Phát huy tối đa các yếu tố thúc đẩy tiêu dùng của nền kinh tế

Diệu Hoa
(TBTCO) - Cùng với việc phát huy tối đa các yếu tố thúc đẩy tiêu dùng của nền kinh tế, thời gian tới Chính phủ cần làm mới động lực tiêu dùng, có các biện pháp kích cầu mạnh mẽ để thúc đẩy nhu cầu mua sắm, chi tiêu của người dân, từ đó tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế. Đây là khẳng định của TS. Nguyễn Bích Lâm - nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê khi trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư.
aa
Phát huy tối đa các yếu tố thúc đẩy tiêu dùng của nền kinh tế
Nguồn: Tổng cục Thống kê. Đồ họa: Phương Anh

PV: Ông đánh giá như thế nào về tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trong 6 tháng đầu năm 2025?

Phát huy tối đa các yếu tố thúc đẩy tiêu dùng của nền kinh tế

TS. Nguyễn Bích Lâm: Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng, bình quân qua các tháng trong 6 tháng đầu năm 2025 tăng ổn định ở mức khoảng 7,2%, cao hơn khoảng 1,2 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước, nhưng thấp hơn khá nhiều so với mức tăng của thời kỳ trước đại dịch Covid-19.

Theo dõi sát diễn biến giá cả, duy trì sức mua

Cục Thống kê (Bộ Tài chính) lưu ý, trong 6 tháng cuối năm 2025 cần tiếp tục theo dõi sát diễn biến giá cả thị trường, chi phí đầu vào và tâm lý tiêu dùng để kịp thời điều chỉnh chính sách phù hợp, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô và duy trì sức mua.

Hiện nay, xu hướng tiêu dùng trong nước thay đổi với chi tiêu nhiều hơn cho dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành. Số liệu thống kê giai đoạn 2021-2024 và 6 tháng đầu năm 2025 phản ánh sự thay đổi mạnh mẽ trong xu hướng tiêu dùng. Năm 2021, người dân chi cho dịch vụ lưu trú và ăn uống chiếm 8,3% trong tổng mức bán lẻ, chi cho du lịch lữ hành chiếm 0,2% trong tổng mức bán lẻ; đến năm 2023 hai chỉ tiêu này tăng lên 11,1% và 1,1%. Xu hướng tiêu dùng này tiếp tục được khẳng định và tăng lên 11,5% và 1,2% năm 2024. Hai chỉ tiêu này của 6 tháng đầu năm 2025 lần lượt là 12% và 1,3%.

PV: Theo ông, đâu là yếu tố thúc đẩy tiêu dùng của nền kinh tế?

TS. Nguyễn Bích Lâm: Có nhiều yếu tố vĩ mô và vi mô thúc đẩy tiêu dùng của nền kinh tế. Với thực tiễn tình hình và đặc trưng của kinh tế Việt Nam hiện nay, có 5 nhóm yếu tố chính tác động mạnh, thúc đẩy tiêu dùng.

Kinh tế vĩ mô ổn định, kiểm soát lạm phát dưới mức mục tiêu: Với chính sách tài khóa và tiền tệ phù hợp, hài hòa với thực tiễn tình hình kinh tế trong nước. Chính phủ tăng chi tiêu thường xuyên, giảm thuế thu nhập người dân và doanh nghiệp; cắt giảm lãi suất hỗ trợ sản xuất và tiêu dùng, tỷ giá hối đoái ổn định, kiểm soát thành công lạm phát trong thập kỷ qua.

Ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát dưới mục tiêu giúp duy trì sức mua của nền kinh tế; cùng với kinh tế tăng trưởng cao, ổn định, nâng thu nhập và mức sống của người dân là các yếu tố quan trọng thúc đẩy tiêu dùng của nền kinh tế.

Thị trường tiêu dùng đầy tiềm năng, quy mô tiêu dùng ngày càng mở rộng. Việt Nam có thị trường tiêu dùng trên 100 triệu dân và khoảng 20 triệu khách du lịch quốc tế. Cơ cấu dân số trẻ, với 62% dân số trong độ tuổi lao động, tỷ lệ phụ nữ tham gia lực lượng lao động cao. Lao động có việc làm chiếm 97,9% lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên. Nói cách khác, khoảng trên 50% dân số Việt Nam trực tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất và có thu nhập thường xuyên, ổn định. Đây là yếu tố quan trọng nhất thúc đẩy tiêu dùng, mở rộng quy mô của nền kinh tế.

