Nhu cầu tiêu thụ cao su dự báo sẽ suy giảm trong thời gian tới

Đức Việt
(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Nguyễn Đức Dũng - Phó Tổng Giám đốc Sở Giao dịch Hàng hóa Việt Nam (MXV) dự báo, thị trường cao su thế giới trong bối cảnh cuộc chiến thương mại sẽ suy giảm nhu cầu tiêu thụ trong thời gian tới.
aa
Nhu cầu tiêu thụ cao su dự báo sẽ suy giảm trong thời gian tới
Các doanh nghiệp xuất khẩu cao su cần có chiến lược tăng tỷ lệ cao su chế biến để nâng cao giá trị. Ảnh minh họa

PV: Ông đánh giá thế nào về thị trường cao su trong nước và thế giới từ đầu năm 2025 đến nay?

Nhu cầu tiêu thụ cao su dự báo sẽ suy giảm trong thời gian tới

Ông Nguyễn Đức Dũng: Theo tôi, thời gian qua thị trường cao su đã có nhiều biến động, giá cao su có chuỗi tăng, giảm liên tục.

Trên thị trường thế giới, giá hai mặt hàng cao su RSS3 Osaka và cao su TSR20 Singapore từ đầu năm đến nay biến động hầu hết giữa các phiên tăng, giảm chỉ từ 0,03% đến 2%. Trong thời gian này, cao su RSS3 Osaka kết thúc phiên ngày 20/2 đạt mức giá cao nhất là 2.590 USD/tấn và chỉ sau 4 ngày, cao su TSR20 Singapore cũng chạm đỉnh giá 2.063 USD/tấn.

Tuy nhiên, giá cao su thế giới những ngày gần đây lại đang ở mức thấp nhất trong hơn một năm, cụ thể giá cao su RSS3 Osaka đóng cửa phiên giao dịch ngày 7/4 giảm tới 8,1% so với giá tham chiếu hôm trước, xuống mức giá 2.016,68 USD/tấn; cùng ngày cao su TSR20 Singapore kết phiên lao dốc 10,09%, xuống mức giá 1.631 USD/tấn.

Cần chú trọng mở thêm ở thị trường mới

Hiệp hội Cao su Việt Nam khuyến cáo, các doanh nghiệp xuất khẩu cao su cần có chiến lược tăng tỷ lệ cao su chế biến hơn là cao su nguyên liệu để nâng cao giá trị xuất khẩu. Đồng thời, cần chú trọng mở thêm các thị trường mới. Đặc biệt, cần tăng tốc mở rộng thị phần tại thị trường EU, bởi EU là thị trường nhập khẩu cao su và sản phẩm cao su lớn nhất thế giới, đạt bình quân 75 tỷ USD.

Đối với thị trường cao su trong nước, giá cao su mủ chén, mủ dây khô dao động từ đầu năm đến nay từ 16.800 đồng/kg đến 20.000 đồng/kg, đối với cao su mủ nước thì giá dao động từ 390 đến 430 đồng/độ. Mức giá cao su xuống thấp nhất trong giai đoạn cuối tháng 2 và cao nhất vào cuối tháng 3.

PV: Theo ông, đâu là nguyên nhân khiến giá mặt hàng này biến động trái chiều trong mấy tháng qua?

Ông Nguyễn Đức Dũng: Theo tôi, sự biến động về giá cao su thế giới và nội địa từ đầu năm đến nay, nguyên nhân chính vẫn là đến từ sự mất cân đối cung cầu, khi mà sản lượng cao su của các quốc gia sản xuất chính và sự chuyển hướng sang các cây trồng có lợi nhuận cao hơn như dầu cọ do giá cả thấp trong suốt thập kỷ qua, khiến việc trồng lại và trồng mới bị ngừng lại.

Cụ thể về nguồn cung, theo Hiệp hội Cao su thế giới dự báo, sản lượng cao su toàn cầu trong năm 2025 chỉ tăng nhẹ ở mức 0,3% lên 14,9 triệu tấn. Indonesia và Việt Nam, hai quốc gia sản xuất cao su hàng đầu thế giới đang trải qua sự sụt giảm đáng kể về sản lượng.

Dự báo sản lượng của Indonesia sẽ giảm 9,8% so với năm trước, chỉ đạt 2,04 triệu tấn, trong khi Việt Nam có thể chứng kiến mức giảm 1,3% xuống còn 1,28 triệu tấn. Trong khi đó Thái Lan, quốc gia sản xuất cao su lớn nhất thế giới, mang lại một tia hy vọng với dự báo tăng trưởng sản lượng 1,2% vào năm 2025, sau khi có sự sụt giảm nhẹ trong năm 2024. Các quốc gia Tây Phi như Bờ Biển Ngà đang chứng kiến sản lượng cao su tăng, nhưng sản lượng của họ vẫn còn quá thấp để đáp ứng nhu cầu toàn cầu đang tăng cao.

Về nguồn cầu, theo báo cáo của Hiệp hội Cao su thế giới, kỳ vọng ngành công nghiệp ô tô, một trong những ngành chính tiêu thụ cao su tự nhiên sẽ tăng trưởng trở lại trong năm 2025.

PV: Dự báo giá cao su trong nước và thế giới thời gian tới sẽ diễn biến ra sao khi Hoa Kỳ dự kiến áp thuế nhập khẩu cao với nhiều quốc gia, thưa ông?

Ông Nguyễn Đức Dũng: Tôi cho rằng, với chính sách thuế quan của Hoa Kỳ, thị trường cao su thế giới sẽ suy giảm nhu cầu tiêu thụ.

Trong vài ngày gần đây, giá 2 mặt hàng cao su RSS3 Osaka và TRS20 Singapore đã mất trung bình hơn 17% kể từ ngày 3/4, ngay sau khi Tổng thống Trump công bố chính sách thuế quan vào ngày 2/4 (theo giờ địa phương).

Đặc biệt, mức thuế 25% đối với ô tô và phụ tùng ô tô nhập khẩu vào Hoa Kỳ càng làm suy giảm nghiêm trọng nhu cầu tiêu thụ xe ô tô trong thời gian tới, ngành hàng đóng góp chủ yếu vào tiêu thụ cao su trên thế giới. Cuộc thương chiến có lẽ mới chỉ bắt đầu, biến động kinh tế vĩ mô sẽ còn tiếp diễn, thị trường cao su thế giới tới đây khả năng cao sẽ suy giảm.

Đối với thị trường cao su nội địa, theo báo cáo của Cục Hải quan, trị giá cao su xuất khẩu 3 tháng đầu năm 2025 đạt 737,8 triệu USD, trong đó xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc chiếm tới 72% với mức 531,2 triệu USD. Việc phụ thuộc quá nhiều vào thị trường Trung Quốc khiến cho cao su Việt Nam bị ảnh hưởng lớn mỗi khi thị trường Trung Quốc biến động, đặc biệt là trong khi nước này đang bị Hoa Kỳ áp thuế lên đến mức 125%.

PV: Xin cảm ơn ông!

Tạm dừng áp dụng thuế đối ứng, giá cao su quay đầu hồi phục

Giá cao su thế giới ngày 11/4 vẫn giảm mạnh ở Thái Lan nhưng tăng mạnh trở lại ở Nhật Bản và Trung Quốc. Cụ thể, giá RSS3 tại Sở giao dịch hàng hóa Tokyo giao tháng 4/2025 tăng mạnh 17,4 Yen; lên mức 299,1 Yen/kg.

Trong khi đó, trên sàn giao dịch hàng hóa tương lai Thượng Hải, giá mủ cao su tự nhiên giao kỳ hạn tháng 4/2025 tăng tới 315 CNY; đạt mức 14.425 CNY/tấn. Còn giao kỳ hạn tháng 4/2025 tại Thái Lan giảm thêm 3,13 Baht; về mức 72,47 Baht/kg.

Việc Tổng thống Mỹ Donald Trump thông báo sẽ tạm dừng áp dụng thuế quan đối ứng trong 90 ngày ngoại trừ Trung Quốc đã khiến giá mủ cao su tại nhiều thị trường hồi phục.

Các chuyên gia cho rằng, tâm lý thị trường bị ảnh hưởng bởi đợt giảm mạnh của giá dầu, nguyên nhân đến từ lo ngại về cuộc chiến thương mại toàn cầu đang leo thang.

Tuy nhiên, đà giảm tiếp theo được kìm lại nhờ kỳ vọng vào các gói kích thích mới từ Trung Quốc và nguy cơ gián đoạn nguồn cung cao su thiên nhiên (NR) từ các quốc gia sản xuất chính do đang là mùa đông.

Hiện giá kỳ hạn cao su Nhật Bản đã giảm xuống mức thấp nhất trong hơn một năm, do mức thuế nhập khẩu 104% của Mỹ đối với hàng hóa Trung Quốc làm trầm trọng thêm cuộc chiến thương mại toàn cầu và dấy lên lo ngại về suy thoái kinh tế.

Các mức thuế của ông Trump đối với hàng chục quốc gia đã chính thức có hiệu lực, trong đó có mức thuế khổng lồ 104% đối với hàng hóa Trung Quốc, khiến cuộc chiến thương mại toàn cầu trở nên nghiêm trọng hơn và thúc đẩy làn sóng bán tháo lan rộng trên các thị trường tài chính.

Đáp lại việc leo thang thuế quan, giá dầu giảm xuống mức thấp nhất trong 4 năm. Cao su thiên nhiên thường bị ảnh hưởng bởi giá dầu do cạnh tranh thị phần với cao su tổng hợp - sản phẩm có nguồn gốc từ dầu mỏ.

Tại thị trường trong nước, giá thu mua mủ cao su vẫn được giữ ổn định tại nhiều doanh nghiệp lớn. Cụ thể, Công ty Cao su Bà Rịa thu mua cao su mủ nước mức 1 có giá 452 đồng/độ TSC/kg áp dụng cho độ TSC từ 30 trở lên; mức 2 có giá 447 đồng/độ TSC/kg áp dụng cho độ TSC từ 25 đến dưới 30; mức 3 có giá 442 đồng/độ TSC/kg, áp dụng cho độ TSC từ 20 đến dưới 25.

Mủ chén, mủ đông có độ DRC ≥ 50% ở mức 18.000 đồng/kg; mủ chén, mủ đông có độ DRC từ 45 - 50% ở mức 16.700 đồng/kg; mủ đông có độ DRC từ 35 - 45% ở mức 13.500 đồng/kg.

Công ty Cao su Mang Yang thu mua mủ nước loại 1 ở mức 433 đồng/TSC/kg; mủ nước loại 2 ở mức 429 đồng/TSC/kg. Mủ đông tạp loại 1 ở mức 436 đồng/DRC/kg; mủ đông tạp loại 2 ở mức 382 đồng/DRC/kg./.

Đức Việt

Đọc thêm

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

(TBTCO) - Phát biểu tại Lễ ra mắt giao diện mới của báo điện tử Báo Tài chính - Đầu tư (thoibaotaichinhvietnam.vn), Thứ trưởng Trần Quốc Phương tin tưởng với bề dày truyền thống đã được xây dựng và phát triển qua nhiều năm của ba cơ quan báo chí tiền thân, cùng với sự đoàn kết, sáng tạo và quyết tâm đổi mới của tập thể lãnh đạo, phóng viên, biên tập viên và người lao động, Báo Tài chính - Đầu tư sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, đóng góp ngày càng tích cực vào công tác thông tin tuyên truyền của ngành Tài chính và vào sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước.
Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Phát biểu tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Liên bang Nga, Thủ tướng Phạm Minh Chính mong muốn doanh nghiệp hai nước tăng cường trao đổi, tìm kiếm cơ hội hợp tác đầu tư, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

(TBTCO) - Theo các chuyên gia, doanh nghiệp Việt đang bước vào một cuộc cạnh tranh mới, khi chuỗi cung ứng đảo chiều và “luật chơi” thị trường thay đổi nhanh chóng. Lợi thế giá rẻ không còn mang tính quyết định, trong khi áp lực từ địa chính trị, tiêu chuẩn xanh và yêu cầu chuỗi cung ứng buộc doanh nghiệp phải tái cấu trúc nhanh hơn, sâu hơn và thực chất hơn.
EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

(TBTCO) - Trong bối cảnh các cam kết đầu tư trị giá hàng tỷ EUR đang là tâm điểm tại Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam - Chiến lược Cửa ngõ toàn cầu tổ chức ngày 24/3 tại Hà Nội, Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) đã chính thức ra mắt ấn bản thứ 17 của Sách Trắng. Ấn phẩm thường niên này đóng vai trò là công cụ chiến lược nhằm hỗ trợ việc triển khai hiệu quả và bền vững các dòng vốn đầu tư quy mô lớn từ châu Âu vào Việt Nam.
Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

(TBTCO) - Sáng 24/3 tại Hà Nội, Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam quy tụ khoảng 500 đại biểu cấp cao hai bên, diễn ra trong bối cảnh quan hệ vừa nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện. Sự kiện ghi nhận gói đầu tư hơn 560 triệu EUR, mở rộng hợp tác trong giao thông hiện đại, năng lượng sạch và các động lực tăng trưởng mới.
Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

(TBTCO) - Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công thương) cho biết, gián đoạn tại eo biển Hormuz đang gây biến động mạnh thị trường năng lượng toàn cầu, vượt cả các cú sốc dầu mỏ thập niên 1970, buộc nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, khẩn trương ứng phó để bảo đảm nguồn cung và ổn định kinh tế.
“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

(TBTCO) - Gần 300 nghìn tỷ đồng là số vốn đầu tư mà Đà Nẵng dự kiến thu hút đầu tư theo phương thức đối tác công - tư (PPP) vào khu vực phía Nam thành phố nhằm khai thác dư địa cho phát triển công nghiệp, du lịch, hệ sinh thái đô thị sân bay, cảng biển, hạ tầng, hướng đến xây dựng khu vực này trở thành cực tăng trưởng tích cực.
Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

(TBTCO) - Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn vừa ký Quyết định số 458/QĐ-TTg phê duyệt Đề án cập nhật triển khai Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 12:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17767 18041 18627
CAD 18525 18802 19419
CHF 32612 32996 33645
CNY 0 3470 3830
EUR 29835 30108 31141
GBP 34397 34788 35725
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14980 15568
SGD 20001 20283 20811
THB 719 782 836
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 12:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80