Hàng nghìn tỷ đồng chi phí quản lý bảo hiểm tiếp tục được cắt giảm

Hoàng Yến
(TBTCO) - Trong phiên họp thứ 47, chiều 10/7, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua dự thảo Nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức chi tổ chức và hoạt động bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp giai đoạn 2025 - 2027.
aa

Chi phí quản lý giai đoạn 2022 - 2024 giảm 2.342 tỷ đồng so với dự toán

Trình bày báo cáo tại phiên họp, Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng cho biết, thực hiện Nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức chi phí quản lý giai đoạn 2022 - 2024 và 6 tháng đầu năm 2025, Thủ tướng Chính phủ đã giao dự toán thấp hơn mức tối đa được trích và giảm bình quân 0,14 %/năm so với mức Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho phép. Số thực hiện là 36.921 tỷ đồng, giảm 2.342 tỷ đồng so với dự toán, đảm bảo để cơ quan bảo hiểm xã hội hoàn thành tốt các nhiệm vụ chính trị được giao.

Hàng nghìn tỷ đồng chi phí quản lý bảo hiểm tiếp tục được cắt giảm

Phiên họp của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội chiều 10/7.

Cụ thể, về đối tượng tham gia, đã hoàn thành và vượt chỉ tiêu Chính phủ giao tại Nghị quyết số 01 hàng năm. Số người tham gia bảo hiểm xã hội tăng bình quân 6,8%/năm, cuối năm 2024 đạt tỉ lệ là 42,71 % lực lượng lao động. Số người tham gia bảo hiểm thất nghiệp tăng bình quân là 6,4 %/năm, cuối năm 2024 đạt tỉ lệ là 34,19 % lực lượng lao động. Số người tham gia bảo hiểm y tế tăng bình quân là 2,5 %/năm, cuối năm 2024 đã đạt tỷ lệ bao phủ là 94,29 % dân số.

Tổng số thu các chế độ cả giai đoạn là 1.548.000 tỷ đồng, tăng gần 13,3 % so với giai đoạn 2019 - 2021, tăng bình quân là 11,4 %/năm so với thực hiện giai đoạn 2020 - 2022. Tổng số chi trả các chế độ cả giai đoạn là 1.340.000 tỷ đồng, tăng 16,6% so với giai đoạn 2019 - 2021, tăng bình quân là 9,5 %/năm so với thực hiện giai đoạn 2020 – 2022. Bên cạnh đó, ứng dụng công nghệ thông tin và chi trả không dùng tiền mặt tại các khu vực đô thị đạt 80 %, vượt 20% chỉ tiêu được giao.

Tổng số dư các quỹ bảo hiểm luỹ kế đến hết năm 2024 là 1.468.000 tỷ đồng, tăng 337.600 tỷ đồng, tương đương là 34,6% so với cuối năm 2021.

Bên cạnh các kết quả đạt được, Bộ trưởng Nguyễn Văn Thắng cũng nêu ra những nội dung còn hạn chế, khó khăn. Đó là chưa ban hành được giá dịch vụ tư vấn việc làm, giá dịch vụ sự nghiệp công sử dụng quỹ bảo hiểm thất nghiệp, nên chi phí quản lý phải căn cứ vào định suất lao động. “Hiện nay Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Nội vụ khẩn trương ban hành giá dịch vụ để làm căn cứ chi trong thời gian tới”, Bộ trưởng cho biết.

Ngoài ra, chi đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin giải ngân chưa đạt 100 % dự toán giao; chuyển đổi số trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội chưa đạt như kỳ vọng…

Chi bình quân giai đoạn 2025 - 2027 giảm 1,28%

Tại dự thảo Nghị quyết, Chính phủ đề xuất mức chi bình quân giai đoạn 2025 - 2027 là 1,28%, giảm 0,12 % so với giai đoạn thực hiện 2022 - 2024. Về số tuyệt đối dự kiến tăng hơn 9.000 tỷ đồng so với thực hiện giai đoạn 2022 – 2024.

