Giảm số năm đóng, tạo động lực tăng diện bao phủ bảo hiểm xã hội

Luyện Vũ (thực hiện)
(TBTCVN) - Trả lời phỏng vấn của phóng viên TBTCVN, bà Đinh Thị Thu Hiền - Phó Trưởng ban Thực hiện chính sách - Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam cho rằng, đề xuất giảm số năm đóng BHXH tối thiểu để được hưởng chế độ hưu trí để hướng tới mục tiêu bảo hiểm xã hội toàn dân.
aa

bh

Chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội tại Tiền Giang.

Số người tham gia BHXH ổn định thì quỹ BHXH cũng ổn định, bảo toàn để chi trả cho người lao động sau này.

*PV: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐ-TB&XH) mới đây đã có dự thảo tờ trình Chính phủ đề nghị xây dựng Luật BHXH (sửa đổi). Một nội dung đáng chú ý trong số đó là đề xuất sửa đổi điều kiện hưởng lương hưu, theo hướng giảm dần số năm đóng BHXH tối thiểu từ 20 năm xuống còn 15, hướng tới 10 năm. Từ góc nhìn của cơ quan thực hiện chính sách BHXH, bà có bình luận gì về đề xuất này?

Bà Đinh Thị Thu Hiền: Theo quy định của Luật BHXH 2014, điều kiện thời gian tối thiểu tham gia BHXH để có cơ hội được hưởng chế độ hưu trí phải đủ 20 năm. Điều này dẫn đến nhiều người lao động do có thời gian tham gia BHXH ngắn nên khi hết tuổi lao động, khi không thể làm việc có thu nhập thì không tích lũy đủ số năm đóng BHXH để được hưởng lương hưu. Số liệu thống kê cho thấy số người đang tham gia BHXH rời bỏ hệ thống BHXH trước tuổi nghỉ hưu là khá lớn.

hien
Bà Đinh Thị Thu Hiền

Trong giai đoạn 2012 - 2020, nếu như năm 2016 có hơn 600.000 người hưởng BHXH một lần thì đến năm 2020 có 880.000 người ra khỏi hệ thống BHXH vì hưởng BHXH một lần, trong khi năm 2020 cả nước chỉ có khoảng hơn 1 triệu người tham gia vào hệ thống BHXH, số người vào hệ thống BHXH và số người ra khỏi hệ thống là gần như bằng nhau. Điều này rất đáng suy nghĩ cho chính sách an sinh xã hội lâu dài của đất nước và chúng ta khó có thể thực hiện được mục tiêu BHXH toàn dân.

Để thực hiện được mục tiêu của Nghị quyết số 28-NQ/TW: đến năm 2021 có khoảng 45% số người sau độ tuổi nghỉ hưu được hưởng lương hưu, đến năm 2030 có khoảng 60% số người sau độ tuổi nghỉ hưu được hưởng lương hưu, bảo hiểm xã hội hằng tháng và trợ cấp hưu trí xã hội thì chính sách cần sửa đổi điều kiện thuận lợi hơn để tạo cơ hội cho người lao động lớn tuổi được hưởng lương hưu. Việc đưa ra đề xuất theo hướng giảm dần số năm đóng BHXH tối thiểu để được hưởng chế độ hưu trí chính là để đáp ứng được nguyện vọng của đông đảo người lao động mong muốn được đảm bảo an sinh xã hội lâu dài, được hưởng chế độ hưu trí khi về già.

*PV: Việc đề xuất giảm số năm đóng BHXH tối thiểu này có ảnh hưởng gì tới đảm bảo cân đối quỹ hưu trí và tử tuất không, thưa bà?


Bà Đinh Thị Thu Hiền: Việc đề xuất giảm số năm đóng BHXH tối thiểu để được hưởng chế độ hưu trí cũng tác động đến quỹ BHXH ở một góc độ nào đó. Tuy nhiên, nhìn về tổng thể chung người lao động không hưởng lương hưu thì cũng hưởng BHXH một lần. Chính vì vậy, chính sách này tạo động lực để người lao động có niềm tin chắc chắn mình sẽ được hưởng lương hưu để không nhận BHXH một lần, người lao động cũng sẽ có động lực tham gia BHXH tự nguyện đóng góp vào quỹ BHXH để được hưởng lương hưu ở mức cao hơn, góp phần tăng diện bao phủ BHXH. Số người tham gia BHXH ổn định thì quỹ BHXH cũng ổn định, bảo toàn để chi trả cho người lao động sau này. Tất nhiên chúng ta cần tuyên truyền để người lao động hiểu được dù có thể mức lương hưu chưa cao do thời gian đóng BHXH ngắn nhưng là khoản quyền lợi rất quý so với việc tuổi già không có lương hưu.

