TCLife gia nhập thị trường, ngân hàng đua làm chủ trong lĩnh vực bảo hiểm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm vừa đón thêm "tân binh" là Công ty cổ phần Bảo hiểm Nhân thọ Kỹ thương (TCLife), phản ánh xu hướng ngày càng rõ nét khi nhiều ngân hàng muốn chuyển từ hợp tác sang làm chủ doanh nghiệp bảo hiểm. Bước đi này nhằm hoàn thiện hệ sinh thái tài chính, tạo động lực tăng trưởng mới và nguồn thu mới cho các nhà băng.
aa
"Ông lớn" ngân hàng sắp thành lập công ty bảo hiểm nhân thọ vốn tối thiểu 1.300 tỷ đồng Thị trường bảo hiểm khởi sắc với doanh thu phí tăng 5,4%, ngân hàng đồng loạt nhập cuộc Thị trường bảo hiểm nhìn từ sự nhập cuộc của "người chơi mới"

Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank - Mã Ck: TCB) vừa công bố việc Bộ Tài chính đã cấp giấy phép số 100/GP/KDBH ngày 16/7 cho Công ty Cổ phần Bảo hiểm Nhân thọ Kỹ thương (TCLife).

Từ hợp tác sang làm chủ, kỳ vọng lãi lớn từ năm thứ ba

Theo kế hoạch đã được Hội đồng quản trị Techcombank thông qua từ tháng 3/2025, ngân hàng Techcombank sẽ góp 80% vốn (1.040 tỷ đồng) vào TCLife, phần còn lại thuộc các doanh nghiệp trong hệ sinh thái Vingroup.

TCLife có vốn điều lệ 1.300 tỷ đồng, do ông Chung Bá Phương làm Tổng Giám đốc kiêm người đại diện pháp luật. Trụ sở công ty đặt tại Tòa C5 D’Capitale, 119 Trần Duy Hưng, phường Yên Hoà, Hà Nội. Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe, tái bảo hiểm và nhượng tái bảo hiểm.

Techcombank dự kiến TCLife sẽ bắt đầu có lãi từ năm thứ ba với lợi nhuận ròng 605 tỷ đồng. Sau 6 năm, ngân hàng kỳ vọng thu về 1.195 tỷ đồng lợi nhuận, tương ứng tỷ suất sinh lời 23,4%.

Tổng tài sản của TCLife cũng được dự báo tăng từ 728 tỷ đồng năm đầu lên hơn 16.000 tỷ đồng vào năm thứ 5.

TCLife gia nhập thị trường, ngân hàng đua làm chủ trong lĩnh vực bảo hiểm
Nguồn: Techcombank.

Trước đó, vào tháng 10/2024, Techcombank cũng thành lập Công ty cổ phần Bảo hiểm Phi nhân thọ Techcom (TCGIns), trở thành thành viên thứ 31 của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam. Doanh nghiệp này cung cấp các sản phẩm như bảo hiểm tài sản; bảo hiểm các lĩnh vực hàng hóa vận chuyển, hàng không, xe cơ giới và các loại nghiệp vụ bảo hiểm sức khỏe...

Chia sẻ tại buổi gặp gỡ nhà đầu tư cá nhân, công bố kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm 2025 chiều ngày 23/7, đại diện Techcombank cho rằng, việc TCLife được Bộ Tài chính cấp phép thành lập là cột mốc quan trọng trong quá trình mở rộng hoạt động kinh doanh bảo hiểm của ngân hàng, sau khi Techcombank hoàn tất tăng vốn tại TCGIns vào đầu năm nay. Hiện Techcombank đang nắm giữ 80% vốn tại TCLife và 68% tại TCGIns.

Techcombank đang dần hoàn thiện những "mảnh ghép" quan trọng trong chiến lược phát triển hệ sinh thái, với kỳ vọng đây sẽ là những động lực tăng trưởng mới và nguồn thu bổ sung bền vững. Không chỉ hướng tới tăng trưởng ngắn hạn, ngân hàng kỳ vọng các lĩnh vực này sẽ đóng vai trò then chốt trong việc hiện thực hóa chiến lược hệ sinh thái toàn diện.

Việc các ngân hàng chuyển hướng từ hợp tác chiến lược sang làm chủ các công ty bảo hiểm cũng nhằm hoàn thiện, tiếp tục mở rộng hệ sinh thái tài chính và giúp tăng nguồn thu ngoài lãi.

