Nếu chậm triển khai thuế tối thiểu toàn cầu, Việt Nam sẽ bị thiệt

Hà My
(TBTCO) - GS.TS Andreas Stoffers - Giám đốc Quốc gia Viện Friedrich Naumann Foundation for Freedom (FNF) tại Việt Nam cho rằng, nếu chậm triển khai thuế tối thiểu toàn cầu, một mặt Việt Nam sẽ không nhận được mức chênh lệch thuế 8%, tương đương với vài tỷ USD hàng năm từ hơn 100 công ty FDI lớn đủ điều kiện hưởng mức thuế này. Mặt khác, môi trường đầu tư tại Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng do các nhà đầu tư sẽ chuyển hướng sang các quốc gia khác có cơ chế chia sẻ lợi ích liên quan đến quy định thuế mới này.
aa

PV: Theo quan sát và đánh giá của ông, áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu (GMT) sẽ tác động như thế nào tới thu ngân sách của Việt Nam?

GS.TS Andreas Stoffers
GS.TS Andreas Stoffers

GS. TS. Andreas Stoffers: GMT là một thực tế mà Việt Nam cùng với hơn 140 quốc gia trên toàn thế giới phải chấp nhận. Việc tập trung vào "thiên đường thuế" thay vì "địa ngục thuế", tức là các quốc gia có mức thuế cao, có hợp lý hay không trong sáng kiến quốc tế này, không còn là vấn đề phải bàn cãi nữa.

Nhiệm vụ đặt ra hiện nay là xem xét rõ tác động khi thực hiện GMT đối với ngân sách nhà nước Việt Nam và có biện pháp phù hợp để đảm bảo Việt Nam vẫn là điểm đến hấp dẫn FDI và không ảnh hưởng xấu đến nguồn ngân sách nhà nước.

Thời gian cho chúng ta không còn nhiều vì GMT sẽ bắt đầu có hiệu lực vào năm 2024. Đây cũng là cơ hội để cơ quan thuế rà soát toàn bộ các quy định ưu đãi về thuế hiện hành và xác định tác động của GMT đối với từng lĩnh vực của nền kinh tế, từ đó đề xuất các giải pháp chuyên sâu cho từng lĩnh vực của nền kinh tế một cách hiệu quả.

Tại Việt Nam, Chính phủ đã thấy rõ nhu cầu hành động cấp bách và bắt đầu nghiên cứu chi tiết về GMT từ tháng 8/2022. Một nhóm công tác bao gồm các chuyên gia thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau đã được thành lập để tham vấn với Chính phủ. Mọi điều nên được đúc kết thành luật để đảm bảo tính đến lợi ích của tất cả các bên liên quan, tất nhiên bao gồm lợi ích của các nhà đầu tư nước ngoài.

Cần có biện pháp phù hợp để đảm bảo Việt Nam vẫn là điểm đến hấp dẫn với các nhà đầu tư nước ngoài.
Cần có biện pháp phù hợp để đảm bảo Việt Nam vẫn là điểm đến hấp dẫn với các nhà đầu tư nước ngoài.

Có một thực tế là nếu Việt Nam triển khai GMT quá chậm, thì sẽ chịu nhiều bất lợi. Một mặt, Việt Nam sẽ không nhận được mức chênh lệch thuế 8% từ hơn 100 công ty FDI lớn đủ điều kiện hưởng mức thuế này. Số tiền này tương đương với vài tỷ USD hàng năm cho ngân sách quốc gia của Việt Nam. Mặt khác, môi trường đầu tư tại Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng do các nhà đầu tư sẽ chuyển hướng đầu tư sang các quốc gia khác có cơ chế chia sẻ lợi ích liên quan đến quy định thuế mới này.

PV: Áp dụng GMT liệu Việt Nam có bị mất đi lợi thế trong thu hút FDI, khi hiện nay ưu đãi thuế đang là điểm hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài tới Việt Nam, thưa ông?

GS. TS. Andreas Stoffers: Việt Nam đang sử dụng ưu đãi thuế như một công cụ đòn bẩy tài chính để thu hút đầu tư. So với các nước trong khu vực, thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam hấp dẫn hơn. Mặc dù con số chính thức 20% là khá cao, nhưng thuế suất ưu đãi (đặc biệt) thường được áp dụng lại rất hấp dẫn, dao động từ 5% - 17% tùy theo lĩnh vực, quy mô và địa bàn đầu tư. Hơn nữa, pháp luật hiện hành còn cho phép hình thức miễn giảm thuế. Thuế suất thực tế đối với FDI trong suốt thời gian đầu tư trung bình là 12,3%, với một số tập đoàn lớn con số này thậm chí chỉ là một vài phần trăm.

Điều này chắc chắn sẽ không tiếp tục với sự ra đời của GMT. Do đó, Việt Nam sẽ mất đi yếu tố hấp dẫn tài chính này. Vì vậy, cần phải có những biện pháp phù hợp kịp thời để giúp duy trì năng lực cạnh tranh của Việt Nam. Trong tương lai, các yếu tố như độ mở và độ tin cậy của nền kinh tế, cơ sở hạ tầng hoạt động tốt, hội nhập vào chuỗi giá trị quốc tế, dân số có trình độ học vấn cao và các hiệp định thương mại tự do sẽ ngày càng trở nên quan trọng hơn. Ngoài ra, vị trí địa lý trung tâm của Việt Nam tại khu vực Đông Nam Á và thị trường nội địa ngày càng hấp dẫn với 100 triệu người tiêu dùng tiềm năng là những điểm tích cực hơn nữa.

Việt Nam cần phải thành công trong việc định vị lại chính mình trong cạnh tranh quốc tế và thể hiện hình ảnh đất nước - bất chấp việc áp dụng GMT - như một điểm đến hàng đầu cho lựa chọn đầu tư. Ngoài các biện pháp chính sách kinh tế cần thiết cho việc này, cũng cần phải thúc đẩy việc quảng bá hình ảnh cho Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế.

Thuế tối thiểu toàn cầu mang lại nhiều cơ hội mới

Theo GS. TS. Andreas Stoffers, thuế tối thiểu toàn cầu (GMT) là thách thức lớn, nhưng cũng mang đến những cơ hội mới cho Việt Nam. Việt Nam tiếp tục mang lại nhiều lợi thế cho các nhà đầu tư, bao gồm hội nhập mạnh mẽ vào chuỗi giá trị toàn cầu, cam kết rõ ràng về tự do thương mại và bảo hộ đầu tư, thị trường rộng lớn với 100 triệu người tiêu dùng và tầng lớp trung lưu giàu có ngày càng tăng.

Tuy nhiên, bên cạnh cải cách thuế liên quan đến GMT, các vấn đề khác cũng cần được cải thiện mạnh mẽ, bao gồm vấn đề tuân thủ, cơ sở hạ tầng, quy trình hành chính, năng suất lao động cũng như vấn đề giáo dục và kỹ năng.

PV: Thời gian từ nay đến khi thực hiện GMT có hiệu lực còn rất ngắn. Nếu tham gia áp dụng GMT, Việt Nam cần làm gì để tiếp tục có môi trường đầu tư hấp dẫn thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, thưa ông?

GS. TS. Andreas Stoffers: Một thực tế rõ ràng là thời điểm áp dụng GMT đang đến. Đối với Việt Nam, điều quan trọng là phải tiếp tục thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời gian tới. Gánh nặng thuế bổ sung đối với các công ty FDI là một yếu tố quan trọng, nhưng nó chỉ là một trong nhiều điều cần quan tâm.

Tôi cho rằng, điều quan trọng là Việt Nam phải tuân thủ chính sách mở cửa kinh tế. Điều này bao gồm bảo hộ đầu tư, cũng như số lượng lớn các hiệp định thương mại tự do. Các hiệp định thương mại tự do hiện đang được tận dụng tương đối ít, như ví dụ về Hiệp định EVFTA cho thấy, vẫn còn rất nhiều việc để có thể thực hiện.