Nội dung sửa đổi giảm thời gian đóng BHXH để được hưởng chế độ hưu trí là một trong những nội dung sửa đổi chế độ hưu trí và tiến hành đồng bộ với các đề xuất khác liên quan đến điều chỉnh cách tính hưởng chế độ, đảm bảo sự linh hoạt của thiết kế chính sách đồng thời với tính bền vững về mặt xã hội và tài chính của hệ thống an sinh xã hội thông qua bảo đảm cân đối quỹ hưu trí trong dài hạn, nội dung này nằm trong 11 nội dung cải cách chính sách BHXH tại Nghị quyết số 28-NQ/TW.

*PV: Một trong những lý do khiến nhiều lao động không tham gia BHXH đã được họ chỉ ra là do thời gian tham gia để được hưởng lương hưu dài. Vậy bà có cho rằng, khi giảm số năm đóng BHXH để được hưởng lương hưu sẽ giúp chính sách hấp dẫn hơn, qua đó tăng độ bao phủ BHXH?


Bà Đinh Thị Thu Hiền: Thực tế là ngành BHXH đang gặp khó khăn nhất định trong việc phát triển đối tượng tham gia BHXH. Tuy được đổi mới, bổ sung, nhưng chính sách BHXH hiện nay vẫn đang tồn tại nhiều vấn đề bất cập. Độ bao phủ BHXH tăng chậm, việc mở rộng và phát triển đối tượng tham gia BHXH còn dưới mức tiềm năng do rất nhiều nguyên nhân. Một trong những nguyên nhân khiến người lao động không tham gia BHXH là do thu nhập của họ còn thấp, chưa ổn định nên chưa có tích lũy để đóng BHXH trong khi điều kiện về thời gian đóng BHXH tối thiểu để hưởng lương hưu hiện nay khá dài (20 năm) làm nản lòng họ. Việc đề xuất chính sách giảm số năm đóng BHXH tối thiểu để được hưởng chế độ hưu trí sẽ đạt yêu cầu về sự linh hoạt của chính sách, tăng tính hấp dẫn. Đó cũng là động lực để người lao động có niềm tin chắc chắn mình sẽ có cơ hội được hưởng lương hưu để không nhận BHXH một lần; có động lực tham gia BHXH tự nguyện để được hưởng lương hưu ở mức cao hơn, góp phần tăng diện bao phủ BHXH và cuối cùng là đạt mục tiêu an sinh xã hội.

*PV: Xin cảm ơn bà!

65% người sau độ tuổi nghỉ hưu không có lương hưu

Bà Đinh Thị Thu Hiền cho biết, tính đến cuối năm 2020, Việt Nam có khoảng 14,1 triệu người sau độ tuổi nghỉ hưu (từ 55 tuổi trở lên đối với nữ; từ 60 tuổi trở lên đối với nam). Trong số đó, chỉ có khoảng trên 3,1 triệu người đang được hưởng lương hưu, bảo hiểm xã hội hàng tháng (chiếm 22,1%) tổng số người sau độ tuổi nghỉ hưu. Nếu tính cả những người đang hưởng trợ cấp hưu trí xã hội (1,8 triệu người) thì tổng cộng có khoảng gần 5 triệu người (chiếm 35%) được hưởng các khoản trợ cấp hàng tháng. Như vậy, cho đến nay vẫn còn khoảng 9,2 triệu người sau độ tuổi nghỉ hưu (chiếm 65%) chưa thuộc diện bao phủ của hệ thống bảo hiểm xã hội hoặc tầng an sinh xã hội nào khác.