Nguyên nhân tăng là do tăng chi chế độ cho người lao động theo Nghị định số 178; tăng chi nhiệm vụ chuyên môn do tăng số lượng tham gia và thụ hưởng chế độ bình quân trong giai đoạn 2025 – 2027.

Hàng nghìn tỷ đồng chi phí quản lý bảo hiểm tiếp tục được cắt giảm

Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng trình bày tại phiên họp

Theo số liệu Chính phủ cung cấp, số người hưởng lương hưu trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng tăng 11,1%; người hưởng trợ cấp thất nghiệp tăng 13,1 %; số người tham gia bảo hiểm xã hội tăng 22,8%; số. người tham gia bảo hiểm thất nghiệp tăng 17,3 %; số người tham gia bảo hiểm y tế tăng bình quân là 5,3 %/năm so với giai đoạn 2022 - 2024.

Cùng với đó, kinh phí đầu tư cho công nghệ thông tin và chuyển đổi đổi số cũng tăng 84 % so với giai đoạn 2022 - 2024, phù hợp với việc sắp xếp bộ máy và không trùng lắp Đề án số 06 về dữ liệu dân cư cũng như Nghị quyết số 175 về Trung tâm dữ liệu quốc gia.

Về tiền lương, mức chi tiền lương hiện hưởng của cơ quan bảo hiểm xã hội theo Nghị quyết số 09 bằng 1,8 lần với lương cơ sở là 1,49 triệu đồng. Từ năm 2025, khi lương cơ sở tăng hơn 2,34 triệu đồng tiền lương của ngành bảo hiểm xã hội chỉ tương đương là 1,23 lần, thấp hơn công chức.

Do đó, Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho phép áp dụng mức tiền lương và phụ cấp bao gồm các phụ cấp công vụ, phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp khu vực như công chức để phù hợp sau khi Bảo hiểm xã hội là đơn vị thuộc Bộ Tài chính có nhiệm vụ tổ chức thực hiện tham gia xây dựng chính sách. Đề xuất này là phù hợp với tinh thần Kết luận số 83 của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 142 của Quốc hội.

Để động viên, khích lệ, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác theo chủ trương của Bộ Chính trị, Chính phủ đề xuất cho phép phần chênh lệch tăng thêm khi vượt dự toán được bổ sung thu nhập, khen thưởng, phúc lợi cho người lao động theo cơ chế tài chính do Chính phủ quy định.

Liên quan đến kinh phí thực hiện chế độ tại Nghị định 178 cho người lao động, Chính phủ dự kiến là khoảng 1.900 tỷ đồng cho khoảng 2.500 cán bộ. Tuy nhiên, theo Bộ trưởng Nguyễn Văn Thắng, số lượng người nghỉ hưu, nghỉ chế độ sẽ tiếp tục thay đổi và khó dự báo chính xác hơn. Để kịp thời bố trí kinh phí cho người lao động, Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội giao Thủ tướng Chính phủ quyết định việc điều chỉnh mức chi theo thực tế và báo cáo Quốc hội kết quả thực hiện.

Nghị quyết số 62 được áp dụng đến hết ngày 30/6/2025 nên để đảm bảo tính liên tục, Chính phủ đề xuất Nghị quyết mới có hiệu lực thi hành từ ngày mùng 1/7/2025 và áp dụng cho năm tài chính 2025.

Qua nghe các báo cáo và thảo luận, các thành viên Uỷ ban Thường vụ Quốc hội nhất trí cao và biểu quyết thông qua dự thảo Nghị quyết với 100% đại biểu có mặt tán thành.

