Ngân hàng UOB giữ nguyên dự báo tăng trưởng, kỳ vọng VND phục hồi từ quý IV/2025

Ánh Tuyết
Ngân hàng UOB giữ nguyên dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2025 ở mức 6%; đồng thời cho rằng VND tiếp tục chịu áp lực mất giá do triển vọng kinh tế và rủi ro thuế quan từ Mỹ. Tuy nhiên, từ quý IV/2025, VND được kỳ vọng phục hồi, với tỷ giá dự báo khoảng 26.100 VND/USD.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 5-9/5: Tỷ giá tạm lắng giữa các lực kéo - đẩy trái chiều Ứng phó trước sức căng tỷ giá từ đầu năm Tỷ giá USD hôm nay (9/6): “Chợ đen” tiếp nối đà tăng

Chiều ngày 9/6, Bộ phận Nghiên cứu Thị trường và Kinh tế Toàn cầu của Ngân hàng UOB (Singapore) công bố dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong quý II/2025.

Rủi ro thuế quan tiếp tục đè nặng lên triển vọng kinh tế

Tổng cục Thống kê Việt Nam ngày 6/4 vừa qua công bố GDP thực tế quý I/2025 tăng trưởng 6,93% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng này thấp hơn dự báo của nhóm nghiên cứu và thị trường (7,1%), cũng như so với quý IV/2024 (7,55%). Một phần nguyên nhân là do kỳ nghỉ Tết Nguyên đán kéo dài, tuy nhiên hoạt động thương mại và đầu tư nhìn chung vẫn duy trì sắc thái tích cực trong quý.

Liên quan đến tác động từ việc áp thuế đối ứng, Ngân hàng UOB điều chỉnh hạ dự báo tăng trưởng toàn cầu cho các năm 2025 và 2026, nhằm phản ánh những ảnh hưởng tiêu cực đáng kể đến thương mại và dòng vốn đầu tư quốc tế. Đối với Việt Nam, dự báo tăng trưởng năm 2025 cũng được hạ từ 7% xuống còn 6% vào ngày 2/4, thấp hơn mức 7,09% ghi nhận trong năm 2024.

Nhìn về phía trước, cột mốc quan trọng tiếp theo sẽ là ngày 9/7, khi thời hạn tạm hoãn 90 ngày dự kiến kết thúc. Hiện Việt Nam hiện đang tiến hành đàm phán thương mại với Mỹ, với vòng đàm phán thứ hai đã diễn ra từ ngày 19 - 22/5. Vòng tiếp theo dự kiến sẽ diễn ra vào cuối tháng 6.

Ngân hàng UOB giữ nguyên dự báo tăng trưởng, kỳ vọng VND phục hồi từ quý IV/2025
Ngân hàng UOB giữ nguyên dự báo tăng trưởng, kỳ vọng VND phục hồi từ quý IV/2025. Ảnh: T.L.
"Chúng tôi duy trì dự báo tăng trưởng kinh tế cả năm của Việt Nam ở mức 6% trong năm 2025 và 6,3% trong năm 2026. Riêng trong quý II và quý III/2025, tăng trưởng GDP dự kiến đạt lần lượt 6,1% và 5,8%" - Ngân hàng UOB đánh giá.

Theo đánh giá của Ngân hàng UOB, hoạt động kinh tế khởi sắc trở lại nhờ giai đoạn tạm hoãn thuế 90 ngày, với kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu trong tháng 4 tăng mạnh hơn kỳ vọng so với cùng kỳ năm trước, lần lượt đạt mức 20% và 23%. Đà tăng này chủ yếu đến từ việc các doanh nghiệp đẩy mạnh giao dịch trước thời điểm kết thúc thời gian hoãn áp thuế.

Xuất khẩu sang thị trường lớn nhất là Mỹ tăng vọt 34% so với cùng kỳ, mức tăng nhanh nhất kể từ tháng 1/2024. Tuy nhiên, trong bối cảnh bất định xoay quanh chính sách thuế quan, nhóm nghiên cứu vẫn giữ quan điểm thận trọng đối với triển vọng của Việt Nam, do nền kinh tế phụ thuộc lớn vào thương mại, với kim ngạch xuất khẩu chiếm khoảng 90% GDP, trong đó riêng thị trường Mỹ chiếm khoảng 30% tổng kim ngạch xuất khẩu.