Luyện Vũ (thực hiện)

Luyện Vũ (thực hiện)

Đọc thêm

Hai ngân hàng nhận chuyển giao đẩy tín dụng tăng tới 30%, vốn điều lệ vượt 100.000 tỷ đồng

Hai ngân hàng nhận chuyển giao đẩy tín dụng tăng tới 30%, vốn điều lệ vượt 100.000 tỷ đồng

VPBank và MB đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng cao năm 2026, lần lượt 34% và 30% sau khi nhận chuyển giao tổ chức tín dụng yếu kém. Đồng thời, hai ngân hàng đẩy mạnh tăng vốn lên trên 100.000 tỷ đồng, tạo dư địa mở rộng quy mô và hỗ trợ tái cơ cấu các ngân hàng được chuyển giao.
LPBank Plus – Ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới, tích hợp trợ lý AI chuyển tiền bằng hội thoại

LPBank Plus – Ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới, tích hợp trợ lý AI chuyển tiền bằng hội thoại

(TBTCO) - Ngày 28/3/2026, nhân dịp kỷ niệm 18 năm thành lập, LPBank chính thức giới thiệu LPBank Plus – ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới phát triển theo định hướng AI-first, tích hợp trí tuệ nhân tạo vào trải nghiệm giao dịch, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển ngân hàng số của ngân hàng.
Nông nghiệp - trụ cột tăng trưởng nếu được “tiếp sức”

Nông nghiệp - trụ cột tăng trưởng nếu được “tiếp sức”

(TBTCO) - Bài toán tăng trưởng không chỉ nằm ở việc “bơm thêm vốn”, mà quan trọng hơn là tái cấu trúc dòng vốn, khơi thông nguồn lực và đầu tư đúng vào những lĩnh vực có giá trị gia tăng cao. Trong đó, nông nghiệp nếu được tiếp sức đúng cách hoàn toàn có thể trở thành một trong những trụ cột tăng trưởng bền vững của nền kinh tế Việt Nam.
Ngân hàng Nhà nước yêu cầu ổn định mặt bằng lãi suất, không gây xáo trộn thị trường

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu ổn định mặt bằng lãi suất, không gây xáo trộn thị trường

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng triển khai đồng bộ giải pháp ổn định mặt bằng lãi suất. Đồng thời, cân đối nguồn vốn - sử dụng vốn đảm bảo thanh khoản và khả năng chi trả của tổ chức tín dụng, không gây xáo trộn mặt bằng lãi suất thị trường; hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên.
Doanh nghiệp bảo hiểm “xoay trục” để cân bằng hiệu quả kinh doanh

Doanh nghiệp bảo hiểm “xoay trục” để cân bằng hiệu quả kinh doanh

(TBTCO) - TS. Lê Bá Chí Nhân - chuyên gia kinh tế cao cấp cho rằng, thực tế chi trả quyền lợi bảo hiểm tăng nhanh hơn đáng kể so với doanh thu phí và nếu kéo dài nhiều năm đặt ra yêu cầu doanh nghiệp phải xoay trục cân bằng giữa trách nhiệm chi trả và hiệu quả kinh doanh. Trong đó, cần nâng cao chất lượng định phí, đẩy mạnh tái bảo hiểm, siết quản trị rủi ro, ứng dụng công nghệ dự báo tổn thất hiệu quả hơn.
Tỷ giá USD hôm nay (31/3): Tỷ giá trung tâm lên 25.102 VND/USD, DXY "neo" trên 100 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (31/3): Tỷ giá trung tâm lên 25.102 VND/USD, DXY "neo" trên 100 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 31/3, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.102 VND/USD, tăng 2 đồng so với phiên trước đó; với biên độ 5%, tỷ giá tại các ngân hàng thương mại dao động 23.847 - 26.357 VND/USD trong phiên hôm nay. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY tăng 0,05% lên 100,56 điểm, USD diễn biến phân hóa và duy trì sức mạnh tương đối.
KienlongBank duy trì đà tăng trưởng mạnh, khép lại năm 2025 với kết quả tích cực

KienlongBank duy trì đà tăng trưởng mạnh, khép lại năm 2025 với kết quả tích cực

(TBTCO) - Báo cáo tài chính kiểm toán năm 2025 cho thấy KienlongBank duy trì đà tăng trưởng rõ nét, với hiệu quả cải thiện qua từng quý, rủi ro được kiểm soát và nền tảng vận hành tiếp tục được chuẩn hóa.
Đề xuất nâng mức giảm trừ nhiều loại bảo hiểm lên 3 triệu đồng/tháng khi tính thuế thu nhập cá nhân

