VietABank ghi nhận lợi nhuận cao nhất từ trước đến nay, đạt 55% kế hoạch năm

(TBTCO) - Lợi nhuận quý II của VietABank lập kỷ lục 361,3 tỷ đồng, nâng tổng lợi nhuận 6 tháng đầu năm lên 714,2 tỷ đồng, tăng 26,8% so với cùng kỳ. Kết quả tích cực nhờ tăng trưởng tín dụng, ngân hàng kiểm soát hơn về chi phí, giảm mạnh dự phòng và bước chuyển chiến lược sau khi niêm yết trên HoSE.
aa
Điều gì giúp VietABank báo lãi quý I/2025 cao kỷ lục? VietABank vừa được chấp thuận tăng vốn thêm gần 2.800 tỷ đồng, hướng tới mốc cao kỷ lục
Phía sau đà tăng tín dụng, nhiều ngân hàng đối diện nỗi lo NIM và dự phòng suy yếu

Ngân hàng TMCP Việt Á (VietABank - Mã Ck: VAB) vừa công bố báo cáo tài chính quý II/2025.

Theo báo cáo tài chính của VietABank, lợi nhuận trước thuế của VietABank trong quý II đạt 361,3 tỷ đồng, tăng 14,5% cùng kỳ. Tổng thu nhập hoạt động (TOI) đạt 605,6 tỷ đồng, tăng nhẹ 3,4%, trong khi chi phí hoạt động giảm gần 10%, tương ứng giảm 26,4 tỷ đồng xuống còn 239,5 tỷ đồng, góp phần thúc đẩy lợi nhuận.

Lợi nhuận quý II lập kỷ lục mới hơn 360 tỷ đồng

Lợi nhuận trước thuế quý II của VietABank tăng 14,5% cùng kỳ lên đạt 361,3 tỷ đồng, phá kỷ lục quý I và là mức cao nhất từ trước đến nay. Lũy kế 6 tháng đầu năm, lợi nhuận trước thuế đạt 714,2 tỷ đồng, hoàn thành 55% kế hoạch năm (1.306 tỷ đồng) và tăng 26,8% so với cùng kỳ 2024. Ngân hàng cũng ghi nhận kết quả tích cực trên cả phương diện quy mô tài sản, tăng trưởng tín dụng và hiệu quả hoạt động.

Về cơ cấu thu nhập, trong quý II, thu nhập lãi thuần VietABank tăng 5,9% cùng kỳ, đạt 542,4 tỷ đồng.

Bên cạnh đó, hoạt động ngoại hối cũng ghi nhận kết quả tích cực với khoản lãi 9,5 tỷ đồng, gấp đôi cùng kỳ. Dù vậy, hoạt động dịch vụ và kinh doanh khác sụt giảm, riêng mảng đầu tư chứng khoán ghi nhận lỗ nhẹ trong kỳ.

Tính trong 6 tháng đầu năm, hoạt động dịch vụ phi tín dụng cũng khởi sắc, với thu dịch vụ thuần tăng 32,6% so với cùng kỳ 2024. VietABank đang đẩy mạnh phát triển dịch vụ tài khoản, thanh toán và các kênh hợp tác chiến lược, coi đây là dư địa tăng trưởng quan trọng thời gian tới.

Như vậy, nửa đầu năm 2025, VietABank ghi nhận tổng thu nhập hoạt động đạt 1.271 tỷ đồng, tăng 3,5% so với cùng kỳ, trong khi chi phí hoạt động giảm 5,9%, xuống còn 465 tỷ đồng. Đáng chú ý, chi phí dự phòng rủi ro giảm mạnh 46,1%, còn 92 tỷ đồng, qua đó, góp phần giúp lợi nhuận trước thuế tăng 26,8%, đạt 714 tỷ đồng.

VietABank ghi nhận lợi nhuận cao nhất từ trước đến nay, đạt 55% kế hoạch năm
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Tính đến ngày 30/6/2025, tổng tài sản của VietABank đạt 133.952 tỷ đồng, tăng thêm hơn 14.120 tỷ đồng so với đầu năm. Trong đó, dư nợ cho vay đạt 87.422 tỷ đồng, tăng 9,39%; trong khi tiền gửi khách hàng đạt 95.784 tỷ đồng, tăng 6,1% so với cuối năm 2024.

Đáng chú ý, theo đại diện ngân hàng VietABank, tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) tăng 29%, góp phần giảm chi phí vốn, cải thiện biên lợi nhuận. Các chỉ số tài chính tiếp tục duy trì tích cực với ROE đạt 13,71%; ROA đạt 1%, phản ánh hiệu quả sử dụng vốn và tài sản được cải thiện.

Tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR) được giữ ở mức 36,01%, phản ánh khả năng kiểm soát chi phí hiệu quả của ngân hàng, dù vẫn đang đẩy mạnh đầu tư cho chuyển đổi số và mở rộng hoạt động. Đồng thời, tỷ lệ nợ xấu giảm từ 1,37% cuối năm 2024 xuống còn 1,11%, cuối quý II/2025, cho thấy công tác quản trị rủi ro và thu hồi nợ được thực hiện tốt, góp phần cải thiện chất lượng danh mục tín dụng.

Song song kết quả kinh doanh khả quan, VietABank được Ngân hàng Nhà nước và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận phương án tăng vốn điều lệ thông qua phát hành cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu, với tỷ lệ hơn 51%, dự kiến hoàn tất trong quý III/2025. Sau phát hành, vốn điều lệ sẽ tăng lên hơn 8.164 tỷ đồng, tạo thêm nguồn lực mở rộng hoạt động, nâng cao chỉ số an toàn vốn.

Một dấu mốc nổi bật khác là cổ phiếu VAB được chấp thuận niêm yết và chính thức giao dịch trên sàn HoSE từ ngày 22/7 vừa qua, với gần 540 triệu cổ phiếu. Việc chuyển sàn từ UPCOM sang HoSE được kỳ vọng sẽ gia tăng thanh khoản, thu hút vốn tổ chức và nâng cao hình ảnh thương hiệu ngân hàng.

Chia sẻ gần đây, ông Nguyễn Văn Trọng - Tổng Giám đốc VietABank cho biết, kết quả 6 tháng đầu năm là nền tảng vững chắc để ngân hàng bước vào giai đoạn tăng tốc. "Chúng tôi sẽ tiếp tục hoàn thiện nền tảng ngân hàng số Omni-Channel, kiểm soát tăng trưởng tín dụng hiệu quả, chuẩn bị các bước đi chiến lược sau khi niêm yết HoSE, hướng đến phát triển an toàn và bền vững” - lãnh đạo VietABank nhấn mạnh./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Eximbank tiếp tục hoàn thiện cơ cấu quản trị theo Chiến lược phát triển giai đoạn 2026 - 2030

Eximbank tiếp tục hoàn thiện cơ cấu quản trị theo Chiến lược phát triển giai đoạn 2026 - 2030

(TBTCO) - Đại hội đồng cổ đông của Eximbank, phiên họp bất thường ngày 14/10/2026 đã thông qua việc bầu bổ sung thành viên Hội đồng Quản trị, tiếp tục triển khai lộ trình hoàn thiện Khung quản trị doanh nghiệp của Ngân hàng và điều chỉnh quy định về tỷ lệ sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài.
Hợp tác chiến lược bảo hiểm PVI – SAVICO: Nâng tầm trải nghiệm khách hàng, cộng hưởng sức mạnh kinh doanh

Hợp tác chiến lược bảo hiểm PVI – SAVICO: Nâng tầm trải nghiệm khách hàng, cộng hưởng sức mạnh kinh doanh

(TBTCO) - Tổng công ty Bảo hiểm PVI (Bảo hiểm PVI) và Công ty Cổ phần Dịch vụ Tổng hợp Sài Gòn (SAVICO) vừa chính thức ký kết thỏa thuận hợp tác chiến lược. Sự kiện đánh dấu bước ngoặt trong việc kết nối chuyên sâu giữa giải pháp bảo hiểm tài chính với hệ thống phân phối và dịch vụ sửa chữa ô tô quy mô hàng đầu Việt Nam, mang đến giá trị toàn diện cho cả người dùng ô tô lẫn hệ thống showroom, đại lý và gara.
Từ tích lũy đến quản trị tài sản: Cần đa dạng hóa danh mục đầu tư

Từ tích lũy đến quản trị tài sản: Cần đa dạng hóa danh mục đầu tư

(TBTCO) - Khi quy mô tài sản gia tăng, câu hỏi của nhà đầu tư không còn đơn thuần là “đầu tư vào đâu để có lợi suất cao”, mà chuyển dần sang bài toán lớn hơn: làm thế nào phân bổ tài sản hợp lý, cân bằng giữa kỳ vọng tăng trưởng, dòng tiền và khả năng chấp nhận rủi ro. Trong chiến lược đó, trái phiếu là một trong những lựa chọn có thể được cân nhắc để đa dạng hóa danh mục.
Eximbank được Citibank trao giải STP Award 2025, ghi nhận chất lượng thanh toán quốc tế

Eximbank được Citibank trao giải STP Award 2025, ghi nhận chất lượng thanh toán quốc tế

(TBTCO) - Ngày 13/10/2026, tại TP. Hồ Chí Minh, Ngân hàng TMCP Xuất Nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) được Citibank trao giải thưởng STP Award 2025 (USD Payments Straight Through Processing Excellence Award), ghi nhận chất lượng xử lý thanh toán quốc tế bằng đồng USD trong năm 2025, với tỷ lệ xử lý tự động xuyên suốt đạt hơn 99,43%.
HDBank dành 2.000 tỷ đồng cho doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ, lãi suất chỉ từ 7,8%/năm đến hết quý I/2027

HDBank dành 2.000 tỷ đồng cho doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ, lãi suất chỉ từ 7,8%/năm đến hết quý I/2027

(TBTCO) - HDBank triển khai chương trình “Tiếp sức vốn vay - Nâng tầm doanh nghiệp do Phụ nữ làm chủ” với hạn mức 2.000 tỷ đồng, lãi suất từ 7,8%/năm, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa bổ sung vốn lưu động phục vụ sản xuất kinh doanh.
Thị trường carbon tạo nguồn thu tỷ USD, doanh nghiệp có thêm lợi thế vay vốn ngân hàng

Thị trường carbon tạo nguồn thu tỷ USD, doanh nghiệp có thêm lợi thế vay vốn ngân hàng

Thống kê từ WB cho thấy, các công cụ định giá carbon tạo nguồn thu hơn 107 tỷ USD toàn cầu năm qua. Không chỉ thúc đẩy giảm phát thải, doanh thu từ tín chỉ carbon còn có thể bổ sung nguồn trả nợ cho ngân hàng, song để hiện thực hóa tiềm năng này, cần hoàn thiện khung pháp lý, cơ chế định giá và thúc đẩy thương mại hóa tín chỉ carbon.
Xây dựng dự thảo Nghị định xử phạt vi phạm trong kinh doanh xổ số, bổ sung hành vi rửa tiền

Xây dựng dự thảo Nghị định xử phạt vi phạm trong kinh doanh xổ số, bổ sung hành vi rửa tiền

(TBTCO) - Bộ Tài chính đang xây dựng dự thảo Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong kinh doanh xổ số, với mức phạt tối đa 200 triệu đồng đối với tổ chức, 100 triệu đồng đối với cá nhân. Đáng chú ý, dự thảo bổ sung quy định xử phạt các hành vi vi phạm về phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố và tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt.
Doanh nghiệp không ngại chuyển đổi xanh, thị trường carbon mở thêm động lực

Doanh nghiệp không ngại chuyển đổi xanh, thị trường carbon mở thêm động lực

(TBTCO) - Theo ADB, Việt Nam cần khoảng 368 tỷ USD đầu tư bổ sung cho ứng phó biến đổi khí hậu và giảm phát thải đến năm 2040. Dù nhu cầu vốn lớn, còn nhiều rào cản, doanh nghiệp vẫn sẵn sàng đầu tư công nghệ xanh. Để khơi thông nguồn lực, cần đa dạng kênh huy động vốn ngoài tín dụng ngân hàng, trong đó có phát triển thị trường carbon.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,800 142,800
Hà Nội - PNJ 139,800 142,800
Đà Nẵng - PNJ 139,800 142,800
Miền Tây - PNJ 139,800 142,800
Tây Nguyên - PNJ 139,800 142,800
Đông Nam Bộ - PNJ 139,800 142,800
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,030 14,330
Miếng SJC Nghệ An 14,030 14,330
Miếng SJC Thái Bình 14,030 14,330
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,900 ▼30K 14,300 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,900 ▼30K 14,300 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,900 ▼30K 14,300 ▼30K
NL 99.99 13,150
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,050
Trang sức 99.9 13,580 ▼30K 14,180 ▼30K
Trang sức 99.99 13,590 ▼30K 14,190 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,403 14,332
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,403 14,333
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,398 1,428
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,398 1,429
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,373 1,418
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,396 140,396
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,711 106,511
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,784 96,584
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,857 86,657
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,028 82,828
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,487 59,287
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Cập nhật: 15/10/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17464 17737 18311
CAD 17684 17958 18572
CHF 30544 30920 31558
CNY 0 3824 3919
EUR 28396 28613 29689
GBP 33468 33855 34798
HKD 0 3167 3369
JPY 157 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14232 14816
SGD 19644 19925 20490
THB 687 750 803
USD (1,2) 25617 0 0
USD (5,10,20) 25655 0 0
USD (50,100) 25683 25697 26061
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,700 25,700 26,080
USD(1-2-5) 24,672 - -
USD(10-20) 24,672 - -
EUR 28,495 28,518 29,874
JPY 159.73 160.02 169.7
GBP 33,678 33,769 34,950
AUD 17,673 17,737 18,408
CAD 17,891 17,948 18,613
CHF 30,862 30,958 31,883
SGD 19,776 19,837 20,616
CNY - 3,794 3,940
HKD 3,232 3,242 3,378
KRW 17.7 18.46 20.09
THB 735.92 745.01 797.51
NZD 14,245 14,377 14,812
SEK - 2,555 2,647
DKK - 3,822 3,958
NOK - 2,683 2,778
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,928.04 - 6,691.5
TWD 722.85 - 875.81
SAR - 6,775.54 7,141.94
KWD - 81,752 86,997
AED - 6,794 7,321
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,690 25,720 26,100
EUR 28,452 28,595 29,821
GBP 33,662 33,831 34,862
HKD 3,228 3,247 3,364
CHF 30,687 30,841 31,787
JPY 159.46 161.07 169.05
AUD 17,634 17,758 18,354
SGD 19,760 19,939 20,532
THB 740 755 793
CAD 17,897 17,987 18,585
NZD 14,293 14,848
KRW 18.53 20.48
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25680 25710 26080
AUD 17670 17770 18696
CAD 17879 17979 18993
CHF 30769 30799 32380
CNY 3809 3834 3969.2
CZK 0 1140 0
DKK 0 3900 0
EUR 28547 28577 30300
GBP 33777 33827 35588
HKD 0 3315 0
JPY 160.59 161.09 171.61
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14317 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19800 19930 20652
THB 0 715.9 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14100000 14100000 14400000
SBJ 12500000 12500000 14400000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,594 25,714 26,000
USD20 25,564 25,714 26,000
USD1 24,360 25,714 26,000
AUD 17,702 17,802 18,910
EUR 28,389 28,489 30,153
CAD 17,813 17,913 19,221
SGD 19,890 20,040 20,594
JPY 161.15 162.65 168.17
GBP 33,673 33,823 34,898
XAU 14,028,000 0 14,332,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 751 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 15/10/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30