Agribank tích cực hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp

(TBTCO) - Phát huy trách nhiệm của Ngân hàng thương mại giữ vai trò chủ lực trên thị trường tài chính, Agribank triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp, góp phần tích cực phát triển kinh tế tư nhân - khu vực đóng góp tới 50% GDP và đang ngày càng thể hiện vai trò chủ lực trong nền kinh tế Việt Nam.
aa

Nâng tầm hộ kinh doanh thúc đẩy phát triển nền kinh tế

Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân (Nghị quyết 68) nhấn mạnh, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, là lực lượng tiên phong trong phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo.

Nghị quyết là một “trụ cột chính sách” trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân - khu vực ngày càng đóng vai trò chủ lực trong nền kinh tế Việt Nam. Các giải pháp hỗ trợ được đề ra trong Nghị quyết 68 góp phần thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp theo hướng tích cực hơn, từ đó làm gia tăng nhu cầu tín dụng một cách “lành mạnh”.

Với mục tiêu đạt 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030, một trong những trọng tâm của Nghị quyết 68 là chuyển đổi hàng triệu hộ kinh doanh hiện có thành doanh nghiệp chính thức, đặc biệt là nhóm siêu nhỏ - vốn chiếm tỷ trọng lớn nhưng chưa được “định danh” trong hệ thống doanh nghiệp.

Agribank tích cực hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp
Agribank dành ưu đãi lớn cho hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp.

Để đạt được mục tiêu này, Nghị quyết đã đề ra nhiều giải pháp, trong đó có các chính sách ưu đãi thiết thực nhằm khuyến khích hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp như: miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm đầu, miễn lệ phí môn bài năm đầu tiên, hỗ trợ giảm 30% tiền thuê đất trong 5 năm.

Việt Nam hiện có hơn 5 triệu hộ kinh doanh đang hoạt động, trong đó rất nhiều hộ đã phát triển ở quy mô giống như doanh nghiệp như: có cửa hàng, thuê nhân viên, sử dụng hóa đơn điện tử, vận hành hệ thống bán hàng.

Từ năm 2024, những thay đổi trong chính sách thuế và nhu cầu mở rộng thị trường, ký hợp đồng lớn, tiếp cận vốn vay hay triển khai hóa đơn điện tử… buộc các hộ kinh doanh phải thay đổi một cách toàn diện. Bên cạnh đó, khi Nghị định số 70/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 123/2020/NĐ-CP quy định về hóa đơn, chứng từ chính thức có hiệu lực từ ngày 1/6/2025 (Nghị định 70/2025), việc chuyển đổi mô hình hoạt động hộ kinh doanh sang doanh nghiệp càng trở nên cấp thiết.

Theo Nghị định 70, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh có doanh thu từ 1 tỷ đồng/năm trở lên và doanh nghiệp có hoạt động bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ trực tiếp đến người tiêu dùng phải sử dụng hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền kết nối chuyển dữ liệu điện tử với cơ quan thuế.

Các chuyên gia kinh tế đánh giá, việc chuyển đổi từ hộ kinh doanh sang mô hình doanh nghiệp không chỉ nhằm tuân thủ quy định pháp lý, mà còn mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho chính người kinh doanh. Chuyển đổi này góp phần thúc đẩy tăng trưởng khu vực kinh tế tư nhân, nâng cao năng lực cạnh tranh.

Dành nhiều ưu đãi lớn cho hộ kinh doanh chuyển lên doanh nghiệp

Một trong số các nhiệm vụ, giải pháp để thực hiện hiệu quả Nghị quyết 68 là đẩy mạnh và đa dạng hoá nguồn vốn cho kinh tế tư nhân. Nghị quyết 68 khuyến khích các ngân hàng trở thành đối tác chiến lược của doanh nghiệp, tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận vốn, chuyển đổi số và phát triển bền vững.