Đề xuất nâng mức giảm trừ nhiều loại bảo hiểm lên 3 triệu đồng/tháng khi tính thuế thu nhập cá nhân

(TBTCO) - Bộ Tài chính đề xuất nâng mức đóng góp bảo hiểm được trừ khi tính thuế thu nhập cá nhân từ 1 triệu đồng lên 3 triệu đồng/tháng, quy định áp dụng với các khoản đóng vào quỹ hưu trí bổ sung, bảo hiểm hưu trí tự nguyện và bảo hiểm nhân thọ cho người lao động.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,190 17,490
Kim TT/AVPL 17,200 17,500
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,190 17,490
Nguyên Liệu 99.99 15,950 16,150
Nguyên Liệu 99.9 15,900 16,100
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 171,900 174,900
Hà Nội - PNJ 171,900 174,900
Đà Nẵng - PNJ 171,900 174,900
Miền Tây - PNJ 171,900 174,900
Tây Nguyên - PNJ 171,900 174,900
Đông Nam Bộ - PNJ 171,900 174,900
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,190 17,490
Miếng SJC Nghệ An 17,190 17,490
Miếng SJC Thái Bình 17,190 17,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,170 17,470
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,170 17,470
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,170 17,470
NL 99.90 15,770
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,800
Trang sức 99.9 16,660 17,360
Trang sức 99.99 16,670 17,370
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 1,749
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,719 17,492
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,719 17,493
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,717 1,747
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,717 1,748
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,697 1,732
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 164,985 171,485
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 121,163 130,063
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 109,038 117,938
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,913 105,813
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 92,236 101,136
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 63,482 72,382
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 1,749
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 1,749
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 1,749
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 1,749
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 1,749
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 1,749
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 1,749
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 1,749
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 1,749
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 1,749
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 1,749
Cập nhật: 01/04/2026 04:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17521 17794 18367
CAD 18356 18632 19249
CHF 32248 32631 33272
CNY 0 3470 3830
EUR 29572 29843 30870
GBP 34002 34392 35325
HKD 0 3229 3431
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14720 15308
SGD 19862 20144 20672
THB 713 776 830
USD (1,2) 26074 0 0
USD (5,10,20) 26115 0 0
USD (50,100) 26143 26163 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,784 29,808 31,038
JPY 160.97 161.26 169.96
GBP 34,280 34,373 35,335
AUD 17,778 17,842 18,403
CAD 18,594 18,654 19,222
CHF 32,595 32,696 33,449
SGD 20,051 20,113 20,770
CNY - 3,790 3,908
HKD 3,302 3,312 3,429
KRW 15.95 16.63 17.98
THB 764.52 773.96 823.78
NZD 14,750 14,887 15,238
SEK - 2,718 2,797
DKK - 3,986 4,102
NOK - 2,650 2,727
LAK - 0.92 1.26
MYR 6,096.35 - 6,841.52
TWD 744.27 - 896.07
SAR - 6,920.72 7,244.92
KWD - 83,761 88,573
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,652 29,771 30,943
GBP 34,131 34,268 35,265
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,387 32,517 33,430
JPY 160.84 161.49 168.73
AUD 17,711 17,782 18,365
SGD 20,037 20,117 20,689
THB 782 785 819
CAD 18,569 18,644 19,205
NZD 14,824 15,350
KRW 16.55 18.13
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26225 26225 26357
AUD 17704 17804 18729
CAD 18538 18638 19652
CHF 32502 32532 34106
CNY 3753.3 3778.3 3913.4
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29755 29785 31508
GBP 34304 34354 36107
HKD 0 3355 0
JPY 161.48 161.98 172.5
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14830 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20027 20157 20878
THB 0 742.7 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17190000 17190000 17490000
SBJ 16000000 16000000 17490000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,169 26,219 26,357
USD20 26,169 26,219 26,357
USD1 26,169 26,219 26,357
AUD 17,784 17,884 18,990
EUR 29,913 29,913 31,324
CAD 18,500 18,600 19,908
SGD 20,112 20,262 20,826
JPY 161.97 163.47 168.01
GBP 34,186 34,536 35,403
XAU 17,188,000 0 17,492,000
CNY 0 3,663 0
THB 0 781 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 01/04/2026 04:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80