Sau hơn một thập niên triển khai Nghị định 24, đến lúc cần minh bạch tài sản vàng

ThS Trần Trọng Triết
(TBTCO) - Trước bối cảnh giá vàng biến động mạnh và cơ chế điều hành không còn theo kịp thực tiễn, yêu cầu minh bạch hóa nguồn cung, hoạt động sản xuất về tài sản vàng trở nên ngày càng cấp thiết, đặc biệt khi sửa đổi Nghị định 24 giúp mở van, tăng nguồn cung vàng.
aa
Sau hơn một thập niên triển khai Nghị định 24, đến lúc cần minh bạch tài sản vàng
Biểu đồ: Tư liệu

Sau hơn 10 năm triển khai các giải pháp quản lý thị trường vàng theo Nghị định 24/2012/NĐ-CP ngày 3/4/2012 về quản lý hoạt động kinh doanh vàng (Nghị định 24), thị trường vàng tương đối ổn định, qua đó cho thấy những mục tiêu cốt lõi của nghị định này đã đạt được.

Thị trường vàng đứng trước ngã rẽ

Nghị định 24 ra đời đưa hoạt động kinh doanh mua, bán vàng miếng đi vào nề nếp, thị trường vàng trong nước chuyển biến rõ rệt. Tình trạng “vàng hóa” trong nền kinh tế - vốn từng là nỗi lo lớn, được đẩy lùi đáng kể. Hiện tượng đầu cơ, tích trữ vàng theo tâm lý cũng không còn phổ biến như trước. Đặc biệt, những biến động của giá vàng quốc tế không còn gây ra tác động lớn lên thị trường ngoại hối hay tạo “sức ép” lớn lên kinh tế vĩ mô như giai đoạn tiền nghị định.

Mở khóa độc quyền, thiết lập cơ chế có kiểm soát

"Thống nhất với mục tiêu chuyển từ cơ chế độc quyền sản xuất vàng miếng sang cơ chế cấp phép hoạt động sản xuất vàng miếng. Việc xây dựng các điều kiện cấp phép nhằm lựa chọn các doanh nghiệp, tổ chức tín dụng có đủ năng lực tài chính, tuân thủ pháp luật về hoạt động kinh doanh vàng để thực hiện sản xuất vàng miếng, đảm bảo vẫn kiểm soát được trên nguyên tắc Nhà nước quản lý hoạt động sản xuất vàng miếng". ThS. Trần Trọng Triết - Ngân hàng Nhà nước Khu vực 15

Cùng với đó, sau nhiều năm thực hiện Nghị định 24, mối quan hệ giữa giá vàng và giá USD trở nên “mờ nhạt”, khác hẳn giai đoạn trước khi nghị định này ra đời. Ngoài ra, từ năm 2012 đến nay, tỷ giá và lạm phát hoàn toàn nằm trong hoặc thấp hơn mục tiêu Quốc hội giao Chính phủ.

Tuy nhiên, từ năm 2019 đến nay, giá vàng quốc tế và trong nước ghi nhận xu hướng tăng mạnh, chịu tác động bởi nhiều yếu tố cả bên ngoài và trong nước. Đáng chú ý là những biến động lớn, như: đại dịch Covid-19, căng thẳng địa chính trị leo thang tại một số khu vực, điển hình là xung đột Nga - Ukraine, Hamas - Israel, cùng với đó là các “cuộc chiến thương mại” và chính sách thuế quan giữa các nền kinh tế lớn. Những yếu tố này làm gia tăng nhu cầu nắm giữ vàng như một tài sản trú ẩn an toàn, qua đó đẩy giá vàng lên mức cao trong nhiều năm trở lại đây.

Trên thị trường xuất hiện tình trạng chênh lệch lớn giữa giá vàng miếng trong nước và giá vàng quốc tế tại một số thời điểm, có lúc bị đẩy lên mức kỷ lục, lên tới 18 triệu đồng/lượng, tương ứng chênh lệch lên tới 25%, gây ra những hệ lụy đáng lo ngại. Chênh lệch giá cao làm gia tăng nguy cơ buôn lậu vàng qua biên giới, từ đó, tiềm ẩn rủi ro gây áp lực lên tỷ giá USD/VND trên thị trường tự do.