Bên cạnh đó, xuất khẩu còn tập trung cao vào các ngành chủ lực như: điện - điện tử, nội thất, dệt may và giày dép, chiếm khoảng 80% tổng kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ.

VND có thể phục hồi từ quý IV/2025 khi bất ổn thương mại hạ nhiệt

Liên quan đến điều hành chính sách tiền tệ, theo Ngân hàng UOB, bối cảnh lạm phát ôn hòa trong khi căng thẳng thương mại toàn cầu và bất định về thuế quan gia tăng đang mở ra khả năng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) nới lỏng chính sách tiền tệ.

Ngân hàng UOB giữ nguyên dự báo tăng trưởng, kỳ vọng VND phục hồi từ quý IV/2025
Ngân hàng UOB dự báo một số chỉ tiêu kinh tế chính.

Tuy nhiên, không giống như một số nước láng giềng trong khu vực, sự suy yếu hiện tại của tỷ giá đồng Việt Nam (VND) là yếu tố khiến NHNN phải cân nhắc. Trong bối cảnh hiện nay, Ngân hàng UOB dự báo NHNN sẽ giữ nguyên lãi suất chính sách, với lãi suất tái cấp vốn duy trì ở mức 4,5%.

VND chịu áp lực kép từ triển vọng tăng trưởng và rủi ro thuế quan

"Tính từ đầu quý đến nay, VND đã mất giá 1,8%, chạm mức thấp kỷ lục mới khoảng 26.000 VND/USD. Sự suy yếu này chủ yếu xuất phát từ triển vọng kinh tế kém tích cực - chúng tôi đã hạ dự báo tăng trưởng GDP năm 2025 xuống còn 6%, so với mức 7,09% của năm 2024, cùng với rủi ro gia tăng về khả năng Mỹ tái áp mức thuế 46% đã công bố vào “Ngày Giải phóng” nếu các cuộc đàm phán thương mại Mỹ - Việt không đạt được tiến triển rõ rệt. Những yếu tố này dự kiến sẽ tiếp tục tạo áp lực lên VND trong ngắn hạn" - Ngân hàng UOB nhận định.

Nếu điều kiện kinh doanh trong nước và thị trường lao động suy yếu nghiêm trọng, kỳ vọng NHNN có thể hạ lãi suất tái cấp vốn một lần xuống mức thấp trong thời kỳ Covid-19 là 4%, sau đó có thể tiếp tục giảm thêm 50 điểm cơ bản xuống còn 3,5%, với điều kiện thị trường ngoại hối vẫn ổn định và Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) thực hiện cắt giảm lãi suất.

Ở thời điểm hiện tại, kịch bản cơ sở của nhóm phân tích vẫn là NHNN sẽ giữ nguyên các mức lãi suất chính sách.

Về tỷ giá, theo Ngân hàng UOB, VND là một trong những đồng tiền suy yếu nhiều nhất trong khu vực kể từ sau “Ngày Giải phóng”, giữa bối cảnh các đồng tiền châu Á nhìn chung đang phục hồi trong quý II/2025.

Dự báo VND sẽ tiếp tục dao động ở vùng giá yếu trong biên độ giao dịch với USD đến hết quý III/2025. Tuy nhiên, từ quý IV/2025 trở đi, VND có thể bắt đầu lấy lại đà phục hồi, hòa nhịp cùng xu hướng cải thiện chung của các đồng tiền châu Á khi bất ổn thương mại dần lắng dịu.

"Chúng tôi cập nhật dự báo tỷ giá USD/VND như sau: 26.300 trong quý III/2025, 26.100 trong quý IV/2025, 25.900 trong quý I/2026, 25.700 trong quý II/2026" - nhóm phân tích nhìn nhận.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Mức đóng và hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế điều chỉnh theo lương cơ sở mới thế nào?

Mức đóng và hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế điều chỉnh theo lương cơ sở mới thế nào?

