Mở rộng thêm nhiều quyền lợi khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế

Mai Lâm
(TBTCO) - Luật Bảo hiểm y tế năm 2024 có nhiều điểm mới quan trọng theo hướng đảm bảo tối đa quyền lợi cho người tham gia. Đồng thời, bảo đảm công bằng trong tiếp cận dịch vụ y tế giữa các nhóm người tham gia bảo hiểm y tế, nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, tăng cường tính bền vững của Quỹ Bảo hiểm y tế...
aa
Mở rộng thêm nhiều quyền lợi khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế

Quyền lợi khám chữa bệnh bảo hiểm y tế được đảm bảo đầy đủ, kịp thời. Ảnh: Tư liệu

Quỹ Bảo hiểm y tế luôn đảm bảo chi trả kịp thời cho người tham gia

Ông Nguyễn Đức Hòa - Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho biết, trong những năm qua, công tác chi trả chi phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế luôn được Bảo hiểm xã hội Việt Nam xác định là nhiệm vụ trọng tâm, nhằm đảm bảo quyền lợi khám chữa bệnh chính đáng của người tham gia theo đúng quy định của pháp luật. Quỹ Bảo hiểm y tế luôn được quản lý, sử dụng an toàn, hiệu quả và minh bạch. Theo đó, các cơ sở y tế được thanh toán kịp thời, đúng quy định; người có thẻ bảo hiểm y tế giảm gánh nặng tài chính đáng kể khi không may ốm đau, bệnh tật.

100% cơ sở khám chữa bệnh bảo hiểm y tế đã triển khai khám chữa bệnh bằng căn cước công dân gắn chíp

Tính đến tháng 6/2025, toàn bộ 100% cơ sở khám chữa bệnh bảo hiểm y tế đã triển khai khám chữa bệnh bảo hiểm y tế bằng căn cước công dân gắn chíp (đáp ứng yêu cầu tra cứu thông tin thẻ bảo hiểm y tế bằng số định danh cá nhân/căn cước công dân), với hơn 227,5 triệu lượt tra cứu thông tin thẻ bằng số định danh cá nhân/căn cước công dân thành công, phục vụ làm thủ tục khám chữa bệnh bảo hiểm y tế.

Tính riêng trong năm 2024, Quỹ Bảo hiểm y tế đã chi trả chi phí khám chữa bệnh cho trên 184 triệu lượt người, với tổng số chi trên 140.000 tỷ đồng. Trong đó có nhiều trường hợp bệnh nhân mắc các bệnh hiểm nghèo, điều trị dài ngày, chi phí lên tới hàng trăm triệu đồng, thậm chí hàng tỷ đồng nhưng nhờ có thẻ bảo hiểm y tế nên chỉ phải chi trả rất ít, hoặc được Quỹ Bảo hiểm y tế thanh toán toàn bộ chi phí khám chữa bệnh theo đúng mức hưởng. Điều này không chỉ giúp người dân tiếp cận được với các dịch vụ y tế cơ bản, hiện đại, mà còn thể hiện rõ vai trò điểm tựa của tấm thẻ bảo hiểm y tế với người tham gia và cả gia đình.

Đơn cử, một người bệnh sinh năm 2019 tại tỉnh Hải Dương (trước sáp nhập) đã được Quỹ Bảo hiểm y tế chi trả cao nhất trong năm 2024 (hơn 4,4 tỷ đồng) sau khi được chẩn đoán bệnh chính là tăng huyết áp, đái tháo đường, suy thận. Có thể thấy, với chi phí tham gia bảo hiểm y tế chưa đến 1 triệu đồng/năm, nhưng chi phí khám chữa bệnh mà Quỹ Bảo hiểm y tế chi trả không chỉ giúp người bệnh an tâm điều trị lâu dài, được tiếp cận với thuốc đặc trị và các kỹ thuật y học hiện đại, nâng cao hiệu quả điều trị mà còn góp phần giúp người bệnh và gia đình giảm bớt gánh nặng tài chính, giảm rủi ro rơi vào nghèo hóa vì điều trị bệnh.

Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam cũng thông tin, hiện nay, danh mục thuốc được Quỹ Bảo hiểm y tế thanh toán đã cơ bản đáp ứng đầy đủ nhu cầu khám chữa bệnh của người bệnh với hơn 1.000 hoạt chất, sinh phẩm tân dược và hàng trăm thuốc đông y, thuốc từ dược liệu. Trong đó, có nhiều thuốc điều trị ung thư, thuốc điều trị bệnh hiếm, thuốc điều trị bệnh máu không đông, thuốc tim mạch đa dạng… người bệnh được chỉ định sử dụng dài ngày, có thuốc dùng suốt đời cho quá trình điều trị bệnh.

Mở rộng thêm nhiều nhóm bệnh nặng, hiểm nghèo

Từ ngày 1/7/2025, nhiều chính sách mới về bảo hiểm y tế được quy định tại Luật Bảo hiểm y tế năm 2024 có hiệu lực thi hành. Theo ông Nguyễn Đức Hòa, việc sửa đổi, bổ sung Luật Bảo hiểm y tế là bước đi quan trọng nhằm hoàn thiện chính sách bảo hiểm y tế theo hướng đảm bảo tối đa quyền lợi cho người tham gia và phù hợp với thực tiễn, xu hướng phát triển của công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân. Luật Bảo hiểm y tế năm 2024 sẽ góp phần bảo đảm công bằng trong tiếp cận dịch vụ y tế giữa các nhóm người tham gia bảo hiểm y tế, nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, tăng cường tính bền vững của Quỹ Bảo hiểm y tế,…

Luật Bảo hiểm y tế năm 2024 có nhiều điểm mới quan trọng, sẽ tạo ra những tác động tích cực đến quá trình thực hiện chính sách bảo hiểm y tế trong thời gian tới. Theo đó, Luật đã mở rộng quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm y tế, nhất là nhóm bệnh nặng, bệnh hiểm nghèo. Cụ thể, nhiều dịch vụ kỹ thuật cao, điều trị nội trú chuyên sâu sẽ được Quỹ Bảo hiểm y tế chi trả 100%, góp phần giảm gánh nặng tài chính cho người bệnh. Ngoài ra, việc bảo hiểm y tế chi trả cả cho dịch vụ khám chữa bệnh tại nhà, từ xa, phục hồi chức năng… là bước tiến rất nhân văn, phù hợp với xu hướng y tế hiện đại. Bên cạnh đó, Luật cũng sửa đổi cơ chế tham gia bảo hiểm y tế hộ gia đình theo hướng thuận lợi hơn, khuyến khích sự tham gia tự nguyện, chủ động của người dân, nhất là các nhóm ngoài khu vực chính thức.

Đặc biệt, Luật cũng quy định rõ hơn về các giải pháp quản lý Quỹ Bảo hiểm y tế an toàn, bền vững, gắn với đổi mới phương thức chi trả, nâng cao hiệu quả quản lý chi phí khám chữa bệnh. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong quản lý bảo hiểm y tế, kết nối dữ liệu đồng bộ giữa Bảo hiểm xã hội Việt Nam, ngành Y tế và các cơ sở khám chữa bệnh tiếp tục giúp việc quản lý chi phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế được minh bạch, hiệu quả.

Theo ông Nguyễn Đức Hòa, những điểm mới của Luật lần này tiếp tục củng cố các cơ sở pháp lý quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm y tế, bảo đảm tốt hơn quyền lợi cho người tham gia, hướng tới hoàn thiện mục tiêu bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân, xây dựng hệ thống an sinh xã hội bền vững, hiện đại.

Để thực thi hiệu quả Luật Bảo hiểm y tế năm 2024, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã chỉ đạo bảo hiểm xã hội các khu vực chủ động xây dựng kế hoạch, phương án triển khai ngay từ ngày Luật có hiệu lực. Đồng thời, phối hợp chặt chẽ với Bộ Y tế và các cơ sở khám chữa bệnh bảo hiểm y tế để chuẩn bị đầy đủ các điều kiện, nguồn lực, bảo đảm quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm y tế, giúp người dân khám chữa bệnh ngày càng thuận lợi với chất lượng phục vụ không ngừng được nâng cao.

Xóa bỏ ranh giới hành chính trong khám chữa bệnh bảo hiểm y tế

Theo Luật Bảo hiểm y tế 2024, từ ngày 1/7/2025, người tham gia bảo hiểm y tế trên cả nước sẽ được hưởng 100% quyền lợi mức hưởng trên thẻ bảo hiểm y tế, bao gồm cả trường hợp khám trái tuyến. Luật đã mở rộng đáng kể quyền lợi cho người tham gia, trong đó điểm nổi bật là việc xóa bỏ ranh giới hành chính trong khám chữa bệnh bảo hiểm y tế. Từ ngày 1/7/2025, người có thẻ bảo hiểm y tế có thể đến khám tại bất kỳ cơ sở khám chữa bệnh đăng ký ban đầu nào trên toàn quốc và vẫn được hưởng đầy đủ mức hưởng quy định như khi khám bệnh tại nơi đăng ký đúng tuyến.

Luật cũng quy định rõ những trường hợp khám chữa bệnh trái tuyến nhưng vẫn được hưởng 100% quyền lợi mức hưởng của thẻ bảo hiểm y tế. Nhóm đầu tiên là những người mắc bệnh nặng, bệnh hiếm hoặc cần thực hiện các kỹ thuật cao. Danh mục bệnh này đã được Bộ Y tế ban hành, gồm 62 loại bệnh như: ung thư, rối loạn chuyển hóa, rối loạn dự trữ thể tiêu bào, các bệnh lý về thần kinh, tim mạch, phổi, dị tật bẩm sinh, kháng thuốc chống lao, di chứng chiến tranh và các trường hợp ghép tạng;... Những người bệnh thuộc nhóm này khi được chẩn đoán tại tuyến ban đầu có thể đến thẳng cơ sở y tế chuyên sâu để khám và điều trị mà không cần giấy chuyển viện, vẫn được Quỹ Bảo hiểm y tế chi trả đầy đủ quyền lợi mức hưởng. Trong trường hợp người bệnh tự đến khám tại tuyến chuyên sâu và được xác định mắc các bệnh nằm trong danh mục, quyền lợi bảo hiểm y tế vẫn được áp dụng ngay từ lần khám đầu tiên.

Song song với đó, người dân khi khám chữa bệnh bảo hiểm y tế tại cơ sở y tế đăng ký ban đầu hoặc điều trị nội trú tại các cơ sở được xác định là tuyến cơ bản trên toàn quốc cũng sẽ được hưởng 100% chi phí bảo hiểm y tế (bao gồm cả các cơ sở khám chữa bệnh từng được xác định là tuyến huyện trước ngày 1/1/2025, hiện đã được nâng cấp thành tuyến cơ bản hoặc chuyên sâu).

Mai Lâm

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17778 18052 18627
CAD 18532 18809 19423
CHF 32618 33002 33637
CNY 0 3470 3830
EUR 29834 30106 31134
GBP 34406 34798 35732
HKD 0 3241 3443
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14965 15552
SGD 20005 20287 20812
THB 720 783 837
USD (1,2) 26078 0 0
USD (5,10,20) 26119 0 0
USD (50,100) 26147 26167 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80