Hiện nay, cả nước có khoảng hơn 940 nghìn doanh nghiệp tư nhân và hơn 5 triệu hộ kinh doanh đang hoạt động, chiếm hơn 97% tổng số doanh nghiệp, đóng góp khoảng 50% GDP, hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước và tạo việc làm cho hàng triệu lao động, ngành Ngân hàng xác định vai trò của các tổ chức tín dụng không chỉ dừng lại ở việc cung ứng tín dụng mà còn là đối tác đồng hành dài hạn, gắn bó thủy chung với doanh nghiệp để cùng nhau phát triển bền vững.

Agribank tích cực hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp

Là ngân hàng thương mại hàng đầu, Agribank luôn xác định rõ vai trò tiên phong trong thực thi các chỉ đạo, chính sách của Đảng, Nhà nước. Đồng hành, hỗ trợ các hộ kinh doanh cá thể chuyển đổi mô hình hoạt động và nâng cao năng lực cạnh tranh, theo đó, Agribank triển khai chương trình ưu đãi “Chuyển đổi bứt phá - Nâng tầm doanh nghiệp”. Chương trình diễn ra từ ngày 15/7/2025 đến hết ngày 15/7/2026, dành cho hộ kinh doanh thực hiện chuyển đổi thành doanh nghiệp từ ngày 1/1/2025 và doanh nghiệp lần đầu mở tài khoản thanh toán tại Agribank.

Với mong muốn đồng hành cùng khách hàng trong giai đoạn chuyển đổi mô hình hoạt động, Agribank dành nhiều ưu đãi thiết thực trong 12 tháng kể từ ngày khách hàng tham gia chương trình. Theo đó, khi tham gia chương trình, khách hàng sẽ được miễn phí quản lý tài khoản, miễn phí dịch vụ ngân hàng điện tử (Agribank Corporate eBanking), tặng gói Giải pháp quản lý bán hàng 1POS và Giải pháp hóa đơn điện tử Invoice giúp các đơn vị nâng cao hiệu quả hoạt động và quản trị tài chính một cách hiệu quả, thuận tiện, hiện đại hơn.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa còn nhận được các ưu đãi lãi suất vay vốn với mức giảm 0,8%/năm - 1,2%/năm so với sàn lãi suất cho vay thông thường, hình thức cấp vốn linh hoạt

Đầu năm 2025, Agribank cũng đã triển khai Chương trình “Hưng thịnh cùng doanh nghiệp SMEs năm 2025”, tài trợ 60.000 tỷ đồng vốn ưu đãi ngắn hạn với lãi suất thấp hơn so với sàn lãi suất cho vay thông thường đến 1,2%/năm.

Chương trình không chỉ đáp ứng nhu cầu vốn lưu động thường xuyên của khách hàng mà còn cung cấp cho khách hàng SMEs những tư vấn giải pháp tài chính toàn diện, đáp ứng mọi nhu cầu hoạt động sản xuất kinh doanh như dịch vụ thanh toán và quản lý dòng tiền, dịch vụ tài trợ thương mại… trên các kênh cung cấp sản phẩm đa dạng. Những khách hàng SMEs lần đầu tiên giao dịch tại Agribank cũng được hưởng những chính sách ưu đãi lãi suất ưu việt, hỗ trợ doanh nghiệp có nguồn vốn ổn định để hoạt động kinh doanh.

Ngoài ra, doanh nghiệp SMEs hoạt động xuất nhập khẩu có thể tham gia chương trình tín dụng ưu đãi dành cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu với nhiều ưu đãi về lãi suất, tỷ giá, phí dịch vụ và tỷ giá mua bán ngoại tệ. Doanh nghiệp SMEs đang trong quá trình đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, chuyển đổi số hay đầu tư các dự án xanh được hỗ trợ nguồn vốn ưu đãi tới 24 tháng.

Những nỗ lực của Agribank không chỉ góp phần thúc đẩy sự phát triển của kinh tế tư nhân, đặc biệt là khu vực hộ kinh doanh và SMEs, mà còn góp phần quan trọng vào việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế đất nước trong dài hạn. Agribank từng bước khẳng định vị thế và thương hiệu ngân hàng thương mại hàng đầu Việt Nam, chủ lực đầu tư phát triển kinh tế “tam nông”, đóng góp quan trọng đối với sự phát triển kinh tế đất nước.

Ưu đãi tài chính thiết thực, sẵn sàng hỗ trợ khách hàng trong giai đoạn chuyển đổi, cam kết đồng hành cùng SMEs phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh, Agribank đang nỗ lực góp phần thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân phát triển hiệu quả, góp phần thực hiện chủ trương phát triển kinh tế đất nước.

Với sứ mệnh phục vụ “tam nông”, Agribank ưu tiên đầu tư tín dụng vào các lĩnh vực thiết yếu, phát triển ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và các dự án thuộc lĩnh vực xanh.

Agribank tích cực tham gia và được “định vị” là Ngân hàng chủ lực, tiên phong đối với các đề án quan trọng như Đề án phát triển bền vững 1 triệu héc-ta lúa chuyên canh chất lượng cao, phát thải thấp, góp phần vào sự phát triển nông nghiệp bền vững của đất nước.

Tỷ trọng cho vay ở khu vực “tam nông” của Agribank luôn ở mức cao (trên 65%), thể hiện cam kết mạnh mẽ với sứ mệnh của mình. Agribank nỗ lực đa dạng hóa kênh dẫn vốn, đưa dịch vụ ngân hàng đến tận tay người dân, giúp người dân tránh bẫy tín dụng đen, đặc biệt là ở khu vực nông thôn, vùng sâu vùng xa; đồng thời tích cực triển khai các giải pháp công nghệ phục vụ nhu cầu thanh toán dễ dàng, nhanh chóng, tiện lợi của khách hàng, hỗ trợ khách hàng tiếp cận tài chính số, lan tỏa phương thức thanh toán không dùng tiền mặt, góp phần thực hiện tài chính toàn diện.

Bên cạnh đó, Agribank thường xuyên thực hiện giảm lãi suất cho vay, cơ cấu lại thời hạn trả nợ và cho vay mới để hỗ trợ các doanh nghiệp vượt qua khó khăn, đặc biệt là trong bối cảnh kinh tế biến động./.

Bài và ảnh: Phương Liên

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm doanh thu, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số doanh nghiệp.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các doanh nghiệp dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

(TBTCO) - Theo VIS Rating, điều kiện huy động tiếp tục thắt chặt, với tăng trưởng tiền gửi toàn hệ thống chỉ đạt 0,6%, trong bối cảnh nợ xấu gia tăng, lãi suất và đòn bẩy cao kéo dài đang tạo áp lực lên ngành ngân hàng. Từ đó, xu hướng thu hẹp NIM và chi phí tín dụng gia tăng dự kiến sẽ tiếp diễn.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và thương mại. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 15,750
Kim TT/AVPL 15,450 15,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 15,750
Nguyên Liệu 99.99 14,400 14,600
Nguyên Liệu 99.9 14,350 14,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 15,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 15,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 15,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 157,500
Hà Nội - PNJ 154,500 157,500
Đà Nẵng - PNJ 154,500 157,500
Miền Tây - PNJ 154,500 157,500
Tây Nguyên - PNJ 154,500 157,500
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 157,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 15,750
Miếng SJC Nghệ An 15,450 15,750
Miếng SJC Thái Bình 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 15,750
NL 99.90 14,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100
Trang sức 99.9 14,940 15,640
Trang sức 99.99 14,950 15,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 15,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 15,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 1,573
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 1,574
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 1,558
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 154,257
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 117,012
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 106,105
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 95,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 9,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 65,125
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cập nhật: 29/05/2026 01:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/05/2026 01:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80