Bên cạnh đó, việc tiếp tục duy trì cơ chế phụ thuộc vào một đơn vị duy nhất trong hoạt động gia công, sản xuất vàng miếng không còn phù hợp với bối cảnh hiện nay, khi năng lực sản xuất, công nghệ và kỹ thuật của đơn vị này trở nên lạc hậu, không đáp ứng được yêu cầu quản lý hiện đại và nhu cầu thị trường.

Mở cơ chế, giữ kỷ cương

Bám sát chủ trương, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Thông báo số 211-TB/VPTW ngày 30/5/2025 về quản lý nhà nước đối với thị trường vàng, dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 24 theo hướng đưa thị trường vàng vận động phù hợp với các nguyên tắc của thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, xóa bỏ cơ chế độc quyền nhà nước về sản xuất vàng miếng một cách có kiểm soát, trên nguyên tắc Nhà nước vẫn quản lý hoạt động sản xuất vàng miếng.

Đồng thời, mở rộng quyền nhập khẩu có kiểm soát để tăng cung vàng; bảo đảm nguyên tắc tôn trọng quyền sở hữu, quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh của người dân và doanh nghiệp; bảo đảm sự minh bạch trên thị trường; tiếp tục mục tiêu nghiêm cấm việc sử dụng vàng làm phương tiện thanh toán.

Theo đó, nội dung trọng tâm trong dự thảo là xóa bỏ cơ chế Nhà nước độc quyền sản xuất vàng miếng, xuất khẩu vàng nguyên liệu, nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng. Hoạt động sản xuất vàng miếng là hoạt động kinh doanh có điều kiện và phải được Ngân hàng Nhà nước cấp giấy phép. Hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng do Ngân hàng Nhà nước tổ chức thực hiện sẽ được triển khai theo hướng phù hợp với chủ trương từng bước xóa bỏ cơ chế độc quyền nhà nước trong lĩnh vực này.

Đối với tổ chức tín dụng và doanh nghiệp sản xuất vàng miếng, cần quy định rõ trách nhiệm trong việc công bố, công khai tiêu chuẩn áp dụng, bao gồm khối lượng, hàm lượng sản phẩm theo quy định pháp luật. Đồng thời bảo đảm sản phẩm sản xuất đúng với tiêu chuẩn đã công bố và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác của các thông số kỹ thuật.

Các đơn vị này phải chịu trách nhiệm toàn diện về chất lượng sản phẩm vàng miếng do mình sản xuất và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ bảo hành theo quy định. Đồng thời, xây dựng hệ thống thông tin để lưu trữ chính xác, đầy đủ dữ liệu liên quan đến quá trình sản xuất, đảm bảo khả năng kết nối, cung cấp thông tin cho cơ quan có thẩm quyền khi được yêu cầu.

Đối với tổ chức tín dụng và doanh nghiệp được cấp giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu vàng, cần bảo đảm tính minh bạch, hợp pháp về nguồn gốc vàng nguyên liệu nhập khẩu; xây dựng quy định nội bộ về hoạt động xuất - nhập khẩu và thực hiện chế độ báo cáo định kỳ với Ngân hàng Nhà nước.

Các đơn vị phải chịu trách nhiệm về chất lượng vàng nguyên liệu nhập khẩu và sản phẩm vàng miếng sản xuất từ nguồn này, bảo đảm tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật hiện hành. Đồng thời, xây dựng quy định nội bộ về hoạt động bán vàng nguyên liệu theo nguyên tắc công khai, minh bạch; công bố rõ thông tin về điều kiện giao dịch, quyền và nghĩa vụ của khách hàng. Việc sử dụng vàng nhập khẩu phải đúng mục đích đăng ký; dữ liệu mua, bán phải được lưu trữ chính xác và kết nối với cơ quan nhà nước theo quy định.