Tầng lớp trung lưu - động lực tiêu dùng quan trọng của nền kinh tế đã hình thành và phát triển nhanh, ấn tượng trong những năm qua. Tỷ lệ tầng lớp trung lưu năm 2022 ở mức 13% dân số và dự báo tăng lên 26% vào năm 2026, chiếm hơn 55% dân số vào năm 2030. Tầng lớp trung lưu với mức thu nhập cao hơn trong cộng đồng ngày càng tăng sẽ có xu hướng tiêu dùng nhiều hơn, tạo ra một thị trường tiêu dùng nội địa khổng lồ, đặc biệt cho các ngành bán lẻ, bất động sản và dịch vụ…

Tăng trưởng kinh tế cao, ổn định cũng là nền tảng, gốc rễ thúc đẩy tiêu dùng, bởi vì tăng trưởng cao, ổn định tạo thu nhập ổn định và củng cố niềm tin của người tiêu dùng. Mặc dù kinh tế Việt Nam giai đoạn 2020-2024 tăng trưởng chưa đạt mục tiêu đặt ra nhưng thuộc nhóm nước có tốc độ tăng trưởng cao trên thế giới. Năm 2024, GDP tăng 7,09% cao hơn mục tiêu Quốc hội thông qua 6% - 6,5%; năm 2025, Chính phủ đặt mục tiêu GDP tăng 8% trở lên, cao hơn mục tiêu ban đầu 6,5% x 7% và phấn đấu mức tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026 - 2030.

PV: Để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP 8% trở lên trong năm 2025, cần có sự tăng trưởng 12% trong tiêu dùng nội địa, nhưng làm sao để thúc đẩy tiêu dùng từ đó thúc tăng trưởng, thưa ông?

TS. Nguyễn Bích Lâm: Tiêu dùng và tăng trưởng kinh tế có tác động qua lại, tương hỗ, thúc đẩy lẫn nhau. Cùng với việc phát huy tối đa các yếu tố thúc đẩy tiêu dùng của nền kinh tế, thời gian tới Chính phủ cần làm mới động lực tiêu dùng, có các biện pháp kích cầu mạnh mẽ để thúc đẩy nhu cầu mua sắm, chi tiêu của người dân, từ đó tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế.

Trước tiên, kiểm soát lạm phát, giữ vững ổn định vĩ mô, đây là điều kiện cần để tạo niềm tin người tiêu dùng, phát huy hiệu quả các giải pháp kích cầu tiêu dùng, đặc biệt đối với giải pháp giảm 2% thuế VAT. Theo tính toán, giảm 2% thuế VAT sẽ thúc đẩy GDP tăng thêm 0,8 điểm phần trăm với điều kiện kiểm soát lạm phát dưới mức mục tiêu.

Bên cạnh đó, Chính phủ cần điều hành tỷ giá, lãi suất phù hợp, để tránh lạm phát kỳ vọng tác động tiêu cực đến sức mua; kiểm soát việc tăng giá trong các mùa cao điểm của một số sản phẩm đặc thù nhằm khuyến khích và thu hút dân cư chi tiêu dùng trong nước.

Đồng thời, nâng cao chất lượng hàng hoá và dịch vụ trong nước với mức giá cạnh tranh để thúc đẩy người dân tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ Việt, giảm thiểu tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ nhập khẩu. Tăng cường thực hiện các đợt khuyến mại, tận dụng tối đa thời điểm vàng trong mùa du lịch, các dịp lễ lớn của đất nước để thúc đẩy sức mua của người dân.

Song song đó, cơ cấu lại nền kinh tế, điều chỉnh mô hình tăng trưởng cân bằng hơn giữa đầu tư, tiêu dùng và xuất khẩu. Thực hiện đầu tư công với cơ cấu hợp lý giữa phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển khoa học công nghệ và sản xuất kinh doanh, tạo dựng mô hình kinh tế mới ưu việt thúc đẩy tăng trưởng cao, bền vững…

Thực hiện các giải pháp này, cùng với phát huy tối đa động lực tăng trưởng từ đầu tư và xuất khẩu sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đạt mức cao nhất có thể trong năm 2025, tạo đà cho tăng trưởng nhanh và bền vững trong những năm tới.

PV: Xin cảm ơn ông!

Thương mại điện tử phát triển góp phần thúc đẩy tiêu dùng

Theo TS. Nguyễn Bích Lâm, thương mại điện tử phát triển mang lại sự thuận tiện tối đa, thuận tiện trong thanh toán, gia tăng sự trải nghiệm của khách hàng, thực hiện trên nhiều lĩnh vực kinh doanh. Vì vậy, mặc dù kinh tế thế giới và khu vực vẫn đang đối mặt với những khó khăn, song thương mại điện tử Việt Nam vẫn duy trì tốc độ tăng ấn tượng, đạt mức tăng từ 18%-25% mỗi năm.

Năm 2024, quy mô thị trường thương mại điện tử đạt trên 25 tỷ USD, tăng 20% so với năm 2023, chiếm khoảng 9% tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng cả nước. Điều này cho thấy người tiêu dùng ngày càng ưa chuộng các phương thức mua sắm trực tuyến.

Năm 2025 với những thay đổi sâu sắc và toàn diện về xây dựng, thực thi chính sách và văn bản pháp luật về thương mại điện tử; với một loạt văn bản pháp luật, chính sách như: Luật Thương mại điện tử, pháp luật về thuế, xuất khẩu trực tuyến… sẽ được ban hành và có hiệu lực, thương mại điện tử Việt Nam sẽ phát triển nhanh và bền vững trong những năm tới, là một kênh quan trọng trong tiêu thụ sản phẩm, thúc đẩy tiêu dùng, phát triển kinh tế.

Diệu Hoa

Đọc thêm

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

(TBTCO) - Phát biểu tại Lễ ra mắt giao diện mới của báo điện tử Báo Tài chính - Đầu tư (thoibaotaichinhvietnam.vn), Thứ trưởng Trần Quốc Phương tin tưởng với bề dày truyền thống đã được xây dựng và phát triển qua nhiều năm của ba cơ quan báo chí tiền thân, cùng với sự đoàn kết, sáng tạo và quyết tâm đổi mới của tập thể lãnh đạo, phóng viên, biên tập viên và người lao động, Báo Tài chính - Đầu tư sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, đóng góp ngày càng tích cực vào công tác thông tin tuyên truyền của ngành Tài chính và vào sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước.
Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Phát biểu tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Liên bang Nga, Thủ tướng Phạm Minh Chính mong muốn doanh nghiệp hai nước tăng cường trao đổi, tìm kiếm cơ hội hợp tác đầu tư, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

(TBTCO) - Theo các chuyên gia, doanh nghiệp Việt đang bước vào một cuộc cạnh tranh mới, khi chuỗi cung ứng đảo chiều và “luật chơi” thị trường thay đổi nhanh chóng. Lợi thế giá rẻ không còn mang tính quyết định, trong khi áp lực từ địa chính trị, tiêu chuẩn xanh và yêu cầu chuỗi cung ứng buộc doanh nghiệp phải tái cấu trúc nhanh hơn, sâu hơn và thực chất hơn.
EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

(TBTCO) - Trong bối cảnh các cam kết đầu tư trị giá hàng tỷ EUR đang là tâm điểm tại Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam - Chiến lược Cửa ngõ toàn cầu tổ chức ngày 24/3 tại Hà Nội, Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) đã chính thức ra mắt ấn bản thứ 17 của Sách Trắng. Ấn phẩm thường niên này đóng vai trò là công cụ chiến lược nhằm hỗ trợ việc triển khai hiệu quả và bền vững các dòng vốn đầu tư quy mô lớn từ châu Âu vào Việt Nam.
Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

(TBTCO) - Sáng 24/3 tại Hà Nội, Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam quy tụ khoảng 500 đại biểu cấp cao hai bên, diễn ra trong bối cảnh quan hệ vừa nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện. Sự kiện ghi nhận gói đầu tư hơn 560 triệu EUR, mở rộng hợp tác trong giao thông hiện đại, năng lượng sạch và các động lực tăng trưởng mới.
Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

(TBTCO) - Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công thương) cho biết, gián đoạn tại eo biển Hormuz đang gây biến động mạnh thị trường năng lượng toàn cầu, vượt cả các cú sốc dầu mỏ thập niên 1970, buộc nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, khẩn trương ứng phó để bảo đảm nguồn cung và ổn định kinh tế.
“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

(TBTCO) - Gần 300 nghìn tỷ đồng là số vốn đầu tư mà Đà Nẵng dự kiến thu hút đầu tư theo phương thức đối tác công - tư (PPP) vào khu vực phía Nam thành phố nhằm khai thác dư địa cho phát triển công nghiệp, du lịch, hệ sinh thái đô thị sân bay, cảng biển, hạ tầng, hướng đến xây dựng khu vực này trở thành cực tăng trưởng tích cực.
Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

(TBTCO) - Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn vừa ký Quyết định số 458/QĐ-TTg phê duyệt Đề án cập nhật triển khai Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17780 18054 18629
CAD 18528 18805 19418
CHF 32621 33005 33653
CNY 0 3470 3830
EUR 29840 30113 31141
GBP 34394 34786 35728
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14983 15570
SGD 20001 20283 20811
THB 719 782 835
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80