Việt Nam đạt giải thưởng tại hạng mục công nghệ thông tin tại ASSA 38

Thảo Miên
Bảo hiểm xã hội Việt Nam được nhận giải thưởng tại ASSA 38, với hạng mục "Công nghệ thông tin" về triển khai ứng dụng VssID - tạo điều kiện cho người tham gia tiếp cận thông tin, thực hiện dịch vụ công về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế một cách thuận lợi, dễ dàng và nhanh chóng.
aa

Ngày 25/11, Hội nghị Ban chấp hành Hiệp hội An sinh xã hội ASEAN lần thứ 38 (ASSA 38), với chủ đề “Bảo trợ xã hội trước những thách thức từ số hóa và bất ổn về kinh tế”, đã chính thức khai mạc. Hội nghị diễn ra theo hình thức trực tuyến, với sự tham dự từ 25 điểm cầu.

Việt Nam đạt giải thưởng tại hạng mục công nghệ thông tin tại ASSA 38
Đại diện BHXH Việt Nam tham dự Hội nghị ASSA 38. Ảnh: BHXH VN

Tìm giải pháp đảm bảo an sinh xã hội trong đại dịch

Phát biểu tại hội nghị, ông Anggoro Eko Cahyo - Phó Chủ tịch Hiệp hội ASSA nhiệm kỳ 2020-2021 cho biết, đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp đã tác động lớn đến kinh tế - xã hội toàn cầu nói chung và an sinh xã hội nói riêng. Trong 2 năm qua, đại dịch hoành hành gây ra nhiều đứt gãy, đe dọa đời sống người dân, buộc các quốc gia trên toàn thế giới phải sử dụng biện pháp như hạn chế đi lại, giãn cách xã hội, nhằm ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh.

Trong bối cảnh đó, an sinh xã hội đóng vai trò quan trọng giúp đảm bảo đời sống của người dân, người lao động. Đây là thách thức, nhưng cũng là cơ hội để an sinh xã hội thể hiện được tầm quan trọng của mình. Cùng với đó, nhiều quốc gia đã đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT), khoa học kỹ thuật, thúc đẩy quá trình chuyển đổi số, áp dụng vào thực tiễn, đảm bảo thực hiện các công việc và thích ứng với bối cảnh dịch bệnh.

Cũng theo ông Anggoro Eko Cahyo, trong đại dịch, các quốc gia trên toàn thế giới nói chung và khu vực Đông Nam Á nói riêng cần nhận thức hơn nữa vai trò cấp thiết của an sinh xã hội. Trong đó, việc thúc đẩy số hoá, truyền thông để đẩy mạnh việc phát triển người lao động tham gia hệ thống; cũng như thực hiện nhanh các quá trình hỗ trợ khẩn cấp cho người dân. Đồng thời, chuyển đổi số sẽ tạo ra các thông tin, dữ liệu; từ đó góp phần xây dựng, phát triển các dịch vụ an sinh xã hội phù hợp hơn với vòng đời của người dân.

Theo ông Heng Sophannarith - quyền Tổng giám đốc Quỹ An sinh xã hội quốc gia Campuchia (NSSF) - Chủ tịch ASSA nhiệm kỳ 2020 – 2021, hiện dịch bệnh đã và đang ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống, kinh tế - xã hội của tất cả các quốc gia. Ảnh hưởng này sẽ còn kéo dài ngay cả khi các quốc gia đã trở lại trạng thái bình thường mới. Điều đó đòi hỏi hệ thống an sinh xã hội ở mỗi quốc gia cần phát huy vai trò hơn nữa. Bên cạnh đó, xu hướng chuyển đổi số cũng đòi hỏi các chính sách an sinh xã hội cần thay đổi, thích ứng để nâng cao tính hiệu quả, tiếp cận, hỗ trợ người tham gia, thụ hưởng ngày càng tốt hơn.

“Đây là xu hướng toàn cầu, chính vì vậy, trong quá trình phục hồi kinh tế sau đại dịch phải khai thác lợi ích tối ưu của CNTT, số hoá, truyền thông để thúc đẩy kinh tế, xây dựng xã hội văn minh, hiện đại. Số hoá cần mang tính bao trùm, độ tin cậy cao, đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy an sinh xã hội phát triển. Đồng thời, số hoá sẽ cung cấp dịch vụ an sinh xã hội tốt hơn, nâng cao hiệu quả trong giải quyết chế độ chính sách cho người dân, thúc đẩy nâng cao quản lý dữ liệu, giảm thiểu thủ tục hành chính, tiết kiệm thời gian, chi phí trong tổ chức thực hiện các chính sách...” - ông Heng Sophannarith nhấn mạnh.

Ứng dụng VssID được trao giải thưởng Thực tiễn hiệu quả

Theo kế hoạch, trong ngày 26/11, Hội nghị ASSA 38 sẽ tiến hành trao Giải thưởng Thực tiễn hiệu quả. Trong đó, Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam vinh dự được nhận giải thưởng, với hạng mục "Công nghệ thông tin" về “Triển khai ứng dụng VssID - BHXH số - tạo điều kiện cho người tham gia tiếp cận thông tin, thực hiện dịch vụ công về BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT) một cách thuận lợi, dễ dàng và nhanh chóng”.

Ứng dụng VssID là ứng dụng trên nền tảng thiết bị di động chính thức của BHXH Việt Nam nhằm cung cấp thông tin thiết yếu cho người sử dụng về quá trình tham gia BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp (BHTN); thông tin thụ hưởng các chế độ BHXH, BHTN; lịch sử khám chữa bệnh BHYT; hỗ trợ trực tuyến 24/7… giúp người tham gia nắm bắt được quá trình tham gia, thụ hưởng các chính sách, đồng thời tự giám sát, bảo vệ quyền lợi an sinh của mình.

Đặc biệt từ tháng 6/2021, BHXH Việt Nam phối hợp với các cơ sở khám chữa bệnh BHYT trên toàn quốc chính thức triển khai sử dụng hình ảnh thẻ BHYT trên ứng dụng VssID thay cho thẻ BHYT giấy trong khám chữa bệnh đã đem lại rất nhiều thuận lợi và phản hồi tích cực từ người tham gia.

Ứng dụng VssID được đánh giá là một bước đi quan trọng, thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyển đổi số của ngành BHXH Việt Nam. Tính đến ngày 22/11, cả nước đã có trên 24,5 triệu người cài đặt ứng dụng VssID, trong đó có trên 22,8 triệu tài khoản đã đăng nhập và sử dụng.

ASSA thành lập năm 1998 và là diễn đàn khu vực của các tổ chức an sinh xã hội các nước Đông Nam Á. ASSA hiện có 21 thành viên là các tổ chức ASXH thuộc các quốc gia Đông Nam Á như: Brunei, Indonesia, Lào, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan, Campuchia, Myanma và Việt Nam. BHXH Việt Nam là đại diện chính thức duy nhất của Việt Nam tại ASSA.
Thảo Miên

Đọc thêm

Mặt bằng rủi ro khách hàng đảo chiều tăng nhẹ, trên 11% tổ chức tín dụng lo lợi nhuận giảm

Mặt bằng rủi ro khách hàng đảo chiều tăng nhẹ, trên 11% tổ chức tín dụng lo lợi nhuận giảm

(TBTCO) - Khảo sát từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, kỳ vọng tăng trưởng huy động và tín dụng năm 2026 bị điều chỉnh giảm lần lượt 0,45 điểm phần trăm và 2,1 điểm phần trăm so với kỳ trước. Rủi ro khách hàng đảo chiều tăng nhẹ, kéo theo áp lực nợ xấu gia tăng. Đáng chú ý, 11,3% tổ chức tín dụng lo ngại lợi nhuận sụt giảm.
Chính sách tín dụng đặc thù hỗ trợ hơn 14 nghìn người chấp hành xong án phạt tù vay vốn

Chính sách tín dụng đặc thù hỗ trợ hơn 14 nghìn người chấp hành xong án phạt tù vay vốn

(TBTCO) - Chính sách tín dụng với người chấp hành xong án phạt tù được coi là chính sách tín dụng đặc thù và có ý nghĩa nhân văn, góp phần hỗ trợ ổn định cuộc sống và hạn chế tái phạm tội. Ngân hàng Chính sách xã hội đã chủ động triển khai, đến nay dư nợ đạt khoảng 1,2 nghìn tỷ đồng, hỗ trợ hơn 14 nghìn người chấp hành xong án phạt tù vay vốn.
Shinhan Bank bứt tốc tín dụng, báo lãi trên 5.400 tỷ đồng

Shinhan Bank bứt tốc tín dụng, báo lãi trên 5.400 tỷ đồng

(TBTCO) - Shinhan Bank Việt Nam ghi nhận tổng tài sản gần 237 nghìn tỷ đồng vào cuối năm 2025, tăng hơn 22%, tín dụng tăng 23,8%, lãi trước thuế đạt 5.411,7 tỷ đồng, NIM duy trì 3,79%. Kết quả kinh doanh phản ánh nền tảng tăng trưởng ổn định, dù chịu áp lực chi phí vốn và cạnh tranh lãi suất.
Lãi suất “nổi sóng", điều hành giữ nhịp tránh "giật cục"

Lãi suất “nổi sóng", điều hành giữ nhịp tránh "giật cục"

(TBTCO) - PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân - Giám đốc Chương trình đào tạo Thị trường Chứng khoán, Khoa Ngân hàng, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, các chương trình “cộng lãi suất ngầm” cho thấy cạnh tranh huy động ở giai đoạn gay gắt hơn. Cần điều hành theo hướng phân tầng lãi suất, tín dụng; giữ hệ thống không rơi vào trạng thái “giật cục”.
Tập đoàn Bảo Việt: Tổng tài sản hợp nhất tại ngày 31/12/2025 đạt gần 292.000 tỷ đồng, tăng trưởng 16,1%

Tập đoàn Bảo Việt: Tổng tài sản hợp nhất tại ngày 31/12/2025 đạt gần 292.000 tỷ đồng, tăng trưởng 16,1%

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt vừa công bố kết quả kinh doanh năm 2025 (kiểm toán), theo đó, Công ty mẹ và các đơn vị thành viên ghi nhận mức tăng trưởng khả quan với tổng doanh thu hợp nhất đạt 59.700 tỷ đồng, tăng 5% so với năm 2024. Tổng tài sản hợp nhất tại ngày 31/12/2025 đạt gần 292.000 tỷ đồng, tăng trưởng khả quan 16,1% so với 31/12/2024.
Sun Life khẳng định cam kết lâu dài vì sức khỏe thế hệ trẻ với chương trình Hoops + Health 2026

Sun Life khẳng định cam kết lâu dài vì sức khỏe thế hệ trẻ với chương trình Hoops + Health 2026

(TBTCO) - Sun Life Việt Nam vừa chính thức công bố chương trình Hoops + Health năm 2026 - một dự án cộng đồng quy mô khu vực châu Á do Sun Life và tổ chức Beyond Sport đồng sáng lập - khẳng định cam kết dài hạn trong việc thúc đẩy lối sống năng động và xây dựng nền tảng sức khỏe bền vững cho thanh thiếu niên châu Á thông qua bộ môn bóng rổ.
Tỷ giá USD hôm nay (1/4): DXY thủng mốc 100 điểm, tỷ giá bán USD ngân hàng vẫn kịch trần

Tỷ giá USD hôm nay (1/4): DXY thủng mốc 100 điểm, tỷ giá bán USD ngân hàng vẫn kịch trần

(TBTCO) - Sáng 01/4, tỷ giá trung tâm tăng 3 đồng lên 25.105 VND/USD; với biên độ 5%, tỷ giá tại các ngân hàng thương mại dao động 23.850 - 26.360 VND/USD trong phiên hôm nay. Trước đó, tỷ giá USD chiều bán ra các ngân hàng lên kịch trần. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY giảm 0,26% xuống 99,7 điểm, lần đầu dưới mốc 100 điểm kể từ giữa tháng 3; kỳ vọng Mỹ sớm rút khỏi xung đột làm suy yếu vai trò trú ẩn của USD.
Giá vàng đang trên đà giảm mạnh nhất kể từ năm 2008

Giá vàng đang trên đà giảm mạnh nhất kể từ năm 2008

(TBTCO) - Giá vàng tăng nhẹ trong phiên giao dịch đầu ngày 31/3, với giá vàng tương lai tại New York tăng 0,7% lên 4.589,30 USD/ounce, nhưng vẫn đang trên đà ghi nhận mức giảm hàng tháng lớn nhất trong gần 17 năm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,370 ▲180K 17,670 ▲180K
Kim TT/AVPL 17,380 ▲180K 17,680 ▲180K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,370 ▲180K 17,670 ▲180K
Nguyên Liệu 99.99 15,920 ▼30K 16,120 ▼30K
Nguyên Liệu 99.9 15,870 ▼30K 16,070 ▼30K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,870 ▼30K 17,170 ▼30K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,820 ▼30K 17,120 ▼30K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,750 ▼30K 17,100 ▼30K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 173,700 ▲1800K 176,700 ▲1800K
Hà Nội - PNJ 173,700 ▲1800K 176,700 ▲1800K
Đà Nẵng - PNJ 173,700 ▲1800K 176,700 ▲1800K
Miền Tây - PNJ 173,700 ▲1800K 176,700 ▲1800K
Tây Nguyên - PNJ 173,700 ▲1800K 176,700 ▲1800K
Đông Nam Bộ - PNJ 173,700 ▲1800K 176,700 ▲1800K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,370 ▲180K 17,670 ▲180K
Miếng SJC Nghệ An 17,370 ▲180K 17,670 ▲180K
Miếng SJC Thái Bình 17,370 ▲180K 17,670 ▲180K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,350 ▲180K 17,650 ▲180K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,350 ▲180K 17,650 ▲180K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,350 ▲180K 17,650 ▲180K
NL 99.90 15,870 ▲100K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,900 ▲100K
Trang sức 99.9 16,840 ▲180K 17,540 ▲180K
Trang sức 99.99 16,850 ▲180K 17,550 ▲180K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,737 ▲18K 17,672 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,737 ▲18K 17,673 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,735 ▲18K 1,765 ▲18K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,735 ▲18K 1,766 ▲18K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,715 ▲18K 175 ▼1557K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 166,767 ▲1782K 173,267 ▲1782K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 122,513 ▲1350K 131,413 ▲1350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 110,262 ▲1224K 119,162 ▲1224K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 98,011 ▲1098K 106,911 ▲1098K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 93,285 ▲1049K 102,185 ▲1049K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 64,232 ▲750K 73,132 ▲750K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Cập nhật: 01/04/2026 23:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17747 18020 18593
CAD 18428 18705 19321
CHF 32553 32937 33581
CNY 0 3470 3830
EUR 29903 30176 31204
GBP 34212 34603 35537
HKD 0 3229 3431
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 14876 15458
SGD 19981 20264 20793
THB 723 787 840
USD (1,2) 26070 0 0
USD (5,10,20) 26111 0 0
USD (50,100) 26139 26159 26360
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,140 26,140 26,360
USD(1-2-5) 25,095 - -
USD(10-20) 25,095 - -
EUR 29,986 30,010 31,252
JPY 161.73 162.02 170.78
GBP 34,355 34,448 35,421
AUD 17,934 17,999 18,563
CAD 18,593 18,653 19,223
CHF 32,713 32,815 33,576
SGD 20,094 20,156 20,815
CNY - 3,795 3,913
HKD 3,291 3,301 3,419
KRW 16.19 16.88 18.26
THB 772 781.53 832.13
NZD 14,854 14,992 15,344
SEK - 2,753 2,833
DKK - 4,013 4,129
NOK - 2,674 2,752
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,111.86 - 6,857.48
TWD 744.46 - 896.33
SAR - 6,894.3 7,218.62
KWD - 83,531 88,332
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,110 26,140 26,360
EUR 29,882 30,002 31,178
GBP 34,215 34,352 35,350
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,429 32,559 33,474
JPY 161.75 162.40 169.70
AUD 17,868 17,940 18,525
SGD 20,128 20,209 20,785
THB 788 791 826
CAD 18,591 18,666 19,228
NZD 14,885 15,413
KRW 16.73 18.35
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26326 26226 26360
AUD 17926 18026 18954
CAD 18602 18702 19718
CHF 32787 32817 34400
CNY 3770.7 3795.7 3931
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30071 30101 31824
GBP 34501 34551 36308
HKD 0 3355 0
JPY 162.45 162.95 173.46
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14982 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20137 20267 21002
THB 0 752.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17370000 17370000 17670000
SBJ 16000000 16000000 17670000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,164 26,214 26,360
USD20 26,164 26,214 26,360
USD1 26,164 26,214 26,360
AUD 17,889 17,989 19,100
EUR 30,155 30,155 31,564
CAD 18,530 18,630 19,942
SGD 20,176 20,326 20,891
JPY 162.97 164.47 169.01
GBP 34,308 34,658 35,526
XAU 17,298,000 0 17,602,000
CNY 0 3,675 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 01/04/2026 23:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80