Bởi việc sở hữu các doanh nghiệp bảo hiểm giúp ngân hàng có thể làm chủ toàn bộ hành trình, từ “may đo” các sản phẩm phù hợp với các phân khúc khách hàng mục tiêu; đến tận dụng thế mạnh về công nghệ số và dữ liệu để số hóa toàn bộ hành trình bảo hiểm. Qua đó, các sản phẩm bảo hiểm được tích hợp vào đời sống hàng ngày và các hành trình trải nghiệm trong hệ sinh thái dành cho cả khách hàng cá nhân lẫn doanh nghiệp.

Bancassurance khởi sắc, kỳ vọng bứt tốc dài hạn

Trong các năm 2021 và 2022, hoạt động hợp tác bảo hiểm mang về cho Techcombank lần lượt 1.558 tỷ đồng và 1.750 tỷ đồng doanh thu. Tuy nhiên, đến năm 2024, nguồn thu từ mảng này giảm xuống còn 606 tỷ đồng, chiếm khoảng 5,5% tổng thu nhập từ hoạt động dịch vụ của ngân hàng. Dù vậy, bước sang nửa đầu năm 2025, mảng bảo hiểm đã ghi nhận nhiều tín hiệu khởi sắc trở lại.

TCLife gia nhập thị trường, ngân hàng đua làm chủ trong lĩnh vực bảo hiểm
Nguồn: Techcombank.

Phí bảo hiểm phục hồi hoàn toàn

Chia sẻ tại buổi gặp gỡ nhà đầu tư, đại diện Techcombank cho biết, phí bảo hiểm từ kênh bancassurance tiếp tục tăng trưởng trong quý II/2025, đạt 241 tỷ đồng và hoàn toàn phục hồi về mức trước quý IV/2024 khi công bố chấm dứt hợp đồng phân phối độc quyền với Manulife. Theo chỉ tiêu APE (phí bảo hiểm tương đương hàng năm), Techcombank hiện đứng thứ 3 toàn thị trường.

Đánh giá về tiềm năng thị trưởng bảo hiểm nhân thọ, theo đại diện Techcombank, hiện tỷ lệ doanh thu bảo hiểm nhân thọ/GDP của Việt Nam vẫn còn rất thấp, chỉ khoảng 1,2% và thấp hơn nhiều so với các nước láng giềng trong khu vực dao động từ 5 - 10%. Điều này cho thấy thị trường bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam còn dư địa tăng trưởng rất lớn.

Trong tầm nhìn 5 - 10 năm tới, Techcombank kỳ vọng doanh số toàn thị trường bảo hiểm nhân thọ có thể tăng gấp khoảng 3,5 lần, mở ra cơ hội lớn trong lĩnh vực này.

Hiện nay, nhiều ngân hàng lớn như BIDV, MB và VPBank đã thành lập công ty con hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ như: BIC, MIC và Bảo hiểm OPES. Bên cạnh đó, BIDV và MB cũng hợp tác với các đối tác chiến lược để phát triển mảng bảo hiểm nhân thọ, từng bước hoàn thiện hệ sinh thái tài chính toàn diện.

Trước nhiều dư địa phát triển của ngành, một số ngân hàng tiếp tục thể hiện tham vọng mở rộng sang lĩnh vực bảo hiểm. Chẳng hạn, VPBank có kế hoạch thành lập công ty bảo hiểm nhân thọ, trong khi PGBank cũng có kế hoạch góp vốn hoặc mua cổ phần tại doanh nghiệp bảo hiểm nhằm đa dạng hóa nguồn thu và tăng cường kết nối dịch vụ trong hệ sinh thái khách hàng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

(TBTCO) - Thông tư số 25/2026/TT-NHNN nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ 30% lên 40% từ ngày 1/7, tạo thêm dư địa tín dụng ước 1,3 - 1,5 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, dư địa lớn hơn không đồng nghĩa hạ chuẩn an toàn, các ngân hàng cần đồng thời củng cố ba trụ cột cốt lõi, để vừa thúc đẩy tăng trưởng vừa bảo đảm an toàn hệ thống.
Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

(TBTCO) - Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm số đông, nhưng dư nợ dành cho khu vực này mới chiếm khoảng 20% tín dụng toàn nền kinh tế. Bên cạnh các chính sách mới mở đường, việc gỡ "nút thắt" tài sản bảo đảm, đa dạng hóa giải pháp tín dụng của ngân hàng, doanh nghiệp cần chủ động nâng cao tính minh bạch mở rộng cơ hội tiếp cận vốn.
Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

(TBTCO) - Trải qua 32 năm phát triển, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) từng bước mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả hoạt động, qua đó khẳng định vị thế trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Đáng chú ý, trong giai đoạn 2020 - 2025, tổng nộp ngân sách nhà nước của Ngân hàng đạt gần 5.300 tỷ đồng và quy mô tài sản tăng gấp hơn 4,6 lần, phản ánh rõ nét chiến lược phát triển bền vững gắn với hiệu quả, tuân thủ và đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

