"Cửa hé" sản xuất vàng miếng, loạt doanh nghiệp và ngân hàng lớn đồng loạt lên tiếng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đang hoàn thiện dự thảo sửa đổi Nghị định 24 về kinh doanh vàng, trong đó điểm mới đáng chú ý là "hé cửa" cho phép cấp phép sản xuất vàng miếng. Quy định về ngưỡng vốn điều lệ và các điều kiện kèm theo đang thu hút nhiều ý kiến góp ý từ doanh nghiệp, ngân hàng và bộ, ngành.
aa
Sửa đổi Nghị định 24 sẽ "đánh thức" nguồn lực đang chôn trong vàng Hết thời độc quyền vàng miếng, thị trường bước vào cuộc chơi mới Ngân hàng Nhà nước giải mã mức chênh lệch giá vàng nới rộng kỷ lục

Theo thông tin từ Ngân hàng Nhà nước, hồ sơ dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 24/2012/NĐ-CP ngày 3/4/2012 quy định về hoạt động kinh doanh vàng hiện đang được Bộ Tư pháp tổ chức thẩm định, để trình Chính phủ đúng thời hạn theo chỉ đạo.

Tranh luận ngưỡng vốn điều lệ tối thiểu

Dự thảo nghị định lần này có điểm mới đáng chú ý là bổ sung điều kiện cấp phép sản xuất vàng miếng đối với doanh nghiệp và ngân hàng thương mại khi đáp ứng đầy đủ 4 điều kiện.

Một là, có giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng. Hai là, có vốn điều lệ từ 1.000 tỷ đồng trở lên đối với doanh nghiệp hoặc 50.000 tỷ đồng trở lên đối với ngân hàng thương mại.

Ba là, không bị xử phạt vi phạm hành chính về hoạt động kinh doanh vàng, hoặc bị xử phạt nhưng đã thực hiện xong các biện pháp khắc phục hậu quả theo quyết định xử phạt vi phạm hành chính, các kiến nghị có thời hạn thực hiện tại kết luận thanh tra, kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (nếu có). Bốn là, có quy trình nội bộ về sản xuất vàng miếng.

Theo số liệu trong hồ sơ thẩm định, tính đến cuối quý I/2025, cả nước có 38 doanh nghiệp và tổ chức tín dụng được cấp phép kinh doanh mua, bán vàng miếng. Khi đối chiếu với các quy định nêu trên tại dự thảo, chỉ có 3 doanh nghiệp đáp ứng điều kiện vốn điều lệ từ 1.000 tỷ đồng trở lên, gồm: SJC, PNJ và DOJI. Về phía ngân hàng, có 7 ngân hàng thương mại đáp ứng điều kiện vốn điều lệ trên 50.000 tỷ đồng, bao gồm 4 "ông lớn" quốc doanh: Vietcombank, BIDV, VietinBank, Agribank, cùng 3 ngân hàng tư nhân: MB, VPBank và Techcombank.

Gửi ý kiến đến ban soạn thảo, Bộ Công thương đề nghị làm rõ tại sao lựa chọn mức vốn điều lệ là 1.000 tỷ đồng đối với doanh nghiệp; 50.000 tỷ đồng đối với tổ chức tín dụng. "Tại sao cùng một hoạt động sản xuất nhưng với loại hình doanh nghiệp khác nhau lại có chênh lệch mức vốn là 50 lần. Việc lựa chọn mức vốn này có dẫn đến chỉ lựa chọn một số đối tượng cụ thể hay không" - Bộ Công thương đặt vấn đề.

Bộ Công an cũng đề nghị đánh giá tình hình vốn điều lệ của các doanh nghiệp, tổ chức tín dụng hiện đang hoạt động để đưa ra quy định phù hợp.

Riêng Bảo Tín Mạnh Hải góp ý thêm về việc bổ sung thêm các điều kiện về hiệu quả kinh doanh và kênh phân phối để bảo đảm sàng lọc được doanh nghiệp vừa có năng lực tài chính, kinh doanh hiệu quả và có kênh phân phối chủ động.

Ảnh minh hoạ

Vốn điều lệ doanh nghiệp được công khai, dễ kiểm soát

"Vốn điều lệ của doanh nghiệp là một trong những nội dung thể hiện tại Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và được công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Do đó, các cơ quan có thể tiếp cận thông tin để phục vụ công tác quản lý. Các doanh nghiệp, ngân hàng thương mại được cấp phép sản xuất vàng miếng có trách nhiệm tuân thủ các quy định về kiểm toán định kỳ, công bố báo cáo tài chính theo quy định" - Ngân hàng Nhà nước nêu rõ.

Phản hồi nội dung này, Ngân hàng Nhà nước cho rằng, việc xây dựng điều kiện cấp phép nhằm lựa chọn các doanh nghiệp, ngân hàng thương mại có đủ năng lực tài chính, tuân thủ pháp luật về hoạt động kinh doanh vàng.

"Ngân hàng thương mại là loại hình doanh nghiệp đặc biệt và thường có quy mô vốn điều lệ cao hơn so với các loại hình doanh nghiệp khác. Do đó, quy định điều kiện về vốn đối với ngân hàng thương mại cần phù hợp với đặc điểm của loại hình doanh nghiệp này và không đặt trong tương quan với điều kiện về vốn đối với các doanh nghiệp chỉ hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh mua, bán vàng" - Ngân hàng Nhà nước làm rõ.

Bên cạnh đó, theo ban soạn thảo, quy định về quy mô vốn điều lệ và kinh nghiệm hoạt động kinh doanh mua, bán vàng miếng là cơ sở cần thiết để doanh nghiệp, ngân hàng thương mại có thể bắt tay ngay vào hoạt động sản xuất vàng miếng khi được cấp Giấy phép sản xuất vàng miếng.

Được phép thuê gia công sản xuất vàng miếng

Nhiều đơn vị cũng đề nghị Ngân hàng Nhà nước làm rõ khái niệm hoạt động “sản xuất vàng miếng”, khi được cấp giấy phép có thể thuê/giao cho doanh nghiệp, tổ chức tín dụng khác để sản xuất ra vàng miếng và bên được cấp phép vẫn chịu trách nhiệm đối với việc sản xuất vàng miếng này. Đồng thời, đề xuất cho phép doanh nghiệp, tổ chức tín dụng sản xuất vàng miếng được thuê sản xuất, gia công vàng miếng ở nước ngoài.

Phản hồi về vấn đề này, theo Ngân hàng Nhà nước, các doanh nghiệp, ngân hàng thương mại chịu hoàn toàn trách nhiệm về vàng miếng do mình sản xuất, thuê gia công và phải công bố tiêu chuẩn áp dụng, khối lượng, hàm lượng vàng miếng do mình sản xuất, thuê gia công.

Theo đại diện DOJI và SJC, do liên quan đến hoạt động sản xuất, vì vậy ngoài các điều kiện về vốn, bắt buộc doanh nghiệp, tổ chức tín dụng phải có địa điểm, cơ sở vật chất, máy móc, trang thiết bị, công cụ cần thiết phục vụ cho hoạt động sản xuất vàng miếng.

Cũng theo Ngân hàng Nhà nước, tại điều kiện cấp phép tại Điều 11a không quy định về điều kiện cơ sở vật chất, máy móc, trang thiết bị, công cụ. "Tổ chức được cấp phép tự tổ chức việc sản xuất hoặc nhập khẩu vàng miếng" - Ngân hàng Nhà nước nêu rõ.

Về việc xem xét doanh nghiệp có bị xử phạt vi phạm hành chính hay không, về phía các đơn vị như: MSB, VietinBank, PNJ cho rằng, chỉ nên tiến hành trong khoảng thời gian nhất định trước thời điểm xem xét cấp Giấy phép sản xuất vàng miếng, tránh trường hợp doanh nghiệp không được cấp Giấy phép chỉ vì từng bị xử phạt vi phạm hành chính trước đó nhiều năm.

Cùng chung quan điểm, TPBank và DOJI cùng kiến nghị bổ sung thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, ví dụ “trong thời hạn 3 năm tính đến thời điểm nộp hồ sơ xin cấp phép, không bị xử phạt vi phạm hành chính về hoạt động kinh doanh vàng”.

Cùng với đó, việc đưa ra quy định “đã thực hiện xong các biện pháp khắc phục” có vẻ tạo điều kiện tháo gỡ cho doanh nghiệp, tổ chức tín dụng, tuy nhiên thực tế vận hành sẽ vướng mắc do chưa làm rõ thế nào là “thực hiện xong các biện pháp”, liệu doanh nghiệp, tổ chức tín dụng có được tự mình khẳng định rằng đã khắc phục xong, hay cần phải có ai đó, cơ quan có thẩm quyền xác định, quyết định. Tiếp thu ý kiến các đơn vị, ban soạn thảo bổ sung cụm từ "có thời hạn" vào quy định này./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Chi trả gần 16.500 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm năm 2025: Prudential Việt Nam xây dựng niềm tin từ năng lực thực thi

Chi trả gần 16.500 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm năm 2025: Prudential Việt Nam xây dựng niềm tin từ năng lực thực thi

(TBTCO) - Với tổng chi trả quyền lợi bảo hiểm và các quyền lợi khác đạt 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, tương đương khoảng 25% tổng chi trả toàn ngành bảo hiểm nhân thọ, Prudential Việt Nam cho thấy năng lực thực hiện cam kết dài hạn đang trở thành thước đo quan trọng của niềm tin trong ngành bảo hiểm.
Bùng nổ ưu đãi lớn dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại VietinBank

Bùng nổ ưu đãi lớn dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại VietinBank

(TBTCO) - Chào đón các khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) mới trong năm 2026, VietinBank triển khai loạt ưu đãi “kép” cho cả dịch vụ mở tài khoản eKYC, tiền gửi và tài trợ thương mại.
Ngân hàng có thể “né” áp lực vượt trần tỷ lệ CDR 85%, khi tuân thủ sớm 100% nhiều chuẩn Basel III

Ngân hàng có thể “né” áp lực vượt trần tỷ lệ CDR 85%, khi tuân thủ sớm 100% nhiều chuẩn Basel III

Theo đánh giá của nhóm phân tích ACBS, việc chuyển từ tỷ lệ LDR sang CDR có thể khiến nhiều ngân hàng vượt ngưỡng 85%, song tác động tới thanh khoản và tăng trưởng tín dụng được cho là không quá lớn. Bởi ngân hàng có thể lựa chọn áp dụng tỷ lệ CDR hoặc tuân thủ sớm các chuẩn Basel III như LCR và NSFR ở mức 100%, qua đó không cần tuân thủ tỷ lệ CDR.
Tỷ giá USD hôm nay (11/5): Tỷ giá trung tâm tăng, USD tự do tiếp đà giảm

Tỷ giá USD hôm nay (11/5): Tỷ giá trung tâm tăng, USD tự do tiếp đà giảm

(TBTCO) - Trong phiên đầu tuần sáng ngày 11/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.118 đồng, tăng 6 đồng, trong khi USD tự do giảm 30 đồng, xuống 26.420 - 26.470 VND/USD. Chỉ số DXY ở mức 97,9 điểm, khi căng thẳng Trung Đông có dấu hiệu hạ nhiệt, song thị trường vẫn thận trọng trước những bất định về khả năng đạt được thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
9 năm liên tiếp Top 100 Doanh nghiệp Phát triển Bền vững: Prudential Việt Nam kiên định với giá trị dài hạn

9 năm liên tiếp Top 100 Doanh nghiệp Phát triển Bền vững: Prudential Việt Nam kiên định với giá trị dài hạn

(TBTCO) - Gần 27 năm hiện diện tại Việt Nam, Prudential không chỉ là một trong những doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ nước ngoài hàng đầu, mà còn là người bạn đồng hành bền bỉ trên hành trình xây dựng cuộc sống yên tâm và bền vững của hàng triệu gia đình Việt.
Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ghi nhận chi trả quyền lợi bảo hiểm lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, duy trì biên khả năng thanh toán trên 200% và đứng đầu thị trường về chỉ số rNPS – Prudential Việt Nam đang cho thấy niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ không đến từ quảng cáo, mà được xây dựng bằng năng lực thực hiện cam kết dài hạn với khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 9/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do giảm sâu gần 300 đồng sau một tuần. Chỉ số DXY chốt tuần tại 97,86 điểm, giảm 0,19%, khi căng thẳng Trung Đông có tín hiệu hạ nhiệt, dù vẫn nhiều bất định để đạt thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Chứng khoán MBS dự báo áp lực lên tỷ giá quý II/2026, mức biến động quanh 26.350 - 26.700 đồng

Chứng khoán MBS dự báo áp lực lên tỷ giá quý II/2026, mức biến động quanh 26.350 - 26.700 đồng

(TBTCO) - Theo đánh giá của Chứng khoán MBS, tỷ giá USD/VND tháng 4/2026 tương đối ổn định, tuy nhiên, áp lực vẫn hiện hữu khi giá dầu neo cao do căng thẳng Trung Đông tiếp tục thúc đẩy đà tăng đồng USD, Fed dự báo trì hoãn giảm lãi suất hết năm 2027 và thặng dư thương mại trong nước thu hẹp. Tỷ giá USD quý II/2026 dự báo dao động quanh 26.350 - 26.700 VND/USD.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,220 16,520
Kim TT/AVPL 16,220 16,520
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,220 16,520
Nguyên Liệu 99.99 15,240 15,440
Nguyên Liệu 99.9 15,190 15,390
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,020 16,420
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,970 16,370
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,900 16,350
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,200 165,200
Hà Nội - PNJ 162,200 165,200
Đà Nẵng - PNJ 162,200 165,200
Miền Tây - PNJ 162,200 165,200
Tây Nguyên - PNJ 162,200 165,200
Đông Nam Bộ - PNJ 162,200 165,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,220 16,520
Miếng SJC Nghệ An 16,220 16,520
Miếng SJC Thái Bình 16,220 16,520
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,220 16,520
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,220 16,520
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,220 16,520
NL 99.90 15,070
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,120
Trang sức 99.9 15,710 16,410
Trang sức 99.99 15,720 16,420
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,622 16,522
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,622 16,523
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,617 1,647
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,617 1,648
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,598 1,633
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,183 161,683
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 113,737 122,637
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,305 111,205
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,873 99,773
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,463 95,363
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,353 68,253
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Cập nhật: 12/05/2026 04:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18508 18785 19360
CAD 18720 18998 19613
CHF 33135 33521 34161
CNY 0 3832 3924
EUR 30334 30608 31632
GBP 34984 35378 36308
HKD 0 3231 3433
JPY 160 164 171
KRW 0 16 18
NZD 0 15332 15919
SGD 20183 20467 20990
THB 727 790 843
USD (1,2) 26057 0 0
USD (5,10,20) 26098 0 0
USD (50,100) 26127 26146 26373
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,373
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,507 30,531 31,827
JPY 163.47 163.76 172.76
GBP 35,220 35,315 36,352
AUD 18,751 18,819 19,433
CAD 18,933 18,994 19,595
CHF 33,489 33,593 34,402
SGD 20,354 20,417 21,118
CNY - 3,809 3,934
HKD 3,303 3,313 3,434
KRW 16.52 17.23 18.65
THB 775.61 785.19 835.94
NZD 15,351 15,494 15,880
SEK - 2,806 2,891
DKK - 4,082 4,205
NOK - 2,822 2,907
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,278.17 - 7,052.17
TWD 758.72 - 914.54
SAR - 6,914.01 7,245.8
KWD - 83,853 88,772
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,113 26,133 26,373
EUR 30,412 30,534 31,718
GBP 35,165 35,306 36,318
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 33,244 33,378 34,322
JPY 163.72 164.38 171.86
AUD 18,691 18,766 19,358
SGD 20,403 20,485 21,073
THB 794 797 832
CAD 18,884 18,960 19,535
NZD 15,424 15,960
KRW 17.16 18.86
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26373
AUD 18703 18803 19726
CAD 18907 19007 20021
CHF 33405 33435 35014
CNY 3813.5 3838.5 3973.6
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30531 30561 32283
GBP 35303 35353 37114
HKD 0 3355 0
JPY 164.06 164.56 175.07
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15452 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20351 20481 21214
THB 0 756.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16220000 16220000 16520000
SBJ 14000000 14000000 16520000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,130 26,180 26,373
USD20 26,130 26,180 26,373
USD1 26,130 26,180 26,373
AUD 18,723 18,823 19,950
EUR 30,647 30,647 32,090
CAD 18,815 18,915 20,243
SGD 20,428 20,578 21,490
JPY 164.57 166.07 170.77
GBP 35,157 35,507 36,656
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 795 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 12/05/2026 04:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80