(TBTCO) - Từ ngày 1/7/2026, mức lương cơ sở được điều chỉnh từ 2.340.000 đồng/tháng lên 2.530.000 đồng/tháng. Việc điều chỉnh này không chỉ tác động đến tiền lương, phụ cấp của cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang, mà còn là căn cứ để tính một số khoản đóng, mức hưởng trong chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật.
Giải “cơn khát vốn” của doanh nghiệp vừa và nhỏ qua tổ chức cho vay không nhận tiền gửi

Giải “cơn khát vốn” của doanh nghiệp vừa và nhỏ qua tổ chức cho vay không nhận tiền gửi

(TBTCO) - Trong khi nhiều quốc gia phát triển mạnh các tổ chức cho vay không nhận tiền gửi, đặc biệt là cho thuê tài chính để hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất, Việt Nam lại thiếu vắng các định chế tài chính trung gian đủ mạnh. Điều này khiến ngân hàng thương mại tiếp tục “gánh” phần lớn nhu cầu vốn của nền kinh tế.
BIDV phát hành gần 500 triệu cổ phiếu, nâng vốn điều lệ lên sát 78.000 tỷ đồng

BIDV phát hành gần 500 triệu cổ phiếu, nâng vốn điều lệ lên sát 78.000 tỷ đồng

(TBTCO) - BIDV vừa phê duyệt phương án phát hành hơn 498 triệu cổ phiếu để tăng vốn điều lệ thêm gần 4.982 tỷ đồng từ nguồn vốn chủ sở hữu, nâng vốn điều lệ lên hơn 77.782 tỷ đồng, tức tăng 6,8433%. Động thái tăng vốn diễn ra trong bối cảnh BIDV cần củng cố hệ số CAR, đáp ứng lộ trình triển khai Basel III và tạo dư địa mở rộng tín dụng.
Khảo sát từ Sun Life: Trách nhiệm chăm sóc gia đình khiến phụ nữ Việt Nam đối mặt với “ba tầng áp lực”

Khảo sát từ Sun Life: Trách nhiệm chăm sóc gia đình khiến phụ nữ Việt Nam đối mặt với “ba tầng áp lực”

(TBTCO) - Khảo sát mới đây do Sun Life thực hiện cho thấy phụ nữ Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều áp lực chồng chéo về tài chính, sự nghiệp và sức khỏe cá nhân, xuất phát từ vai trò chăm sóc gia đình đa thế hệ, trong khi sự chuẩn bị cho các rủi ro tài chính dài hạn vẫn còn hạn chế.
Manulife Việt Nam nhận giải thưởng quốc tế về hoạt động cộng đồng

Manulife Việt Nam nhận giải thưởng quốc tế về hoạt động cộng đồng

(TBTCO) - Chiến dịch “Chọn Xanh cho Khỏe - Vì một Việt Nam thật Khỏe” của Manulife Việt Nam vừa được vinh danh tại giải thưởng quốc tế uy tín Global CSR & ESG Awards, ở hạng mục “Doanh nghiệp có chương trình cộng đồng xuất sắc”.
Tỷ giá USD hôm nay (20/5): Tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng, DXY giữ đà phục hồi trên 99 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (20/5): Tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng, DXY giữ đà phục hồi trên 99 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 20/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước nâng lên 25.135 đồng, tăng 2 đồng. Chỉ số DXY hiện ở mức 99,3 điểm, giữ đà phục hồi sau một đợt điều chỉnh mạnh vào ngày trước đó, phản ánh kỳ vọng Fed chưa sớm cắt giảm lãi suất trong năm nay. Đồng yên tiếp tục chịu áp lực mất giá dù kinh tế Nhật Bản tăng trưởng vượt dự báo.
Giá vàng hôm nay ngày 20/5: Vàng miếng lùi về vùng 163,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 20/5: Vàng miếng lùi về vùng 163,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước điều chỉnh giảm tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa giá vàng miếng phổ biến lùi về vùng 161 - 163,5 triệu đồng/lượng.
Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ lập đỉnh, Chứng khoán KB lưu ý áp lực tỷ giá và chi phí vốn

Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ lập đỉnh, Chứng khoán KB lưu ý áp lực tỷ giá và chi phí vốn

(TBTCO) - Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ tiếp tục tăng mạnh trong tháng 5, với lợi suất kỳ hạn 10 năm dao động quanh 4,4 - 4,6%, còn kỳ hạn 30 năm lập đỉnh cao nhất gần 20 năm. Theo đánh giá của Chứng khoán KB, lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ neo cao đang tạo áp lực đáng kể lên tỷ giá và làm gia tăng chi phí huy động vốn ngoại tệ của doanh nghiệp Việt.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,940 16,240
Kim TT/AVPL 15,940 16,240
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,940 16,240
Nguyên Liệu 99.99 14,890 15,090
Nguyên Liệu 99.9 14,840 15,040
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,690 16,090
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,640 16,040
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,570 16,020
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 159,400 162,400
Hà Nội - PNJ 159,400 162,400
Đà Nẵng - PNJ 159,400 162,400
Miền Tây - PNJ 159,400 162,400
Tây Nguyên - PNJ 159,400 162,400
Đông Nam Bộ - PNJ 159,400 162,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,940 16,240
Miếng SJC Nghệ An 15,940 16,240
Miếng SJC Thái Bình 15,940 16,240
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,940 16,240
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,940 16,240
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,940 16,240
NL 99.90 14,600
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,650
Trang sức 99.9 15,430 16,130
Trang sức 99.99 15,440 16,140
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,594 16,242
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,594 16,243
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,589 1,619
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,589 162
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,569 1,604
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 152,312 158,812
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 111,562 120,462
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 100,333 109,233
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 89,104 98,004
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 84,773 93,673
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,143 67,043
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Cập nhật: 22/05/2026 01:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18279 18555 19130
CAD 18612 18889 19511
CHF 32876 33261 33915
CNY 0 3837 3929
EUR 30020 30293 31321
GBP 34640 35033 35959
HKD 0 3234 3436
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15162 15753
SGD 20077 20359 20884
THB 723 786 839
USD (1,2) 26095 0 0
USD (5,10,20) 26137 0 0
USD (50,100) 26165 26180 26391
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,161 26,161 26,391
USD(1-2-5) 25,115 - -
USD(10-20) 25,115 - -
EUR 30,201 30,225 31,484
JPY 161.69 161.98 170.76
GBP 34,874 34,968 35,968
AUD 18,470 18,537 19,124
CAD 18,849 18,910 19,493
CHF 33,165 33,268 34,052
SGD 20,227 20,290 20,972
CNY - 3,811 3,934
HKD 3,307 3,317 3,436
KRW 16.19 16.88 18.26
THB 771.86 781.39 831.25
NZD 15,140 15,281 15,645
SEK - 2,780 2,861
DKK - 4,041 4,160
NOK - 2,801 2,884
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,223.64 - 6,985.42
TWD 756.56 - 911.22
SAR - 6,925.36 7,252.09
KWD - 83,849 88,699
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,141 26,161 26,391
EUR 30,084 30,205 31,384
GBP 34,788 34,928 35,934
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,904 33,036 33,965
JPY 162 162.65 169.99
AUD 18,490 18,564 19,153
SGD 20,267 20,348 20,930
THB 789 792 827
CAD 18,818 18,894 19,465
NZD 15,206 15,739
KRW 16.85 18.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26203 26203 26391
AUD 18452 18552 19478
CAD 18793 18893 19907
CHF 33110 33140 34715
CNY 3816.9 3841.9 3977.1
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30194 30224 31947
GBP 34917 34967 36728
HKD 0 3355 0
JPY 162.3 162.8 173.35
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15266 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20228 20358 21091
THB 0 752.5 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15940000 15940000 16240000
SBJ 14000000 14000000 16240000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,191 26,241 26,391
USD20 26,191 26,241 26,391
USD1 26,191 26,241 26,391
AUD 18,472 18,572 19,684
EUR 30,310 30,310 31,719
CAD 18,735 18,835 20,143
SGD 20,301 20,451 21,360
JPY 162.79 164.29 168.83
GBP 34,811 35,161 36,033
XAU 15,948,000 0 16,242,000
CNY 0 3,726 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 22/05/2026 01:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80