(TBTCO) - Thông tư 25/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước được kỳ vọng giúp giảm áp lực huy động vốn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn, qua đó tăng khả năng cung ứng tín dụng cho các dự án hạ tầng, đầu tư quy mô lớn và hỗ trợ thanh khoản hệ thống.
TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

(TBTCO) - Đồng hành cùng Tinh Hà Say Hi với vai trò Nhà tài trợ Kim cương là Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) - luôn được biết đến với hình ảnh “ngân hàng dành cho giới trẻ” và chiến lược “lifestyle banking” - đưa banking đồng hành trong từng hơi thở của nhịp sống hiện đại.
Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 73,41 USD/ounce xuống còn khoảng 4.110 USD/ounce. Bên cạnh đó, vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt đi xuống tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn.
Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) chính thức triển khai chiến dịch Be The One - Start As One | Khởi đầu từ vị thế Tiên phong, chương trình tuyển dụng và phát triển thế hệ tư vấn viên mới, nhằm góp phần nâng cao chuẩn mực nghề tư vấn viên tài chính và hướng đến trải nghiệm khách hàng toàn diện hơn.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,300 14,600
Kim TT/AVPL 14,300 14,600
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 14,600
Nguyên Liệu 99.99 13,100 13,300
Nguyên Liệu 99.9 13,050 13,250
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 14,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 14,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 14,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 146,000
Hà Nội - PNJ 143,000 146,000
Đà Nẵng - PNJ 143,000 146,000
Miền Tây - PNJ 143,000 146,000
Tây Nguyên - PNJ 143,000 146,000
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 146,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 14,620
Miếng SJC Nghệ An 14,250 14,620
Miếng SJC Thái Bình 14,250 14,620
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 14,550
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 14,550
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 14,550
NL 99.90 12,900
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,740 14,440
Trang sức 99.99 13,750 14,450
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,432 14,622
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,432 14,623
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 1,461
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 1,462
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,411 1,446
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,168 143,168
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 108,611
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,988 98,488
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,865 88,365
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,496 8,446
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,954 60,454
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Cập nhật: 26/06/2026 07:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17605 17878 18457
CAD 17946 18221 18839
CHF 31737 32118 32766
CNY 0 3830 3923
EUR 29226 29446 30527
GBP 33851 34241 35178
HKD 0 3226 3428
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14531 15118
SGD 19743 20025 20594
THB 704 767 820
USD (1,2) 26051 0 0
USD (5,10,20) 26092 0 0
USD (50,100) 26121 26135 26456
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,136 26,136 26,456
USD(1-2-5) 25,091 - -
USD(10-20) 25,091 - -
EUR 29,435 29,459 30,794
JPY 158.56 158.85 168.05
GBP 34,096 34,188 35,284
AUD 17,842 17,906 18,537
CAD 18,173 18,231 18,856
CHF 32,067 32,167 33,029
SGD 19,906 19,968 20,699
CNY - 3,797 3,932
HKD 3,295 3,305 3,436
KRW 15.71 16.38 17.77
THB 752.21 761.5 813.84
NZD 14,557 14,692 15,096
SEK - 2,657 2,745
DKK - 3,938 4,067
NOK - 2,629 2,716
LAK - 0.9 1.25
MYR 5,979.03 - 6,738.5
TWD 748.34 - 904.41
SAR - 6,902.61 7,253.07
KWD - 83,317 88,439
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,116 26,136 26,456
EUR 29,333 29,451 30,630
GBP 34,037 34,174 35,183
HKD 3,290 3,303 3,419
CHF 31,856 31,984 32,893
JPY 158.69 159.33 167.11
AUD 17,806 17,878 18,464
SGD 19,942 20,022 20,598
THB 768 771 806
CAD 18,162 18,235 18,794
NZD 14,615 15,144
KRW 16.30 17.91
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26120 26120 26456
AUD 17812 17912 18837
CAD 18140 18240 19255
CHF 32047 32077 33651
CNY 3811 3836 3971.7
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29460 29490 31213
GBP 34208 34258 36013
HKD 0 3355 0
JPY 159.14 159.64 170.15
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14662 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19916 20046 20774
THB 0 733.9 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14320000 14320000 14620000
SBJ 13000000 13000000 14620000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,101 26,101 26,456
USD20 26,101 26,101 26,456
USD1 26,101 26,101 26,456
AUD 17,845 17,945 19,058
EUR 29,617 29,617 31,023
CAD 18,087 18,187 19,495
SGD 19,991 20,141 20,706
JPY 159.67 161.17 165.74
GBP 34,090 34,440 35,584
XAU 14,318,000 0 14,622,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/06/2026 07:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80