Giao dịch mua, bán vàng từ 20 triệu đồng trở lên phải thanh toán qua tài khoản ngân hàng nhằm xác thực thông tin khách hàng. Quy định này không phát sinh thủ tục mới, đồng thời tăng tính minh bạch, công khai và khả năng truy xuất dữ liệu trong các giao dịch trên thị trường vàng.

Không tăng cung vàng miếng, lựa chọn ổn định trong bối cảnh biến động

Về nguồn cung vàng miếng, từ năm 2014 đến tháng 4/2024, Ngân hàng Nhà nước không can thiệp tăng nguồn cung vàng miếng SJC ra thị trường do diễn biến thị trường không đòi hỏi sự điều tiết trực tiếp.

Giai đoạn 2014 - 2019, giá vàng miếng SJC chủ yếu có xu hướng giảm và biến động trong biên độ hẹp hơn so với vàng thế giới. Cụ thể, giá vàng miếng SJC giảm 24% (từ 48 triệu đồng/lượng xuống 36,4 triệu đồng), trong khi giá vàng thế giới giảm 28% (từ gần 1.800 USD/ounce xuống 1.294 USD/ounce). Trước sự chênh lệch giá, Ngân hàng Nhà nước đẩy mạnh tuyên truyền, khuyến cáo người dân thận trọng khi giao dịch, giúp thị trường nhanh chóng ổn định mà không cần can thiệp cung vàng.

Từ năm 2020 đến nay, kinh tế thế giới và trong nước đối mặt nhiều bất ổn từ đại dịch Covid-19, căng thẳng địa chính trị, lãi suất quốc tế tăng mạnh đến USD lên giá. Trong nước, các kênh đầu tư ảm đạm, mặt bằng lãi suất giảm để hỗ trợ tăng trưởng. Trong bối cảnh đó, tại một số thời điểm trong tháng 7, tháng 9/2022, tháng 6/2024 và tháng 4/2025, chênh lệch giá vàng SJC với thế giới nhiều thời điểm vượt 18 triệu đồng/lượng.

Tuy nhiên, Ngân hàng Nhà nước kiên định mục tiêu ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, chống “đô la hóa” và củng cố niềm tin vào VND, Ngân hàng Nhà nước không bán vàng can thiệp, mà sử dụng dự trữ ngoại hối để ổn định tỷ giá, góp phần giữ vững thị trường ngoại hối và nền tảng kinh tế.

ThS Trần Trọng Triết

Đọc thêm

Đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định về thu, đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông

Đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định về thu, đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước dự kiến sửa đổi Thông tư số 25/2013/TT-NHNN theo hướng phân cấp mạnh về Ngân hàng Nhà nước khu vực, tạo thuận lợi hơn khi đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông. Đáng chú ý, dự thảo bổ sung căn cứ xét đổi đối với tiền polymer bị cháy, co biến dạng còn tối thiểu 30% diện tích.
Mastercard và MDP công bố hợp tác chiến lược

Mastercard và MDP công bố hợp tác chiến lược

(TBTCO) - Mastercard và Công ty cổ phần Thanh toán số - MDP chính thức công bố hợp tác chiến lược nhằm nâng cấp hạ tầng tài chính và thúc đẩy các sáng kiến về thanh toán số. Sự kiện đánh dấu bước đi quan trọng trong việc đón đầu nhu cầu chuyển đổi số thông qua cung ứng các giải pháp thanh toán bảo mật, theo thời gian thực (real-time payment), đảm bảo kết nối thông suốt giữa mạng lưới thanh toán nội địa của Việt Nam và hệ thống thanh toán toàn cầu của Mastercard, tạo động lực tăng trưởng bền vững cho nền kinh tế số quốc gia.
Tỷ giá USD hôm nay (14/5): USD tự do áp về sát ngân hàng, DXY lấy lại đà tăng khi Fed sắp có tân Chủ tịch

