Việt Nam còn nhiều dư địa để phát triển công nghiệp văn hoá

Mai Tấn
(TBTCO) - Theo báo cáo của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTTDL), trong giai đoạn từ năm 2018 - 2022, giá trị sản xuất của các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đóng góp ước đạt 1,059 triệu tỷ đồng (44 tỷ USD). Trong 5 năm qua, bình quân tốc độ tăng trưởng về số lượng các cơ sở kinh tế hoạt động trong các ngành công nghiệp văn hóa đạt 7,21%/năm.
aa
Công nghiệp văn hóa đang là xu thế và dần trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế Sửa chính sách thuế để tạo điều kiện tốt nhất cho doanh nghiệp lĩnh vực văn hóa Dành gói tín dụng ưu đãi khoảng 20-30 nghìn tỷ đồng cho ngành công nghiệp văn hóa


5 năm đóng góp 44 tỷ USD

Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc về phát triển các ngành công nghiệp văn hóa tổ chức ngày 22/12, Bộ trưởng Bộ VHTTDL Nguyễn Văn Hùng nhấn mạnh, nhìn lại chặng đường 7 năm triển khai Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hoá Việt Nam (Chiến lược 1755), với sự lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, nỗ lực của các bộ, ngành, địa phương, sự đồng hành của nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp, công tác phát triển các ngành công nghiệp văn hoá Việt Nam đã đạt được một số kết quả nổi bật.

Việt Nam còn nhiều dư địa để phát triển công nghiệp văn hoá
Bộ trưởng Bộ VHTTDL Nguyễn Văn Hùng báo cáo tại Hội nghị. Ảnh: Nhật Bắc

“So sánh số liệu thống kê sau 7 năm của chúng ta với tình hình chung trên thế giới, có thể thấy, Việt Nam đang là quốc gia tầm trung về phát triển công nghiệp văn hoá và còn nhiều dư địa phát triển” - Bộ trưởng Nguyễn Văn Hùng nhận định.

Năm 2015, các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 2,68% GDP. Sau 3 năm 2016, 2017, 2018 triển khai Chiến lược 1755: năm 2018, 12 ngành công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 3,61% GDP. Trong giai đoạn từ năm 2018 - 2022, giá trị sản xuất của các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đóng góp ước đạt 1,059 triệu tỷ đồng (44 tỷ USD).

Về đóng góp của các ngành công nghiệp văn hoá đối với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, Bộ trưởng Bộ VHTTDL cho biết, với đặc trưng sáng tạo và công nghệ, công nghiệp văn hóa đang mang đến sự thay đổi cơ cấu của các ngành có liên quan, tiếp đó là sự thay đổi cơ cấu ngành kinh tế. Sự xuất hiện của các trung tâm công nghiệp văn hóa, các thành phố sáng tạo đã và đang làm thay đổi cơ cấu vùng kinh tế. Các doanh nghiệp văn hóa, bao gồm cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, ngày càng xuất hiện nhiều hơn.

Sự thay đổi này đã tạo nên các kết quả đáng ghi nhận ở cả 12 ngành (giai đoạn 2018 - 2022, đối với kiến trúc: giá trị gia tăng bình quân tăng 7,37%; đối với thiết kế: giá trị gia tăng của bình quân tăng 6,36%; đối với thời trang: giá trị gia tăng bình quân tăng 7,3%; đối với điện ảnh: giá trị gia tăng bình quân 7,94%...).

Về đóng góp của các ngành công nghiệp văn hoá trong công tác quảng bá hình ảnh, bản sắc và gia tăng sức hấp dẫn, thuyết phục của sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam: Hà Nội, Đà Lạt, Hội An là 3 thành phố của Việt Nam đã gia nhập Mạng lưới các thành phố sáng tạo của UNESCO, trong đó Hà Nội trở thành thành phố Thiết kế sáng tạo, Đà Lạt thành phố sáng tạo âm nhạc và Hội An thành phố thủ công và nghệ thuật dân gian.

Sự xuất hiện của 3 thành phố sáng tạo trên bản đồ các thành phố sáng tạo toàn cầu là một căn cứ vững vàng để Việt Nam có thể xác định mục tiêu trong giai đoạn tiếp theo là trở thành trung tâm công nghiệp văn hóa thu hút và hội tụ sự sáng tạo tại khu vực Đông Nam Á.

Đặt mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP

Bên cạnh việc nhìn nhận các thành quả đã đạt được, Bộ trưởng Bộ VHTTDL cũng thẳng thắn nhìn nhận những bất cập và thách thức đặt ra trong việc phát triển các ngành công nghiệp văn hoá.

