Tạo bước tiến tích cực cho sự phát triển dài hạn của ngành bảo hiểm

Duy Thái
(TBTCVN) - Dự thảo Luật Kinh doanh bảo hiểm (sửa đổi) đã cho phép các công ty bảo hiểm tự chủ hơn trong hoạt động kinh doanh; đồng thời, vai trò của cơ quan quản lý sẽ là ưu tiên quản lý giám sát, thúc đẩy tính minh và sự phát triển lành mạnh của thị trường bảo hiểm.
aa

bh

Dự thảo Luật Kinh doanh bảo hiểm khi được ban hành kỳ vọng sẽ tăng “chất” cho thị trường bảo hiểm.

Doanh nghiệp bảo hiểm được tăng tính tự chủ

Bộ Tài chính đã trình Chính phủ dự thảo Luật Kinh doanh bảo hiểm (sửa đổi), dự kiến có hiệu lực từ năm 2023.

Dự thảo Luật Kinh doanh bảo hiểm (sửa đổi) gồm 8 chương, 156 điều, tập trung sửa đổi, thể chế hóa 7 nhóm chính sách lớn. Trong đó, dự thảo luật mở rộng đối tượng áp dụng so với luật cũ là tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô; sửa đổi, bổ sung giải thích từ ngữ, nguyên tắc cung cấp và sử dụng dịch vụ bảo hiểm, phân loại các loại hình bảo hiểm thành 4 loại cơ bản theo thông lệ quốc tế là bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm phi nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe và các nghiệp vụ bảo hiểm khác do Chính phủ quy định tùy từng thời kỳ, giới hạn lại để phản ánh đúng bản chất của loại hình bảo hiểm này.

Không làm thay đổi đột ngột đối với triển vọng ngành bảo hiểm

Các chuyên gia SSI Research cho rằng, với những thay đổi về mô hình quản lý vốn, có thể sẽ có áp lực tăng vốn tại một số công ty bảo hiểm nhất định. Tuy nhiên, các quy định này có giai đoạn chuyển tiếp 5 năm, tạo một khoảng thời gian đệm giữa khung pháp lý và việc áp dụng trong hoạt động thực tế (2023 – 2027). Do đó, điều này sẽ không gây ra những thay đổi đột ngột đối với triển vọng ngắn hạn và trung hạn của ngành.

Về doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, dự thảo luật mở rộng đối tượng nhà đầu tư nước ngoài, cho phép các tập đoàn tài chính có hoạt động kinh doanh bảo hiểm; bổ sung các quy định mới nhằm nâng cao quản trị điều hành của doanh nghiệp.

Đánh giá về các điểm mới của dự thảo luật, các chuyên gia của Trung tâm Phân tích và Tư vấn đầu tư, Công ty Chứng khoán SSI (SSI Research) cho rằng, dự thảo Luật Kinh doanh bảo hiểm (sửa đổi) lần này là một bước tiến tích cực cho sự phát triển dài hạn của ngành bảo hiểm.

Theo đó, dự thảo luật sửa đổi cho phép các công ty bảo hiểm tự chủ hơn trong hoạt động kinh doanh, trong đó các cơ quan quản lý sẽ không can thiệp quá sâu về mặt kỹ thuật vào hoạt động của các công ty bảo hiểm như trước đây. Thay vào đó, vai trò của cơ quan quản lý sẽ là ưu tiên quản lý giám sát, thúc đẩy tính minh bạch và sự phát triển lành mạnh của thị trường bảo hiểm.

Các chuyên gia của SSI Research cũng đã chỉ ra nhiều hướng dẫn mới để hỗ trợ sự thay đổi về vai trò của cơ quan lý và các công ty bảo hiểm.

Theo đó, tại Điều 7 của dự thảo nêu rõ nguyên tắc cơ bản trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm là doanh nghiệp bảo hiểm có quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Ngoài ra, Điều 96 cũng nêu rõ doanh nghiệp bảo hiểm được chủ động, tự chịu trách nhiệm trong xây dựng, thiết kế và phát triển sản phẩm bảo hiểm. Trong khi đó, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành quy định về khung năng lực, tiêu chuẩn, hướng dẫn việc thực hiện các chức năng: đề xuất mức phí sàn, thẩm định phương pháp định phí bảo hiểm, phương pháp trích lập dự phòng nghiệp vụ, thẩm định các yếu tố trong công thức tính toán vốn trên cơ sở rủi ro và một vài khía cạnh khác (Điều 163).

Như vậy, “các cơ quan quản lý hiện sẽ giám sát các công ty bảo hiểm về mặt mô hình hơn là đi sâu về kỹ thuật và từng sản phẩm riêng lẻ như trước” – chuyên gia SSI Research nhận xét.

Yêu cầu sự minh bạch hơn của ngành bảo hiểm

Cũng theo dự thảo, các cơ quan quản lý sẽ khuyến khích, tạo điều kiện để doanh nghiệp nghiên cứu, phát triển công nghệ, sản phẩm, dịch vụ, ứng dụng công nghệ tiên tiến trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm (Điều 5).

Theo đó, dự thảo luật lần này bổ sung 1 mục mới bao gồm 4 Điều (từ Điều 121 đến Điều 124) về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm, trong đó có danh mục dịch vụ liên quan đến bảo hiểm được thực hiện toàn bộ hoặc một phần qua môi trường mạng. Theo chuyên gia của SSI Research, hướng dẫn chung này và các quy định liên quan tiếp theo sẽ rất cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh các công ty bảo hiểm công nghệ (Insurtech) đã và đang phát triển mạnh mẽ trong thời gian gần đây.

Dự thảo sửa đổi yêu cầu sự minh bạch hơn của ngành bảo hiểm. Theo đó, các công ty bảo hiểm phải công bố báo cáo tài chính bán niên và cả năm đã được kiểm toán, cũng như các báo cáo về khả năng thanh toán và quản trị rủi ro doanh nghiệp trên trang điện tử của công ty và trang thông tin của Bộ Tài chính. Báo cáo tài chính, báo cáo đánh giá khả năng thanh toán và báo cáo tách nguồn vốn chủ sở hữu, nguồn phí bảo hiểm đều phải được kiểm toán. Hiện tại, chỉ có một số công ty bảo hiểm công bố biên khả năng thanh toán trong báo cáo tài chính đã được kiểm toán.

Tổng doanh thu phí bảo hiểm ước đạt 133.040 tỷ đồng

Theo số liệu từ Bộ Tài chính, tính đến hết tháng 8/2021, một số chỉ tiêu báo cáo về thị trường bảo hiểm của Việt Nam vẫn cho thấy sự tích cực, mặc dù dịch Covid-19 diễn biến phức tạp đã tác động không nhỏ tới thị trường bảo hiểm.

Theo đó, tổng tài sản thị trường bảo hiểm ước đạt 643.588 tỷ đồng (tăng 22,10% so với cùng kỳ năm 2020), trong đó: doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ ước đạt 102.222 tỷ đồng; các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ ước đạt 541.366 tỷ đồng.

Tổng doanh thu phí bảo hiểm ước đạt 133.040 tỷ đồng (tăng 16,96% so với cùng kỳ năm 2020), trong đó: lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ ước đạt 38.092 tỷ đồng, lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ ước đạt 94.948 tỷ đồng.

Qua 8 tháng năm 2021, chi trả quyền lợi bảo hiểm ước đạt 34.398 tỷ đồng (tăng 12,70% so với cùng kỳ năm 2020), trong đó: doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ ước đạt 13.590 tỷ đồng, các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ ước đạt 20.808 tỷ đồng.

Bộ Tài chính tiếp tục theo dõi chặt chẽ hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm, đặc biệt trong bối cảnh tình hình dịch Covid-19 đang diễn biến phức tạp nhằm đảm bảo tối đa quyền lợi của doanh nghiệp và người dân.

Duy Thái

Duy Thái

Đọc thêm

Mặt bằng rủi ro khách hàng đảo chiều tăng nhẹ, trên 11% tổ chức tín dụng lo lợi nhuận giảm

Mặt bằng rủi ro khách hàng đảo chiều tăng nhẹ, trên 11% tổ chức tín dụng lo lợi nhuận giảm

(TBTCO) - Khảo sát từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, kỳ vọng tăng trưởng huy động và tín dụng năm 2026 bị điều chỉnh giảm lần lượt 0,45 điểm phần trăm và 2,1 điểm phần trăm so với kỳ trước. Rủi ro khách hàng đảo chiều tăng nhẹ, kéo theo áp lực nợ xấu gia tăng. Đáng chú ý, 11,3% tổ chức tín dụng lo ngại lợi nhuận sụt giảm.
Chính sách tín dụng đặc thù hỗ trợ hơn 14 nghìn người chấp hành xong án phạt tù vay vốn

Chính sách tín dụng đặc thù hỗ trợ hơn 14 nghìn người chấp hành xong án phạt tù vay vốn

(TBTCO) - Chính sách tín dụng với người chấp hành xong án phạt tù được coi là chính sách tín dụng đặc thù và có ý nghĩa nhân văn, góp phần hỗ trợ ổn định cuộc sống và hạn chế tái phạm tội. Ngân hàng Chính sách xã hội đã chủ động triển khai, đến nay dư nợ đạt khoảng 1,2 nghìn tỷ đồng, hỗ trợ hơn 14 nghìn người chấp hành xong án phạt tù vay vốn.
Shinhan Bank bứt tốc tín dụng, báo lãi trên 5.400 tỷ đồng

Shinhan Bank bứt tốc tín dụng, báo lãi trên 5.400 tỷ đồng

(TBTCO) - Shinhan Bank Việt Nam ghi nhận tổng tài sản gần 237 nghìn tỷ đồng vào cuối năm 2025, tăng hơn 22%, tín dụng tăng 23,8%, lãi trước thuế đạt 5.411,7 tỷ đồng, NIM duy trì 3,79%. Kết quả kinh doanh phản ánh nền tảng tăng trưởng ổn định, dù chịu áp lực chi phí vốn và cạnh tranh lãi suất.
Lãi suất “nổi sóng", điều hành giữ nhịp tránh "giật cục"

Lãi suất “nổi sóng", điều hành giữ nhịp tránh "giật cục"

(TBTCO) - PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân - Giám đốc Chương trình đào tạo Thị trường Chứng khoán, Khoa Ngân hàng, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, các chương trình “cộng lãi suất ngầm” cho thấy cạnh tranh huy động ở giai đoạn gay gắt hơn. Cần điều hành theo hướng phân tầng lãi suất, tín dụng; giữ hệ thống không rơi vào trạng thái “giật cục”.
Tập đoàn Bảo Việt: Tổng tài sản hợp nhất tại ngày 31/12/2025 đạt gần 292.000 tỷ đồng, tăng trưởng 16,1%

Tập đoàn Bảo Việt: Tổng tài sản hợp nhất tại ngày 31/12/2025 đạt gần 292.000 tỷ đồng, tăng trưởng 16,1%

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt vừa công bố kết quả kinh doanh năm 2025 (kiểm toán), theo đó, Công ty mẹ và các đơn vị thành viên ghi nhận mức tăng trưởng khả quan với tổng doanh thu hợp nhất đạt 59.700 tỷ đồng, tăng 5% so với năm 2024. Tổng tài sản hợp nhất tại ngày 31/12/2025 đạt gần 292.000 tỷ đồng, tăng trưởng khả quan 16,1% so với 31/12/2024.
Sun Life khẳng định cam kết lâu dài vì sức khỏe thế hệ trẻ với chương trình Hoops + Health 2026

Sun Life khẳng định cam kết lâu dài vì sức khỏe thế hệ trẻ với chương trình Hoops + Health 2026

(TBTCO) - Sun Life Việt Nam vừa chính thức công bố chương trình Hoops + Health năm 2026 - một dự án cộng đồng quy mô khu vực châu Á do Sun Life và tổ chức Beyond Sport đồng sáng lập - khẳng định cam kết dài hạn trong việc thúc đẩy lối sống năng động và xây dựng nền tảng sức khỏe bền vững cho thanh thiếu niên châu Á thông qua bộ môn bóng rổ.
Tỷ giá USD hôm nay (1/4): DXY thủng mốc 100 điểm, tỷ giá bán USD ngân hàng vẫn kịch trần

Tỷ giá USD hôm nay (1/4): DXY thủng mốc 100 điểm, tỷ giá bán USD ngân hàng vẫn kịch trần

(TBTCO) - Sáng 01/4, tỷ giá trung tâm tăng 3 đồng lên 25.105 VND/USD; với biên độ 5%, tỷ giá tại các ngân hàng thương mại dao động 23.850 - 26.360 VND/USD trong phiên hôm nay. Trước đó, tỷ giá USD chiều bán ra các ngân hàng lên kịch trần. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY giảm 0,26% xuống 99,7 điểm, lần đầu dưới mốc 100 điểm kể từ giữa tháng 3; kỳ vọng Mỹ sớm rút khỏi xung đột làm suy yếu vai trò trú ẩn của USD.
Giá vàng đang trên đà giảm mạnh nhất kể từ năm 2008

Giá vàng đang trên đà giảm mạnh nhất kể từ năm 2008

(TBTCO) - Giá vàng tăng nhẹ trong phiên giao dịch đầu ngày 31/3, với giá vàng tương lai tại New York tăng 0,7% lên 4.589,30 USD/ounce, nhưng vẫn đang trên đà ghi nhận mức giảm hàng tháng lớn nhất trong gần 17 năm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,370 17,670
Kim TT/AVPL 17,380 17,680
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,370 17,670
Nguyên Liệu 99.99 15,920 16,120
Nguyên Liệu 99.9 15,870 16,070
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,870 17,170
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,820 17,120
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,750 17,100
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 173,700 176,700
Hà Nội - PNJ 173,700 176,700
Đà Nẵng - PNJ 173,700 176,700
Miền Tây - PNJ 173,700 176,700
Tây Nguyên - PNJ 173,700 176,700
Đông Nam Bộ - PNJ 173,700 176,700
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,370 17,670
Miếng SJC Nghệ An 17,370 17,670
Miếng SJC Thái Bình 17,370 17,670
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,350 17,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,350 17,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,350 17,650
NL 99.90 15,870
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,900
Trang sức 99.9 16,840 17,540
Trang sức 99.99 16,850 17,550
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 1,767
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,737 17,672
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,737 17,673
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,735 1,765
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,735 1,766
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,715 175
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 166,767 173,267
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 122,513 131,413
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 110,262 119,162
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 98,011 106,911
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 93,285 102,185
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 64,232 73,132
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 1,767
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 1,767
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 1,767
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 1,767
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 1,767
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 1,767
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 1,767
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 1,767
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 1,767
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 1,767
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 1,767
Cập nhật: 02/04/2026 03:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17747 18020 18593
CAD 18428 18705 19321
CHF 32553 32937 33581
CNY 0 3470 3830
EUR 29903 30176 31204
GBP 34212 34603 35537
HKD 0 3229 3431
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 14876 15458
SGD 19981 20264 20793
THB 723 787 840
USD (1,2) 26070 0 0
USD (5,10,20) 26111 0 0
USD (50,100) 26139 26159 26360
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,140 26,140 26,360
USD(1-2-5) 25,095 - -
USD(10-20) 25,095 - -
EUR 29,986 30,010 31,252
JPY 161.73 162.02 170.78
GBP 34,355 34,448 35,421
AUD 17,934 17,999 18,563
CAD 18,593 18,653 19,223
CHF 32,713 32,815 33,576
SGD 20,094 20,156 20,815
CNY - 3,795 3,913
HKD 3,291 3,301 3,419
KRW 16.19 16.88 18.26
THB 772 781.53 832.13
NZD 14,854 14,992 15,344
SEK - 2,753 2,833
DKK - 4,013 4,129
NOK - 2,674 2,752
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,111.86 - 6,857.48
TWD 744.46 - 896.33
SAR - 6,894.3 7,218.62
KWD - 83,531 88,332
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,110 26,140 26,360
EUR 29,882 30,002 31,178
GBP 34,215 34,352 35,350
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,429 32,559 33,474
JPY 161.75 162.40 169.70
AUD 17,868 17,940 18,525
SGD 20,128 20,209 20,785
THB 788 791 826
CAD 18,591 18,666 19,228
NZD 14,885 15,413
KRW 16.73 18.35
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26326 26226 26360
AUD 17926 18026 18954
CAD 18602 18702 19718
CHF 32787 32817 34400
CNY 3770.7 3795.7 3931
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30071 30101 31824
GBP 34501 34551 36308
HKD 0 3355 0
JPY 162.45 162.95 173.46
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14982 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20137 20267 21002
THB 0 752.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17370000 17370000 17670000
SBJ 16000000 16000000 17670000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,164 26,214 26,360
USD20 26,164 26,214 26,360
USD1 26,164 26,214 26,360
AUD 17,889 17,989 19,100
EUR 30,155 30,155 31,564
CAD 18,530 18,630 19,942
SGD 20,176 20,326 20,891
JPY 162.97 164.47 169.01
GBP 34,308 34,658 35,526
XAU 17,298,000 0 17,602,000
CNY 0 3,675 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/04/2026 03:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80