Đối với các nhà đầu tư, độ tin cậy của các quy định và sự ổn định chính trị trong một quốc gia là rất quan trọng. Đây là một lợi thế của Việt Nam. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều chỗ cần cải thiện về quản lý thủ tục hành chính, ví dụ như việc đơn giản hóa đăng ký kinh doanh hay cấp thị thực cho doanh nhân nước ngoài cần nhanh hơn và toàn diện hơn.

Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh là một công cụ hữu ích cho vấn đề này. Nhìn chung, nâng cao năng lực cạnh tranh giữa các địa phương là điều rất tích cực, vì điều này tạo ra sức cạnh tranh lành mạnh cho các tỉnh để thu hút các nhà đầu tư hấp dẫn. Các tỉnh sở hữu những điều kiện tốt nhất (ngoài thuế) sẽ chiếm ưu thế. Đồng thời, đây cũng sẽ là động lực để các tỉnh thi đua như một cuộc cạnh tranh lành mạnh. Điều này áp dụng trên nhiều khía cạnh như cơ sở hạ tầng cũng như nhân sự, quy trình quản lý và tính minh bạch/tuân thủ.

PV: Xin cảm ơn ông!

Hoàn thiện chính sách để thu hút đầu tư

GS. TS Andreas Stoffers cho rằng, Việt Nam cần nắm bắt cơ hội quan trọng trong việc triển khai thuế tối thiểu toàn cầu để xem xét lại việc sử dụng các ưu đãi thuế và hoàn thiện khung chính sách đầu tư của mình, tiếp tục là điểm đến hấp dẫn trong dài hạn đối với các doanh nghiệp đa quốc gia cũng như các doanh nghiệp vừa và nhỏ nước ngoài. Thuế tối thiểu toàn cầu là một thực tế phải đối mặt. Điều quan trọng hiện nay đối với Việt Nam là sử dụng công cụ chính sách thuế này một cách thuần thục.

Theo vị chuyên gia này, Việt Nam cần lưu ý trao đổi ý tưởng và bài học kinh nghiệm với các quốc gia khác, đặc biệt là những cách tiếp cận và kinh nghiệm của các nền kinh tế mới nổi khác trong ASEAN. Trong bối cảnh đó, cũng cần xem xét cơ chế khuyến khích vốn có vai trò định hướng và thu hút đầu tư không nhỏ. Điều cần thiết là duy trì chính sách kinh tế mở của Việt Nam. Các đối tác thương mại và đầu tư nên được đa dạng hóa để giảm sự phụ thuộc vào một bên. Ngoài ra, Việt Nam cần phát triển thêm các lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực dịch vụ để giảm sự phụ thuộc đầu tư vào một số ngành công nghiệp.

Hà My

Đọc thêm

Cải cách thuế từ tư duy quản lý đến tinh thần đồng hành

Cải cách thuế từ tư duy quản lý đến tinh thần đồng hành

(TBTCO) - Năm 2026 đánh dấu bước ngoặt lớn trong tiến trình hoàn thiện thể chế chính sách quản lý thuế của Việt Nam. Cải cách không chỉ được đánh giá qua số lượng văn bản được ban hành, mà còn ở việc đơn giản hóa thủ tục và giảm thiểu chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp. Xung quanh nội dung này, phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư đã có cuộc trao đổi với bà Nguyễn Thị Cúc, Chủ tịch Hội Tư vấn thuế Việt Nam.
Lãi suất trái phiếu tăng, doanh nghiệp thêm áp lực huy động vốn

Lãi suất trái phiếu tăng, doanh nghiệp thêm áp lực huy động vốn

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Lê Tiến Trung, Giảng viên Tài chính Ngân hàng, Trường Kinh tế, Đại học Phenikaa cho rằng, chi phí vốn gia tăng đang ảnh hưởng đến kế hoạch phát hành trái phiếu doanh nghiệp, trong khi khả năng huy động vốn phụ thuộc đáng kể vào chất lượng tín dụng và năng lực trả nợ.
Nâng chuẩn hạ tầng, củng cố sức hấp dẫn của thị trường chứng khoán

Nâng chuẩn hạ tầng, củng cố sức hấp dẫn của thị trường chứng khoán

(TBTCO) - Sau bước tiến về nâng hạng, thị trường chứng khoán Việt Nam đang đứng trước yêu cầu tiếp tục hoàn thiện hạ tầng, nâng cao chất lượng doanh nghiệp niêm yết và đổi mới cơ chế giao dịch. Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Lương Duy Phước – Giám đốc Phân tích, Công ty cổ phần Chứng khoán Kafi cho rằng, những cải cách về tổ chức thị trường, giao dịch và thanh toán cần được triển khai đồng bộ với nâng cao năng lực quản trị rủi ro, qua đó tạo nền tảng thu hút dòng vốn dài hạn.
Đón dòng vốn FDI chất lượng cao: Chuyển mạnh từ tư duy đến hành động

Đón dòng vốn FDI chất lượng cao: Chuyển mạnh từ tư duy đến hành động

(TBTCO) - Nghị quyết số 280/NQ-CP về Kế hoạch hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu cụ thể hóa đột phá trong thu hút đầu tư nước ngoài, từ hoàn thiện thể chế đến phát triển hệ sinh thái đầu tư đồng bộ. Bà Bùi Thu Thủy - Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính) trao đổi với Báo Tài chính - Đầu tư về những chuyển động chính sách nhằm nâng chất dòng vốn FDI và tăng liên kết với doanh nghiệp Việt Nam.
Gỡ nút thắt vốn doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ

Gỡ nút thắt vốn doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ

(TBTCO) - Dù chiếm tỷ trọng đáng kể trong cộng đồng doanh nghiệp, doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ vẫn gặp nhiều rào cản trong tiếp cận vốn. Theo bà Từ Thu Hiền - Giám đốc Sáng kiến Hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp và kinh doanh (WISE), cải thiện khả năng tiếp cận vốn sẽ tạo điều kiện để nhóm doanh nghiệp này phát huy tiềm năng, mở rộng hoạt động và trở thành động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Công nghệ phải trở thành "động lực chủ yếu" của doanh nghiệp

Công nghệ phải trở thành "động lực chủ yếu" của doanh nghiệp

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, TS. Tô Hoài Nam - Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VINASME) nhấn mạnh, sau hơn 1 năm triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, nhiều chính sách đã được ban hành đồng bộ, tạo động lực cho doanh nghiệp bứt phá từ ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Tăng sức hút với dòng vốn từ EU

Tăng sức hút với dòng vốn từ EU

(TBTCO) - Dòng vốn FDI từ EU còn rất nhiều tiềm năng, song điều quan trọng không chỉ là thu hút thêm vốn mà còn là thúc đẩy chuyển giao công nghệ, phát triển nhà cung ứng trong nước, hình thành quan hệ đối tác đầu tư có chiều sâu... Phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư đã có cuộc trao đổi với ông Christian-Ludwig Weber-Lortsch, cựu Đại sứ Đức tại Việt Nam, thành viên Ban Cố vấn Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) xung quanh vấn đề này.
Cơ hội khơi thông dòng vốn dài hạn qua kênh trái phiếu

Cơ hội khơi thông dòng vốn dài hạn qua kênh trái phiếu

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Đỗ Lê Thành Đạt - Phó Giám đốc, Chuyên gia phân tích Khối Xếp hạng tín nhiệm và Nghiên cứu của VIS Rating nhận định, phát triển trái phiếu hạ tầng, nâng cao tính minh bạch và khả năng định giá rủi ro sẽ góp phần mở rộng cơ hội huy động vốn dài hạn từ các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều