Nghi ngại quanh hiện tượng tăng trưởng tín dụng vượt xa GDP

Chí Tín
(TBTCO) - (TBTCVN) - Diễn biến kinh tế thời gian qua thể hiện một số hiện tượng đáng chú ý. Trong đó, tăng trưởng GDP tăng thấp do ảnh hưởng dịch bệnh, nhưng tốc độ tăng trưởng tín dụng vẫn khá cao dẫn đến những nghi ngại về sự “lệch pha” trong mối liên quan 2 chỉ tiêu này.
aa

Tín dụng tăng nhanh gấp 5 lần GDP

Việc tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) 9 tháng năm 2021 chỉ tăng rất thấp với 1,42% so với cùng kỳ năm trước không khiến giới chuyên môn và người dân ngạc nhiên. Lý do là nền kinh tế vừa trải qua giai đoạn dịch bệnh khắc nghiệt nhất kể từ khi dịch Covid-19 xuất hiện cho đến nay. Thực trạng này đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới mọi lĩnh vực của nền kinh tế. Nhiều địa phương kinh tế trọng điểm phải thực hiện giãn cách xã hội kéo dài. Do đó, thành quả tăng trưởng 9 tháng như trên vẫn được coi là một thành công lớn của nước ta, trong việc vừa phòng chống dịch bệnh, vừa duy trì sản xuất kinh doanh.

Nghi ngại quanh hiện tượng tăng trưởng tín dụng vượt xa GDP

Tính đến cuối tháng 9/2021, huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 4,28%.

Tuy nhiên, điều đáng chú ý là khả năng hấp thụ nguồn vốn tín dụng không những không sụt giảm, mà tăng trưởng tín dụng 9 tháng đầu năm 2021 thậm chí còn cao hơn so với năm 2020. Tính đến cuối tháng 9/2021, huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 4,28% (cùng thời điểm năm 2020 tăng 7,48%); nhưng tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt được mức 7,17% (cùng thời điểm năm 2020 tăng 4,99%). Một số chuyên gia đưa ra dự báo tăng trưởng tín dụng cả năm có thể vẫn đạt được mức 12%, theo mục tiêu được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đề ra hồi đầu năm.

TS. Nguyễn Trí Hiếu - chuyên gia tài chính ngân hàng cho biết, thông thường các năm trước, tốc độ tăng trưởng tín dụng cao gấp khoảng 2 lần so với tốc độ tăng trưởng GDP là phù hợp. Tuy nhiên, diễn biến 2 chỉ tiêu này trong năm nay đúng là có những yếu tố khác so với thông thường. Tốc độ tăng trưởng tín dụng 9 tháng là 7,17%, gấp tới 5 lần tốc độ tăng GDP.

Nghi ngại quanh hiện tượng tăng trưởng tín dụng vượt xa GDP

Tuy nhiên, bối cảnh kinh tế năm nay cũng cần phải xem xét trên các yếu tố đặc thù, diễn biến dịch bệnh, đặc biệt là giai đoạn dịch bùng nổ phức tạp lên trong quý III là chưa có tiền lệ. Theo đó, nhu cầu vốn tín dụng được đẩy vào nền kinh tế để hỗ trợ các khu vực gặp khó khăn do dịch bệnh là cần thiết.

Nhìn lại diễn biến các năm trước, giai đoạn 2017 và 2018, tăng trưởng tín dụng cao chưa đến 2 lần so với GDP. Tuy nhiên, năm 2020 khi dịch Covid-19 đã bắt đầu xuất hiện và có ảnh hưởng đến kinh tế thì tương quan của 2 chỉ tiêu này cũng đã có những tín hiệu khác, khi tăng trưởng tín dụng năm này đạt 12,17%, còn tăng trưởng GDP tăng trưởng 2,91%. Tốc độ tăng trưởng tín dụng trong năm 2020 theo đó nhanh gấp hơn 4 lần so với tốc độ tăng trưởng của GDP.

Nhu cầu vốn thúc đẩy nền kinh tế

Bối cảnh nền kinh tế trong và sau dịch cho thấy nhu cầu vốn để doanh nghiệp phục hồi là rất lớn, nền kinh tế được ví như một cơ thể vừa qua một đợt ốm cần nguồn năng lượng để hồi sức. Vì vậy, nguồn tiền từ ngân hàng sẽ có vai trò như “dòng sữa” mang năng lượng tiếp sức cho doanh nghiệp phục hồi thể lực. PGS.TS Lê Thanh Tâm - Trưởng bộ môn Ngân hàng thương mại, Đại học Kinh tế Quốc dân cho biết, theo kinh nghiệm quốc tế, những giai đoạn kinh tế đang giai đoạn phục hồi như hiện nay vẫn là thời điểm thích hợp để bơm dòng tín dụng vào nền kinh tế để hỗ trợ các doanh nghiệp ổn định sản xuất.

Theo đó, dòng vốn đi đúng vào những khu vực có nhu cầu thực sự có thể thúc đẩy doanh nghiệp hồi phục, gia tăng sức sản xuất cho nền kinh tế. Gần đây, một số chuyên gia dự báo năm 2021 tuy gặp nhiều khó khăn, đặc biệt trong quý II và quý III, nhưng kinh tế Việt Nam có thể tăng tốc trở lại trong quý IV cao để cả năm tăng trưởng GDP đạt khoảng trên 3%.

Nhu cầu dòng vốn trong bối cảnh hiện nay là cần thiết và phù hợp với thực tế, nhưng kinh tế cũng phải đối mặt với rủi ro khi tỷ lệ đòn bẩy đang ở mức cao. Theo tiết lộ của một đại diện Ngân hàng Nhà nước, tổng dư nợ tín dụng toàn bộ hệ thống ngân hàng đã là xấp xỉ 10 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng gần 120% GDP. Theo đánh giá của WB, Việt Nam là một trong những quốc gia có hệ số đòn bẩy tài chính rất lớn. Điều này đặt ra yêu cầu việc kiểm soát dòng tín dụng thời điểm hiện tại là hết sức quan trọng. Theo đó, tín dụng buộc phải phải hướng vào khu vực sản xuất, tạo ra sức bật sản xuất của cải vật chất, thúc đẩy GDP phục hồi. Bối cảnh này đặt ra yêu cầu về việc kiểm soát dòng tín dụng để vốn đến được đúng khu vực sản xuất, vì nếu dòng vốn chảy “tràn lan” sang các khu vực phi sản xuất (ví dụ đầu cơ bất động sản), có thể sẽ dễ gây ra những bất ổn cho kinh tế trong tương lai.

Chí Tín

Đọc thêm

Đề xuất nâng mức giảm trừ nhiều loại bảo hiểm lên 3 triệu đồng/tháng khi tính thuế thu nhập cá nhân

Đề xuất nâng mức giảm trừ nhiều loại bảo hiểm lên 3 triệu đồng/tháng khi tính thuế thu nhập cá nhân

(TBTCO) - Bộ Tài chính đề xuất nâng mức đóng góp bảo hiểm được trừ khi tính thuế thu nhập cá nhân từ 1 triệu đồng lên 3 triệu đồng/tháng, quy định áp dụng với các khoản đóng vào quỹ hưu trí bổ sung, bảo hiểm hưu trí tự nguyện và bảo hiểm nhân thọ cho người lao động.
VietinBank triển khai gói ưu đãi lớn cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu vừa và nhỏ

VietinBank triển khai gói ưu đãi lớn cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu vừa và nhỏ

(TBTCO) - Chương trình “SME Global Boost” của VietinBank mang đến loạt ưu đãi phí giao dịch ngoại tệ và tài trợ thương mại, hỗ trợ doanh nghiệp xuất nhập khẩu vừa và nhỏ tối ưu chi phí và nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh thương mại quốc tế nhiều biến động.
Giá vàng hôm nay ngày 30/3: Giá vàng trong nước duy trì quanh ngưỡng 169,8 - 172,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 30/3: Giá vàng trong nước duy trì quanh ngưỡng 169,8 - 172,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng sáng ngày 30/3 ghi nhận trạng thái đi ngang khi các thương hiệu lớn đồng loạt giữ giá, với cả vàng miếng và vàng nhẫn duy trì mặt bằng giao dịch quanh 169,8 - 172,8 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 29/3: Giá vàng chạm ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 29/3: Giá vàng chạm ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 29/3 tiếp tục tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lên ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng.
Nhóm Ngân hàng Thế giới sẵn sàng triển khai hỗ trợ quy mô lớn ứng phó khủng hoảng Trung Đông

Nhóm Ngân hàng Thế giới sẵn sàng triển khai hỗ trợ quy mô lớn ứng phó khủng hoảng Trung Đông

(TBTCO) - Xung đột tại Trung Đông đang đẩy giá năng lượng, phân bón tăng mạnh, làm gián đoạn chuỗi cung ứng và gia tăng chi phí toàn cầu. Nhóm Ngân hàng Thế giới khẳng định sẽ triển khai hỗ trợ quy mô lớn, kết hợp tài chính, chính sách và khu vực tư nhân để giúp các nền kinh tế vượt qua cú sốc và phục hồi tăng trưởng.
"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

Với tỷ trọng 42,3% tổng dư nợ, nhóm “big 4” dự kiến giải ngân thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng năm 2026 nhằm hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, áp lực giữ ổn định mặt bằng lãi suất cho vay vẫn hiện hữu, khi chi phí vốn gia tăng, lãi suất huy động tăng, đặc biệt chi phí dự phòng rủi ro nợ xấu chiếm tới 18 - 20% cơ cấu chi phí của ngành.
Sacombank có tân Phó Tổng giám đốc người Pháp

Sacombank có tân Phó Tổng giám đốc người Pháp

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank, mã Ck: STB) vừa công bố và trao quyết định bổ nhiệm ông Loic Faussier giữ chức Phó Tổng giám đốc, phụ trách mảng Quản trị rủi ro, pháp chế và tuân thủ.
PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

Dù chịu tác động từ thiên tai, cạnh tranh từ thị trường bảo hiểm phi nhân thọ và biến động nội bộ, PJICO vẫn hoàn thành vượt nhiều chỉ tiêu năm 2025. Bước sang 2026, PJICO đặt mục tiêu doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 4.989 tỷ đồng, tăng 8%; lợi nhuận 324,5 tỷ đồng và cổ tức dự kiến 12%, đồng thời kiện toàn Hội đồng quản trị.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,080 17,380
Kim TT/AVPL 17,090 17,390
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,080 17,380
Nguyên Liệu 99.99 15,950 16,150
Nguyên Liệu 99.9 15,900 16,100
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,940 17,340
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,890 17,290
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,820 17,270
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,800 173,800
Hà Nội - PNJ 170,800 173,800
Đà Nẵng - PNJ 170,800 173,800
Miền Tây - PNJ 170,800 173,800
Tây Nguyên - PNJ 170,800 173,800
Đông Nam Bộ - PNJ 170,800 173,800
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,080 17,380
Miếng SJC Nghệ An 17,080 17,380
Miếng SJC Thái Bình 17,080 17,380
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,080 17,380
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,080 17,380
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,080 17,380
NL 99.90 15,770
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,800
Trang sức 99.9 16,570 17,270
Trang sức 99.99 16,580 17,280
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,708 17,382
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,708 17,383
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,706 1,736
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,706 1,737
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,686 1,721
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,896 170,396
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,338 129,238
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 10,829 11,719
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,241 105,141
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,594 100,494
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 63,023 71,923
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Cập nhật: 31/03/2026 06:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17524 17797 18373
CAD 18395 18672 19291
CHF 32283 32666 33306
CNY 0 3470 3830
EUR 29639 29910 30937
GBP 34056 34446 35373
HKD 0 3231 3433
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14752 15340
SGD 19874 20156 20686
THB 717 780 833
USD (1,2) 26075 0 0
USD (5,10,20) 26116 0 0
USD (50,100) 26144 26164 26355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,135 26,135 26,355
USD(1-2-5) 25,090 - -
USD(10-20) 25,090 - -
EUR 29,851 29,875 31,107
JPY 161 161.29 169.96
GBP 34,348 34,441 35,413
AUD 17,776 17,840 18,399
CAD 18,635 18,695 19,266
CHF 32,619 32,720 33,478
SGD 20,057 20,119 20,788
CNY - 3,789 3,907
HKD 3,305 3,315 3,432
KRW 16.06 16.75 18.11
THB 766.55 776.02 825.47
NZD 14,782 14,919 15,263
SEK - 2,732 2,812
DKK - 3,995 4,110
NOK - 2,650 2,727
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,124.95 - 6,873.65
TWD 744.81 - 896.72
SAR - 6,921.38 7,245.6
KWD - 83,780 88,593
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,105 26,135 26,355
EUR 29,739 29,858 31,031
GBP 34,274 34,412 35,411
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 32,398 32,528 33,434
JPY 160.83 161.48 168.70
AUD 17,701 17,772 18,354
SGD 20,085 20,166 20,740
THB 779 782 816
CAD 18,612 18,687 19,249
NZD 14,847 15,374
KRW 16.71 18.32
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26225 26225 26355
AUD 17709 17809 18735
CAD 18583 18683 19694
CHF 32534 32564 34139
CNY 3751.5 3776.5 3911.9
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29821 29851 31574
GBP 34360 34410 36168
HKD 0 3355 0
JPY 161.53 162.03 172.59
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14862 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20038 20168 20900
THB 0 746.6 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17080000 17080000 17380000
SBJ 15000000 15000000 17380000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,156 26,206 26,355
USD20 26,156 26,206 26,355
USD1 23,845 26,206 26,355
AUD 17,786 17,886 19,022
EUR 29,996 29,996 31,440
CAD 18,542 18,642 19,971
SGD 20,116 20,266 21,500
JPY 161.19 162.69 167.4
GBP 34,298 34,648 35,555
XAU 16,858,000 0 17,162,000
CNY 0 3,659 0
THB 0 776 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 31/03/2026 06:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80