Hoàng Yến

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 24/10: Vàng thế giới “thủng” mốc 4.000 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 24/10: Vàng thế giới “thủng” mốc 4.000 USD/ounce

(TBTCO) - Vàng thế giới rơi dưới ngưỡng 4.000 USD/ounce sau một tuần bán tháo mạnh, trong khi đó, vàng miếng và vàng nhẫn trong nước cũng đồng loạt giảm.
VSBF 2026: Định hình tương lai tài chính - ngân hàng giữa "làn sóng" công nghệ và xu thế phát triển bền vững

VSBF 2026: Định hình tương lai tài chính - ngân hàng giữa "làn sóng" công nghệ và xu thế phát triển bền vững

Từ ngày 22 - 24/10, tại Hà Nội, Hội thảo quốc tế về Ngân hàng và Tài chính Việt Nam 2026 (Vietnam Symposium in Banking and Finance 2026 - VSBF 2026) diễn ra, với sự phối hợp tổ chức của Tổ chức Khoa học và Chuyên gia Việt Nam toàn cầu (AVSE Global), Học viện Ngân hàng, Hiệp hội Quốc tế về Phát triển Kinh tế Tài chính (ISAFE) và Đại học Massey.
Room tín dụng cạn dần cùng chế tài siết chặt, cuộc đua lãi suất khó "nóng" trở lại cuối năm

Room tín dụng cạn dần cùng chế tài siết chặt, cuộc đua lãi suất khó "nóng" trở lại cuối năm

Lãi suất huy động khó tăng trở lại cuối năm 2026 do việc đua tăng lãi suất đã bị kiểm soát chặt hơn và room tín dụng sát trần, thậm chí vượt nếu tính thêm số dư mua hẳn miễn truy đòi bộ chứng từ theo thư tín dụng (L/C). Tuy nhiên, kỳ vọng lãi suất giảm sâu hơn mức chỉ đạo trong năm 2027 là chưa thực tế.
VPBank ưu đãi chuyển tiền quốc tế, tiếp sức hành trình du học

VPBank ưu đãi chuyển tiền quốc tế, tiếp sức hành trình du học

(TBTCO) - Chuẩn bị tài chính là một trong những bước quan trọng để hành trình du học diễn ra suôn sẻ. Bên cạnh việc lựa chọn phương thức chuyển tiền phù hợp, phụ huynh và du học sinh cũng cần quan tâm đến phí giao dịch và tỷ giá ngoại tệ để tối ưu chi phí.
Tỷ giá USD hôm nay 23/10: USD ngân hàng đồng loạt giảm, DXY lùi về vùng thấp nhất ba tuần

Tỷ giá USD hôm nay 23/10: USD ngân hàng đồng loạt giảm, DXY lùi về vùng thấp nhất ba tuần

(TBTCO) - Sáng 23/10, tỷ giá trung tâm giảm 5 đồng xuống 25.627 đồng, USD ngân hàng đồng loạt đi xuống. Chỉ số DXY giảm 0,07% xuống 101,62 điểm khi Fed phát tín hiệu chưa vội tăng lãi suất, khiến đồng bạc xanh gần đáy ba tuần. Tuy nhiên, thị trường vẫn dự báo khả năng Fed tăng lãi suất tháng 12 gần 80%.
Vietcombank đẩy mạnh triển khai chương trình tín dụng thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên

Vietcombank đẩy mạnh triển khai chương trình tín dụng thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên

(TBTCO) - Thực hiện chủ trương của Chính phủ và chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước về việc giảm mặt bằng lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và người dân tiếp cận nguồn vốn với chi phí hợp lý, góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh và tăng trưởng kinh tế, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm hạ chi phí vốn cho khách hàng.
Ngân hàng đua ứng dụng AI, ra biển lớn cần trang bị đủ "phao" an toàn

Ngân hàng đua ứng dụng AI, ra biển lớn cần trang bị đủ "phao" an toàn

(TBTCO) - Ngành ngân hàng đang chuyển từ số hóa sang ứng dụng AI, khai thác dữ liệu để tạo giá trị thực chất, thay vì chỉ khoác “một chiếc áo khoác đẹp”. Tuy nhiên, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước lưu ý rủi ro an ninh mạng đi kèm, đòi hỏi các ngân hàng phải trang bị “phao”, đưa khả năng chống chịu số trở thành năng lực cốt lõi.
Tỷ giá USD hôm nay 22/10: USD đồng loạt giảm trước thềm bầu cử giữa kỳ Mỹ và cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay 22/10: USD đồng loạt giảm trước thềm bầu cử giữa kỳ Mỹ và cuộc họp Fed

(TBTCO) - Sáng 22/10, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng xuống 25.632 đồng, tỷ giá USD tại các ngân hàng đồng loạt đi xuống. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,04% xuống 101,69 điểm. Diễn biến cuộc bầu cử giữa kỳ của Mỹ ngày 3/11, diễn biến thị trường trái phiếu và kỳ vọng chính sách của Fed đều chi phối triển vọng đồng USD.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,000 141,000
Hà Nội - PNJ 138,000 141,000
Đà Nẵng - PNJ 138,000 141,000
Miền Tây - PNJ 138,000 141,000
Tây Nguyên - PNJ 138,000 141,000
Đông Nam Bộ - PNJ 138,000 141,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,870 14,170
Miếng SJC Nghệ An 13,870 14,170
Miếng SJC Thái Bình 13,870 14,170
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,720 14,120
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,720 14,120
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,720 14,120
Trang sức 99.9 13,400 14,000
Trang sức 99.99 13,410 14,010
Vàng 99.9 12,900
Vàng 99.99 13,100
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,387 14,172
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,387 14,173
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 135 139
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 135 1,391
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 133 138
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 129,634 136,634
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,386 10,366
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,199 93,999
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,538 84,338
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,812 80,612
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 47,902 57,702
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Cập nhật: 25/10/2026 04:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17640 17913 18499
CAD 17919 18194 18811
CHF 30673 31049 31695
CNY 0 3831 3927
EUR 28318 28534 29617
GBP 33752 34141 35079
HKD 0 3164 3367
JPY 158 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14416 15001
SGD 19669 19950 20531
THB 680 743 797
USD (1,2) 25578 0 0
USD (5,10,20) 25616 0 0
USD (50,100) 25643 25657 26027
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,640 25,640 26,020
USD(1-2-5) 24,615 - -
USD(10-20) 24,615 - -
EUR 28,388 28,411 29,760
JPY 159.97 160.26 169.99
GBP 33,957 34,049 35,225
AUD 17,799 17,863 18,542
CAD 18,084 18,142 18,813
CHF 31,004 31,100 32,019
SGD 19,790 19,852 20,633
CNY - 3,796 3,942
HKD 3,227 3,237 3,374
KRW 17.95 18.72 20.37
THB 729.64 738.65 790.96
NZD 14,376 14,509 14,938
SEK - 2,560 2,651
DKK - 3,807 3,943
NOK - 2,719 2,819
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,908.41 - 6,669.56
TWD 715.24 - 866.6
SAR - 6,763.5 7,125.51
KWD - 81,588 86,825
AED - 6,777 7,303
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,630 25,660 26,040
EUR 28,405 28,548 29,777
GBP 33,993 34,164 35,200
HKD 3,224 3,243 3,360
CHF 30,953 31,109 32,055
JPY 160.47 162.09 170.07
AUD 17,765 17,890 18,488
SGD 19,794 19,974 20,571
THB 735 750 787
CAD 18,075 18,202 18,801
NZD 14,454 15,012
KRW 18.86 20.85
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25640 25640 26040
AUD 17779 17879 18805
CAD 18101 18201 19213
CHF 31001 31031 32620
CNY 3813.9 3838.9 3973.9
CZK 0 1140 0
DKK 0 3860 0
EUR 28491 28521 30243
GBP 34071 34121 35879
HKD 0 3300 0
JPY 161.46 161.96 172.51
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6445 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14493 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2605 0
SGD 19838 19968 20692
THB 0 710.4 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13900000 13900000 14200000
SBJ 12500000 12500000 14200000
Cập nhật: 25/10/2026 04:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30