Theo Bộ trưởng Nguyễn Văn Hùng, hiện nay chưa có một văn bản pháp luật (luật, nghị định) quy định thực hiện nội dung quản lý nhà nước về công nghiệp văn hoá. Đồng thời, còn thiếu các cơ chế, chính sách cụ thể, phù hợp về thu hút nguồn vốn, phát triển nguồn lực để hỗ trợ, thúc đẩy các ngành công nghiệp văn hóa phát triển toàn diện trên cả nước nói chung và ở từng địa phương nói riêng.

Nguồn lực đầu tư mang tính dàn trải, chưa có trọng tâm, trọng điểm, chưa tập trung phát triển một số lĩnh vực chuyên ngành có lợi thế, tiềm năng nhằm tạo ra các sản phẩm chủ lực, trọng tâm phát triển các ngành công nghiệp văn hóa.

Việt Nam còn nhiều dư địa để phát triển công nghiệp văn hoá
Hội nghị toàn quốc về phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam diễn ra theo hình thức trực tiếp và trực tuyến

Nguồn nhân lực trong các ngành công nghiệp văn hóa còn thiếu về số lượng và chất lượng. Chính sách đãi ngộ, thu hút nguồn nhân lực trong các ngành công nghiệp văn hóa còn chưa thực sự khuyến khích và thu hút nhân lực vào lĩnh vực này…

Theo Bộ trưởng Bộ VHTTDL, sở dĩ phát triển công nghiệp văn hóa ở Việt Nam còn nhiều bất cập, hạn chế, khó khăn là do ngành công nghiệp văn hóa có phạm trù lớn, bao gồm đa ngành, nhiều lĩnh vực có nội hàm rộng nhưng chưa được cụ thể hoá, do vậy gặp khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện. Nhiều cơ quan, đơn vị cùng tham gia quản lý, do vậy chưa có giải pháp phát triển tổng thể.

Các ngành công nghiệp văn hóa là nhóm ngành dễ bị tác động bởi các yếu tố tác động bên ngoài. Nhiều sản phẩm, dịch vụ công nghiệp văn hóa của Việt Nam hiện nay chưa đưa được hết các giá trị cốt lõi, bản sắc văn hóa dân tộc. Nhiều doanh nghiệp Việt chưa đề cao xây dựng giá trị thương hiệu cho các sản phẩm, dịch vụ và các yếu tố pháp lý liên quan đến bảo vệ bản quyền.

Việc thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào các hoạt động sáng tạo văn hóa, sản xuất các sản phẩm và dịch vụ văn hóa chưa được nhiều nhà đầu tư quan tâm, do nguồn vốn chi cho đầu tư sáng tạo lớn nhưng khả năng thu hồi vốn chậm, nhỏ lẻ và tiềm ẩn nhiều rủi ro từ cơ chế, chính sách, phương pháp quản lý, đến ứng xử của cộng đồng, xã hội đối với từng sản phẩm công nghiệp văn hoá.

Từ thực trạng trên, Bộ VHTTDL đề xuất một số mục tiêu trọng tâm như phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam trở thành ngành kinh tế quan trọng, trong đó tập trung phát triển có trọng tâm, trọng điểm một số ngành công nghiệp văn hóa có tiềm năng, lợi thế nhằm đạt mục tiêu các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP và tiếp tục góp phần phát triển kinh tế - xã hội của cả nước.

Xây dựng và phát triển các sản phẩm, dịch vụ công nghiệp văn hóa đa dạng, chất lượng cao dựa trên yếu tố đổi mới, sáng tạo, văn hóa truyền thống và tôn trọng bản quyền; nâng cao giá trị của các sản phẩm, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ, tiêu dùng văn hóa của người dân trong nước và xuất khẩu; góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam; xác lập được các thương hiệu sản phẩm, dịch vụ văn hóa.

Các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam bao gồm 12 lĩnh vực

Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hoá Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định số 1755/QĐ-TTg ngày 08/9/2016 (Chiến lược 1755), xác định các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam bao gồm 12 lĩnh vực: Quảng cáo; Kiến trúc; Phần mềm và các trò chơi giải trí; Thủ công mỹ nghệ; Thiết kế; Điện ảnh; Xuất bản; Thời trang; Nghệ thuật biểu diễn; Mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm; Truyền hình và phát thanh; Du lịch văn hóa.

Mai Tấn

Đọc thêm

Việt Nam hoan nghênh đánh giá tích cực của Hoa Kỳ về phòng, chống mua bán người

Việt Nam hoan nghênh đánh giá tích cực của Hoa Kỳ về phòng, chống mua bán người

Việt Nam hoan nghênh Hoa Kỳ đã có đánh giá khách quan về kết quả tích cực của Việt Nam trong công tác phòng, chống mua bán người thời gian qua.
Hơn 100 doanh nghiệp tôm, lúa gạo cải thiện điều kiện lao động và thực hành ESG

Hơn 100 doanh nghiệp tôm, lúa gạo cải thiện điều kiện lao động và thực hành ESG

(TBTCO) - Sau 4 năm triển khai tại Cà Mau, An Giang, Cần Thơ và TP.Hồ Chí Minh, dự án an sinh xã hội đã hỗ trợ hơn 100 doanh nghiệp tôm và lúa gạo cải thiện điều kiện làm việc, an toàn vệ sinh lao động và thực hành kinh doanh có trách nhiệm, qua đó góp phần nâng cao năng lực đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế.
Hà Nội phát miễn phí hơn 10.000 vé xem 15 vở diễn sân khấu

Hà Nội phát miễn phí hơn 10.000 vé xem 15 vở diễn sân khấu

(TBTCO) - Liên hoan Sân khấu Hà Nội mở rộng 2026 quy tụ 15 đơn vị nghệ thuật với 15 vở diễn thuộc 6 loại hình sân khấu. Hơn 10.000 vé được phát miễn phí, tạo cơ hội để công chúng Thủ đô thưởng thức nhiều tác phẩm nghệ thuật đặc sắc.
Chủ động nguồn cung năng lượng, góp phần kiểm soát lạm phát

Chủ động nguồn cung năng lượng, góp phần kiểm soát lạm phát

(TBTCO) - Trước sức ép giá năng lượng và chi phí đầu vào, Bộ Công thương tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành, địa phương theo dõi sát diễn biến giá cả, chủ động triển khai biện pháp phù hợp, góp phần kiểm soát lạm phát và ổn định thị trường trong những tháng cuối năm 2026.
Thị trường carbon tạo nguồn thu tỷ USD, doanh nghiệp có thêm lợi thế vay vốn ngân hàng

Thị trường carbon tạo nguồn thu tỷ USD, doanh nghiệp có thêm lợi thế vay vốn ngân hàng

Thống kê từ WB cho thấy, các công cụ định giá carbon tạo nguồn thu hơn 107 tỷ USD toàn cầu năm qua. Không chỉ thúc đẩy giảm phát thải, doanh thu từ tín chỉ carbon còn có thể bổ sung nguồn trả nợ cho ngân hàng, song để hiện thực hóa tiềm năng này, cần hoàn thiện khung pháp lý, cơ chế định giá và thúc đẩy thương mại hóa tín chỉ carbon.
Hà Nội yêu cầu gắn thu hồi đất với đào tạo nghề, tạo việc làm

Hà Nội yêu cầu gắn thu hồi đất với đào tạo nghề, tạo việc làm

Tại cuộc đối thoại giữa Chủ tịch UBND TP. Hà Nội với nông dân ngày 14/10, các kiến nghị tập trung vào 5 nhóm vấn đề: chuyển đổi nghề nghiệp, tháo gỡ khó khăn sản xuất, phát triển hợp tác xã, ứng dụng công nghệ và tăng nguồn lực cho nông nghiệp.
Doanh nghiệp không ngại chuyển đổi xanh, thị trường carbon mở thêm động lực

Doanh nghiệp không ngại chuyển đổi xanh, thị trường carbon mở thêm động lực

(TBTCO) - Theo ADB, Việt Nam cần khoảng 368 tỷ USD đầu tư bổ sung cho ứng phó biến đổi khí hậu và giảm phát thải đến năm 2040. Dù nhu cầu vốn lớn, còn nhiều rào cản, doanh nghiệp vẫn sẵn sàng đầu tư công nghệ xanh. Để khơi thông nguồn lực, cần đa dạng kênh huy động vốn ngoài tín dụng ngân hàng, trong đó có phát triển thị trường carbon.
Thị trường carbon cần hệ sinh thái tài chính đủ mạnh để trở thành động lực mới của nền kinh tế

Thị trường carbon cần hệ sinh thái tài chính đủ mạnh để trở thành động lực mới của nền kinh tế

(TBTCO) - Việc hình thành thị trường carbon là điểm khởi đầu, thị trường muốn phát triển bền vững cần thanh khoản, dữ liệu minh bạch, cơ chế xác minh đáng tin cậy và hệ sinh thái tài chính đủ mạnh. Đây là nền tảng giúp doanh nghiệp chuyển thành nguồn thu thực chất, tạo thêm nguồn lực chuyển đổi xanh và tạo động lực mới cho nền kinh tế.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều