Lợi nhuận ngân hàng quý I: Tín hiệu vui nhưng vẫn có yếu tố cảnh báo

Chí Tín
(TBTCO) - Các ngân hàng tiếp tục gây ấn tượng từ các con số kinh doanh quý I/2022 tăng trưởng mạnh mẽ. Đây là một tín hiệu tích cực trong bối cảnh nền kinh tế đang bứt tốc sau giai đoạn chững lại do ảnh hưởng của dịch. Tuy nhiên, vẫn có những yếu tố cần cảnh báo để tránh tình trạng các ngân hàng chạy quá đà mà không kiểm soát được “tốc độ”.
aa

Ngân hàng “vui vẻ” với lợi nhuận quý I

Các ngân hàng có sự khai cuộc năm 2022 tỏ ra khá thuận lợi sau khi khép lại các con số kinh doanh quý I. Nhiều ngân hàng thậm chí đạt các con số tăng tốc bất ngờ.

Kết quả kinh doanh quý I/2022 của VPBank cho thấy, lợi nhuận sau thuế quý I/2022 tới 8.917 tỷ đồng, gấp tới 2,8 lần quý I/2021. Kết quả quý đầu năm cho thấy ngân hàng này đang hoàn toàn có lý do để sớm hiện thực hóa mục tiêu lợi nhuận cả năm 2022 với gần 30.000 tỷ đồng, gấp hơn 2 lần năm 2021.

Một số ngân hàng khác tuy cũng không đạt được tốc độ tăng trưởng tính bằng lần, nhưng cũng có được các con số tăng trưởng khá cao nếu so với nhiều ngành nghề, lĩnh vực khác. Chẳng hạn như, Techcombank đạt lợi nhuận sau thuế quý I/2022 5.615 tỷ đồng, tăng trưởng 25% so với cùng kỳ năm ngoái, nhờ tăng trưởng tín dụng mạnh mẽ và chi phí tín dụng giảm. Trong khi đó, Sacombank đạt lợi nhuận trước thuế 1.600 tỷ đồng trong quý I/2022, tăng 59% so với cùng kỳ năm ngoái. So với kế hoạch 5.280 tỷ đồng lãi trước thuế được đề ra cho cả năm, Sacombank đã thực hiện được 30% chỉ sau quý đầu năm.

Riêng quý I/ 2022, tín dụng cũng đã tăng 5,04%.
Riêng quý I/ 2022, tín dụng cũng đã tăng 5,04%.

Các con số tăng trưởng lợi nhuận của các ngân hàng một phần được ghi nhận nhờ sự tăng tốc của tăng trưởng tín dụng ngay từ quý đầu năm 2022. Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, riêng quý

I/2022, tín dụng cũng đã tăng 5,04%, mức tăng trưởng cao vượt trội so với tốc độ tăng trưởng cùng kỳ năm ngoái, cụ thể tốc độ tăng trưởng tín dụng chỉ đạt khoảng 1,26%. Với tốc độ tăng trưởng như trên, giới ngân hàng đang hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng 14% mà ngành ngân hàng đặt ra cho năm 2022.

Về một số diễn biến khác trên thị trường tiền tệ, số liệu từ Tổng cục Thống kê cho biết, tính đến cuối tháng 3/2021, tổng phương tiện thanh toán tăng 2,49% so với cuối năm 2021 (cùng thời điểm năm 2021 tăng 1,49%); huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 2,15% tăng 0,54%; tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 4,03% (tăng 1,47%).

Vẫn cần những bước đi thận trọng

Đầu năm 2022, Ngân hàng Nhà nước đưa ra dự báo tăng trưởng tín dụng chỉ là khoảng 14%, đây là con số kế hoạch đặt ra trên cơ sở cân đối các yếu tố vĩ mô khác cũng như bối cảnh thực tế, việc đáp ứng các nhu cầu vốn cần thiết cho nền kinh tế. Tuy nhiên, con số tăng trưởng tín dụng của riêng quý I đã lên tới hơn 5% và nếu đà tăng trưởng này tiếp tục tục duy trì, hoặc thậm chí “tăng tốc” trong các quý còn lại của năm 2022 thì tín dụng có thể sẽ vượt xa mục tiêu 14%.

Thực tế, tín dụng tăng cao hỗ trợ ngân hàng tăng lợi nhuận cho thấy khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế đang tốt lên, nhưng thực tế nền kinh tế và sức khỏe của các ngân hàng cũng vẫn còn rất dễ tổn thương sau giai đoạn khó khăn dịch bệnh 2 năm qua. Ông Nguyễn Duy Thành - Trưởng phòng phân tích thuộc Công ty cổ phần Chứng khoán Pinetree cho biết, việc kiểm soát tránh tín dụng tăng trưởng quá nóng là cần thiết bởi nếu tín dụng tăng quá cao có thể dẫn tới nhiều hệ lụy dài hạn. Nguy cơ nợ xấu gia tăng cũng vẫn còn, nên nếu dòng vốn từ tín dụng không được kiểm soát tốt đều có thể làm gia tăng rủi ro.

Chỉ tiêu tín dụng sẽ điều chỉnh linh hoạt với diễn biến thực tế

Theo kế hoạch của Ngân hàng Nhà nước đưa ra tại Chỉ thị số 01/CT-NHNN về tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của ngành ngân hàng trong năm 2022, định hướng tín dụng năm 2022 tăng khoảng 14%, có điều chỉnh phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế. Trên cơ sở đó, Ngân hàng Nhà nước cho biết cũng đặt ra mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát. Cụ thể, chỉ tiêu lạm phát năm 2022 bình quân khoảng 4%, từ đó góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ phục hồi tăng trưởng kinh tế, thích ứng kịp thời với diễn biến thị trường trong và ngoài nước.

Ngay bản thân các ngân hàng cũng tỏ ra thận trọng, chẳng hạn như TPBank hiện đã áp dụng theo chuẩn Basel III, tỷ lệ an toàn vốn đạt trên 12%, cao hơn nhiều so với quy định tối thiểu 8% của Ngân hàng Nhà nước, nhưng lãnh đạo ngân hàng này, ông Nguyễn Hưng - Tổng giám đốc TPBank, vẫn cho biết, với hoạt động tín dụng, TPBank vẫn phải xem xét và cân nhắc kỹ lưỡng mức độ rủi ro theo khuyến cáo của Ngân hàng Nhà nước bởi bên cạnh việc đảm bảo kinh doanh hiệu quả thì chất lượng tín dụng an toàn vẫn được TPBank coi trọng.

Trong bối cảnh các hoạt động đang nóng lên, các ngân hàng càng chịu sức ép nhiều hơn trong việc củng cố năng lực tài chính cốt lõi, đặc biệt là tăng vốn chủ sở hữu để đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu. Diễn biến thực tế cũng cho thấy, kế hoạch tăng vốn của các ngân hàng diễn ra mạnh mẽ hơn các năm trước thông qua hình thức bán vốn cho nhà đầu tư nước ngoài hoặc trả cổ tức bằng cổ phiếu thay vì bằng tiền mặt.

Động lực đằng sau động thái tăng vốn của các ngân hàng đến từ việc quy mô vốn của các ngân hàng tương đối thấp, nếu so với các ngân hàng trong khu vực. Trong khi đó, bối cảnh hiện nay cho thấy rủi ro nợ xấu tăng trong năm nay vẫn đang hiện hữu vì nền kinh tế bị ảnh hưởng nặng nề bởi dịch Covid-19 trong năm ngoái.

Chí Tín

Đọc thêm

Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) vừa chính thức ra mắt PRUKhỏe Linh Hoạt, sản phẩm bảo hiểm bán cùng được thiết kế theo định hướng cá nhân hóa các kế hoạch bảo hiểm sức khỏe, trao cho khách hàng quyền chủ động lựa chọn hạn mức hàng năm, phạm vi địa lý và quyền lợi bảo hiểm tùy chọn để xây dựng kế hoạch phù hợp với nhu cầu, khả năng tài chính và từng giai đoạn cuộc sống.
Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

(TBTCO) - Thông tư số 96/2026/TT-BTC yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm thông báo cụ thể các trường hợp và căn cứ tăng, giảm phí bảo hiểm xe cơ giới. Quy định mới không chỉ đặt ra giới hạn đối với việc giảm phí, mà còn hướng hoạt động cạnh tranh vào thực chất, bảo đảm giá phí tương xứng với mức độ rủi ro và quyền lợi của khách hàng.
Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 34 USD/ounce, xuống 4.333 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giao dịch trong khoảng 142,5 - 147 triệu đồng/lượng.
Hà Nội thúc vốn cho dự án, mở thêm kênh huy động dài hạn

Hà Nội thúc vốn cho dự án, mở thêm kênh huy động dài hạn

(TBTCO) - Tại Hội nghị “Giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính - ngân hàng phục vụ tăng trưởng kinh tế Thủ đô giai đoạn 2026 - 2030” do UBND TP. Hà Nội phối hợp với Ngân hàng Nhà nước tổ chức chiều 12/9, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước và TP. Hà Nội thống nhất nhiều giải pháp nhằm khơi thông dòng vốn, tháo gỡ điểm nghẽn cho các dự án và đa dạng hóa nguồn lực tài chính phục vụ tăng trưởng.
Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới

Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới

(TBTCO) - Trong 8 tháng đầu năm 2026, huy động vốn trên địa bàn Hà Nội tăng 10,78%, dư nợ tín dụng tăng 13,05%, đưa Thủ đô tiếp tục dẫn đầu cả nước về quy mô huy động và cho vay.
Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

(TBTCO) - Trước yêu cầu tăng trưởng GRDP từ 11% trở lên trong năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030, Hà Nội xác định khơi thông các nguồn lực tài chính, đặc biệt là vốn tín dụng và nguồn lực doanh nghiệp, là nhiệm vụ trọng tâm.
Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 29 USD, giao dịch quanh mức 4.349 USD/ounce. Trong khi đó, thị trường trong nước ghi nhận mức giảm cao nhất 1,4 triệu đồng/lượng.
Ba “ông lớn” ngân hàng tư nhân đua tăng vốn, sắp gia nhập câu lạc bộ vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

Ba “ông lớn” ngân hàng tư nhân đua tăng vốn, sắp gia nhập câu lạc bộ vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Techcombank vừa thông qua phương án phát hành thêm 50,28% số cổ phiếu qua hai cấu phần, dự kiến nâng vốn điều lệ từ 70.862 tỷ đồng lên 106.593 tỷ đồng. Cùng với Techcombank, MB và VPBank cũng tham gia cuộc đua tăng vốn để gia nhập “câu lạc bộ” vốn điều lệ trên 100.000 tỷ đồng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,400 145,500
Hà Nội - PNJ 142,400 145,500
Đà Nẵng - PNJ 142,400 145,500
Miền Tây - PNJ 142,400 145,500
Tây Nguyên - PNJ 142,400 145,500
Đông Nam Bộ - PNJ 142,400 145,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,260 14,560
Miếng SJC Nghệ An 14,260 14,560
Miếng SJC Thái Bình 14,260 14,560
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,260 14,610
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,260 14,610
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,260 14,610
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,920 14,520
Trang sức 99.99 13,930 14,530
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,426 14,562
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,426 14,563
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,421 1,451
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,421 1,452
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,396 1,441
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,673 142,673
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,436 108,236
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,348 98,148
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,826 8,806
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,369 84,169
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,446 60,246
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Cập nhật: 15/09/2026 06:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17986 18260 18837
CAD 18163 18439 19061
CHF 31136 31514 32158
CNY 0 3830 3927
EUR 29352 29573 30653
GBP 34232 34623 35564
HKD 0 3182 3384
JPY 161 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14687 15275
SGD 19900 20182 20762
THB 697 760 813
USD (1,2) 25719 0 0
USD (5,10,20) 25758 0 0
USD (50,100) 25786 25800 26170
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 29,431 29,455 30,851
JPY 163.75 164.05 173.96
GBP 34,432 34,525 35,719
AUD 18,208 18,274 18,967
CAD 18,377 18,436 19,114
CHF 31,346 31,443 32,373
SGD 20,034 20,096 20,893
CNY - 3,800 3,946
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.8 18.56 20.19
THB 746.35 755.57 809.01
NZD 14,694 14,830 15,273
SEK - 2,621 2,713
DKK - 3,947 4,087
NOK - 2,749 2,846
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,956.94 - 6,723.75
TWD 738.75 - 894.47
SAR - 6,801 7,164.36
KWD - 82,391 87,672
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,750 25,780 26,160
EUR 29,454 29,572 30,769
GBP 34,423 34,561 35,590
HKD 3,243 3,256 3,373
CHF 31,182 31,307 32,240
JPY 164.26 164.92 172.88
AUD 18,202 18,275 18,869
SGD 20,099 20,180 20,774
THB 763 766 802
CAD 18,377 18,451 19,043
NZD 14,773 15,313
KRW 18.44 20.41
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25802 25802 26162
AUD 18165 18265 19187
CAD 18350 18450 19464
CHF 31398 31428 33010
CNY 3812.8 3837.8 3973
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29541 29571 31294
GBP 34545 34595 36352
HKD 0 3305 0
JPY 164.62 165.12 175.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14794 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20062 20192 20923
THB 0 725.9 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14300000 14300000 14600000
SBJ 13000000 13000000 14600000
Cập nhật: 15/09/2026 06:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30