có phương án kinh doanh khả thi tiếp cận vốn. Tín dụng nên được đánh giá qua khả năng tạo sản lượng và dòng tiền trả nợ. Việc mở rộng cho vay phải đi cùng kiểm soát chất lượng tín dụng, tránh để vốn tập trung quá mức vào hoạt động đầu cơ tài sản. Các ngân hàng cần tiết giảm chi phí, minh bạch lãi suất và phí để doanh nghiệp biết đầy đủ chi phí vay.
Trong quản lý giá, trọng tâm là bảo đảm nguồn cung, giám sát cạnh tranh và công khai căn cứ hình thành giá. Cần chủ động phương án cung ứng xăng dầu, điện, thực phẩm và vật liệu xây dựng; xử lý hành vi găm hàng, thao túng giá khi có bằng chứng. Đối với giá dịch vụ công, mỗi phương án điều chỉnh phải được đánh giá tác động đến CPI, chi phí sản xuất và các nhóm dân cư. Nên bố trí lộ trình phù hợp, hạn chế dồn nhiều đợt tăng vào cùng thời điểm, kèm hỗ trợ trực tiếp cho người có thu nhập thấp.
Sự phối hợp phải thể hiện trong cùng một kịch bản điều hành. Các đơn vị liên quan cần chia sẻ dự báo giá năng lượng, tỷ giá, tiến độ chi ngân sách và nhu cầu vốn. Khi chi đầu tư tăng mạnh, phải đánh giá đồng thời tác động đến vật liệu, lao động và thanh khoản; khi giá nhập khẩu tăng, cần xác định biện pháp phù hợp với nguyên nhân và mức độ lan truyền. Ổn định giá cả giúp bảo vệ thu nhập thực của người dân và giảm bất định cho doanh nghiệp, qua đó tạo nền tảng cho tăng trưởng cao.
![]() |
| Nguồn: Cục Thống kê. Đồ họa: Phương Anh |
PV: Để phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số năm 2026, theo ông, những giải pháp nào cần được ưu tiên trong quý IV, nhất là về giải ngân đầu tư công, khơi thông đầu tư tư nhân và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn?
PGS.TS Ngô Trí Long: Để cả năm đạt tăng trưởng hai con số, quý IV phải tăng cao hơn 10%. Đây là yêu cầu rất cao; cần tập trung vào những việc có thể sớm tạo thêm sản lượng, đưa công trình vào khai thác và giảm chi phí cho doanh nghiệp.
Trước hết, phải giải quyết các vướng mắc làm chậm đầu tư công theo từng dự án. Trong quý IV, nên ưu tiên dự án có thể hoàn thành hoặc đưa từng hạng mục đồng bộ vào sử dụng, nhất là công trình kết nối các trung tâm sản xuất, cảng biển, khu công nghiệp và hạ tầng năng lượng. Với từng điểm nghẽn về mặt bằng, tái định cư, vật liệu hay hồ sơ thanh toán, cần xác định cơ quan giải quyết, thời hạn và kết quả phải hoàn thành. Theo dõi hằng tuần sẽ giúp phát hiện sớm việc chậm tiến độ và điều chuyển vốn đúng quy định sang dự án có khả năng thực hiện tốt hơn. Thanh toán phải đi cùng khối lượng thực hiện, nghiệm thu và chất lượng công trình; kiểm soát chặt tạm ứng và thu hồi tạm ứng.
Tiếp theo, cần tháo gỡ thủ tục cho các dự án tư nhân có khả năng triển khai sớm. Nên rà soát những dự án đã có nhà đầu tư, phương án vốn và nhu cầu thị trường nhưng còn vướng pháp lý. Mỗi dự án cần có đầu mối chịu trách nhiệm điều phối hồ sơ và thời hạn xử lý rõ ràng. Vướng mắc thuộc thẩm quyền cơ quan nào phải được chuyển và giải quyết dứt điểm tại cơ quan đó, tránh để doanh nghiệp phải đi lại nhiều lần. Khả năng dự báo chính sách cũng ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định đầu tư. Doanh nghiệp cần biết thời gian hoàn tất thủ tục, nghĩa vụ tài chính và điều kiện tiếp cận hạ tầng để tính toán dòng tiền. Khi giảm được thời gian chờ đợi và rủi ro phát sinh chi phí, nhiều dự án có thể trở nên khả thi hơn mà không cần tăng ưu đãi ngân sách. Đầu tư công nên tập trung vào những kết nối hạ tầng có thể hỗ trợ rõ ràng cho các dự án sản xuất của khu vực tư nhân.
Đối với sử dụng vốn, cần lựa chọn công cụ tài chính phù hợp với thời gian hoàn vốn. Doanh nghiệp có đơn hàng và dòng tiền khả thi cần tiếp cận thuận lợi vốn lưu động; dự án dài hạn cần tăng vốn chủ sở hữu và huy động nguồn vốn có kỳ hạn phù hợp. Với thị trường nội địa, chính sách cần hỗ trợ việc làm và thu nhập thực, cải thiện phân phối để hàng hóa đến người tiêu dùng với chi phí hợp lý.
PV: Xin cảm ơn ông!