Tỷ giá USD hôm nay (14/5): USD tự do áp về sát ngân hàng, DXY lấy lại đà tăng khi Fed sắp có tân Chủ tịch

(TBTCO) - Sáng ngày 14/5, tỷ giá trung tâm ở mức 25.126 đồng, tăng 3 đồng; USD tự do giao dịch quanh 26.370 - 26.400 VND/USD và thu hẹp đáng kể chênh lệch bán ra với ngân hàng thương mại. Chỉ số DXY ở mức 98,46 điểm, phục hồi đáng kể nhờ dữ liệu lạm phát Mỹ vượt dự báo, củng cố kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ duy trì lãi suất cao lâu hơn dưới thời tân Chủ tịch Kevin Warsh.
SSI Research cảnh báo áp lực “đua” huy động vốn nếu áp trần CDR ngay

SSI Research cảnh báo áp lực “đua” huy động vốn nếu áp trần CDR ngay

Đánh giá tác động của Thông tư thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, SSI Research cho rằng, điểm đáng lo ngại nằm ở trần tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn (CDR) 85%, khi quy định này có thể buộc nhiều ngân hàng có CDR cao cạnh tranh quyết liệt để huy động vốn thị trường 1, làm chậm tăng trưởng tín dụng hoặc phát hành thêm chứng chỉ tiền gửi/trái phiếu dài hạn.
Lộ diện các ngân hàng chia cổ tức tiền mặt “khủng”

Lộ diện các ngân hàng chia cổ tức tiền mặt “khủng”

(TBTCO) - Ba ngân hàng gồm LPBank, Techcombank và VPBank vừa đồng loạt công bố ngày chốt danh sách cổ đông để chi trả cổ tức tiền mặt trong tháng 5, với tổng số tiền dự kiến gần 18.000 tỷ đồng. Bên cạnh đó, 4 ngân hàng khác cũng dự kiến chia cổ tức bằng tiền mặt, nâng tổng quy mô chi trả của 7 nhà băng lên 35.783 tỷ đồng, mức cao trong nhiều năm.
CEO TPBank: Làm chủ trí tuệ nhân tạo là cách hữu hiệu để bảo vệ niềm tin số

CEO TPBank: Làm chủ trí tuệ nhân tạo là cách hữu hiệu để bảo vệ niềm tin số

(TBTCO) - Tại diễn đàn Diễn đàn Digital Trust in Finance 2026, ông Nguyễn Hưng - Tổng Giám đốc TPBank khẳng định: “Trong kỷ nguyên AI, ngành ngân hàng vốn kinh doanh dựa trên niềm tin và uy tín suốt hàng trăm năm qua, giờ đây cần nỗ lực hơn nữa để khẳng định "vị thế tiên phong trong việc bảo vệ niềm tin số" cho khách hàng”. Và việc sử dụng AI hiệu quả, khai thác tối đa lợi ích trong khi giảm thiểu những “mặt tối” của AI, chính là cách thức hữu hiệu để bảo vệ tài sản và sự an tâm của người dùng.
TH chung tay nâng tầm phúc lợi và sức khỏe người lao động ngành ngân hàng

TH chung tay nâng tầm phúc lợi và sức khỏe người lao động ngành ngân hàng

(TBTCO) - Sáng 13/5, tại Hà Nội, Tập đoàn TH và Công đoàn Ngân hàng Việt Nam ký kết Thỏa thuận hợp tác triển khai Chương trình phúc lợi cho đoàn viên, người lao động, đánh dấu bước đi đột phá trong việc chăm sóc sức khỏe thể chất và tinh thần cho đội ngũ đoàn viên, người lao động toàn hệ thống ngành ngân hàng.
Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu

Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu

(TBTCO) - Sau làn sóng giảm lãi suất đồng loạt hồi đầu tháng 4 theo định hướng của Ngân hàng Nhà nước, việc hạ lãi suất dần chững lại khi phần lớn ngân hàng “án binh bất động”. Trong bối cảnh tín dụng tăng tốc trở lại, áp lực thanh khoản, lạm phát, tỷ giá hiện hữu, cùng lộ trình siết chuẩn theo Basel III khiến dư địa giảm lãi suất khó hơn.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,200 16,500
Kim TT/AVPL 16,200 16,500
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,200 16,500
Nguyên Liệu 99.99 15,300 15,500
Nguyên Liệu 99.9 15,250 15,450
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,000 16,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,950 16,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,880 16,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,000 165,000
Hà Nội - PNJ 162,000 165,000
Đà Nẵng - PNJ 162,000 165,000
Miền Tây - PNJ 162,000 165,000
Tây Nguyên - PNJ 162,000 165,000
Đông Nam Bộ - PNJ 162,000 165,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,200 16,500
Miếng SJC Nghệ An 16,200 16,500
Miếng SJC Thái Bình 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,200 16,500
NL 99.90 15,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,100
Trang sức 99.9 15,690 16,390
Trang sức 99.99 15,700 16,400
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 162 16,502
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 162 16,503
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,618 1,648
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,618 1,649
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,598 1,633
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,183 161,683
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 113,737 122,637
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,305 111,205
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,873 99,773
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,463 95,363
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,353 68,253
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Cập nhật: 14/05/2026 21:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18557 18834 19410
CAD 18685 18963 19579
CHF 33040 33426 34072
CNY 0 3842 3934
EUR 30210 30484 31509
GBP 34791 35184 36118
HKD 0 3233 3435
JPY 160 164 170
KRW 0 16 18
NZD 0 15327 15915
SGD 20149 20432 20955
THB 730 793 847
USD (1,2) 26081 0 0
USD (5,10,20) 26122 0 0
USD (50,100) 26150 26170 26382
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,132 26,132 26,382
USD(1-2-5) 25,087 - -
USD(10-20) 25,087 - -
EUR 30,414 30,438 31,732
JPY 162.74 163.03 171.99
GBP 35,074 35,169 36,213
AUD 18,821 18,889 19,510
CAD 18,911 18,972 19,575
CHF 33,384 33,488 34,303
SGD 20,316 20,379 21,083
CNY - 3,818 3,944
HKD 3,304 3,314 3,435
KRW 16.34 17.04 18.45
THB 778.51 788.13 839.31
NZD 15,344 15,486 15,866
SEK - 2,787 2,871
DKK - 4,070 4,193
NOK - 2,832 2,917
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,280.96 - 7,057.03
TWD 756.58 - 911.95
SAR - 6,919.69 7,251.69
KWD - 83,906 88,827
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,122 26,142 26,382
EUR 30,280 30,402 31,584
GBP 34,995 35,136 36,146
HKD 3,295 3,308 3,423
CHF 33,108 33,241 34,179
JPY 162.87 163.52 170.92
AUD 18,735 18,810 19,404
SGD 20,338 20,420 21,005
THB 795 798 833
CAD 18,863 18,939 19,513
NZD 15,368 15,903
KRW 16.94 18.59
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26212 26212 26382
AUD 18744 18844 19772
CAD 18867 18967 19982
CHF 33296 33326 34909
CNY 3823 3848 3983.1
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30397 30427 32152
GBP 35105 35155 36916
HKD 0 3355 0
JPY 163.33 163.83 174.36
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15440 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20310 20440 21168
THB 0 759.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16200000 16200000 16500000
SBJ 14000000 14000000 16500000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,174 26,224 26,382
USD20 26,174 26,224 26,382
USD1 26,174 26,224 26,382
AUD 18,784 18,884 19,991
EUR 30,538 30,538 31,947
CAD 18,810 18,910 20,217
SGD 20,381 20,531 21,485
JPY 163.8 165.3 169.83
GBP 34,970 35,320 36,195
XAU 16,198,000 0 16,502,000
CNY 0 3,731 0
THB 0 795 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 14/05/2026 21:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80