Mở rộng thêm nhiều quyền lợi khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế

Mai Lâm
(TBTCO) - Luật Bảo hiểm y tế năm 2024 có nhiều điểm mới quan trọng theo hướng đảm bảo tối đa quyền lợi cho người tham gia. Đồng thời, bảo đảm công bằng trong tiếp cận dịch vụ y tế giữa các nhóm người tham gia bảo hiểm y tế, nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, tăng cường tính bền vững của Quỹ Bảo hiểm y tế...
aa
Mở rộng thêm nhiều quyền lợi khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế

Quyền lợi khám chữa bệnh bảo hiểm y tế được đảm bảo đầy đủ, kịp thời. Ảnh: Tư liệu

Quỹ Bảo hiểm y tế luôn đảm bảo chi trả kịp thời cho người tham gia

Ông Nguyễn Đức Hòa - Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho biết, trong những năm qua, công tác chi trả chi phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế luôn được Bảo hiểm xã hội Việt Nam xác định là nhiệm vụ trọng tâm, nhằm đảm bảo quyền lợi khám chữa bệnh chính đáng của người tham gia theo đúng quy định của pháp luật. Quỹ Bảo hiểm y tế luôn được quản lý, sử dụng an toàn, hiệu quả và minh bạch. Theo đó, các cơ sở y tế được thanh toán kịp thời, đúng quy định; người có thẻ bảo hiểm y tế giảm gánh nặng tài chính đáng kể khi không may ốm đau, bệnh tật.

100% cơ sở khám chữa bệnh bảo hiểm y tế đã triển khai khám chữa bệnh bằng căn cước công dân gắn chíp

Tính đến tháng 6/2025, toàn bộ 100% cơ sở khám chữa bệnh bảo hiểm y tế đã triển khai khám chữa bệnh bảo hiểm y tế bằng căn cước công dân gắn chíp (đáp ứng yêu cầu tra cứu thông tin thẻ bảo hiểm y tế bằng số định danh cá nhân/căn cước công dân), với hơn 227,5 triệu lượt tra cứu thông tin thẻ bằng số định danh cá nhân/căn cước công dân thành công, phục vụ làm thủ tục khám chữa bệnh bảo hiểm y tế.

Tính riêng trong năm 2024, Quỹ Bảo hiểm y tế đã chi trả chi phí khám chữa bệnh cho trên 184 triệu lượt người, với tổng số chi trên 140.000 tỷ đồng. Trong đó có nhiều trường hợp bệnh nhân mắc các bệnh hiểm nghèo, điều trị dài ngày, chi phí lên tới hàng trăm triệu đồng, thậm chí hàng tỷ đồng nhưng nhờ có thẻ bảo hiểm y tế nên chỉ phải chi trả rất ít, hoặc được Quỹ Bảo hiểm y tế thanh toán toàn bộ chi phí khám chữa bệnh theo đúng mức hưởng. Điều này không chỉ giúp người dân tiếp cận được với các dịch vụ y tế cơ bản, hiện đại, mà còn thể hiện rõ vai trò điểm tựa của tấm thẻ bảo hiểm y tế với người tham gia và cả gia đình.

Đơn cử, một người bệnh sinh năm 2019 tại tỉnh Hải Dương (trước sáp nhập) đã được Quỹ Bảo hiểm y tế chi trả cao nhất trong năm 2024 (hơn 4,4 tỷ đồng) sau khi được chẩn đoán bệnh chính là tăng huyết áp, đái tháo đường, suy thận. Có thể thấy, với chi phí tham gia bảo hiểm y tế chưa đến 1 triệu đồng/năm, nhưng chi phí khám chữa bệnh mà Quỹ Bảo hiểm y tế chi trả không chỉ giúp người bệnh an tâm điều trị lâu dài, được tiếp cận với thuốc đặc trị và các kỹ thuật y học hiện đại, nâng cao hiệu quả điều trị mà còn góp phần giúp người bệnh và gia đình giảm bớt gánh nặng tài chính, giảm rủi ro rơi vào nghèo hóa vì điều trị bệnh.

Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam cũng thông tin, hiện nay, danh mục thuốc được Quỹ Bảo hiểm y tế thanh toán đã cơ bản đáp ứng đầy đủ nhu cầu khám chữa bệnh của người bệnh với hơn 1.000 hoạt chất, sinh phẩm tân dược và hàng trăm thuốc đông y, thuốc từ dược liệu. Trong đó, có nhiều thuốc điều trị ung thư, thuốc điều trị bệnh hiếm, thuốc điều trị bệnh máu không đông, thuốc tim mạch đa dạng… người bệnh được chỉ định sử dụng dài ngày, có thuốc dùng suốt đời cho quá trình điều trị bệnh.

Mở rộng thêm nhiều nhóm bệnh nặng, hiểm nghèo

Từ ngày 1/7/2025, nhiều chính sách mới về bảo hiểm y tế được quy định tại Luật Bảo hiểm y tế năm 2024 có hiệu lực thi hành. Theo ông Nguyễn Đức Hòa, việc sửa đổi, bổ sung Luật Bảo hiểm y tế là bước đi quan trọng nhằm hoàn thiện chính sách bảo hiểm y tế theo hướng đảm bảo tối đa quyền lợi cho người tham gia và phù hợp với thực tiễn, xu hướng phát triển của công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân. Luật Bảo hiểm y tế năm 2024 sẽ góp phần bảo đảm công bằng trong tiếp cận dịch vụ y tế giữa các nhóm người tham gia bảo hiểm y tế, nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, tăng cường tính bền vững của Quỹ Bảo hiểm y tế,…

Luật Bảo hiểm y tế năm 2024 có nhiều điểm mới quan trọng, sẽ tạo ra những tác động tích cực đến quá trình thực hiện chính sách bảo hiểm y tế trong thời gian tới. Theo đó, Luật đã mở rộng quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm y tế, nhất là nhóm bệnh nặng, bệnh hiểm nghèo. Cụ thể, nhiều dịch vụ kỹ thuật cao, điều trị nội trú chuyên sâu sẽ được Quỹ Bảo hiểm y tế chi trả 100%, góp phần giảm gánh nặng tài chính cho người bệnh. Ngoài ra, việc bảo hiểm y tế chi trả cả cho dịch vụ khám chữa bệnh tại nhà, từ xa, phục hồi chức năng… là bước tiến rất nhân văn, phù hợp với xu hướng y tế hiện đại. Bên cạnh đó, Luật cũng sửa đổi cơ chế tham gia bảo hiểm y tế hộ gia đình theo hướng thuận lợi hơn, khuyến khích sự tham gia tự nguyện, chủ động của người dân, nhất là các nhóm ngoài khu vực chính thức.

Đặc biệt, Luật cũng quy định rõ hơn về các giải pháp quản lý Quỹ Bảo hiểm y tế an toàn, bền vững, gắn với đổi mới phương thức chi trả, nâng cao hiệu quả quản lý chi phí khám chữa bệnh. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong quản lý bảo hiểm y tế, kết nối dữ liệu đồng bộ giữa Bảo hiểm xã hội Việt Nam, ngành Y tế và các cơ sở khám chữa bệnh tiếp tục giúp việc quản lý chi phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế được minh bạch, hiệu quả.

Theo ông Nguyễn Đức Hòa, những điểm mới của Luật lần này tiếp tục củng cố các cơ sở pháp lý quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm y tế, bảo đảm tốt hơn quyền lợi cho người tham gia, hướng tới hoàn thiện mục tiêu bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân, xây dựng hệ thống an sinh xã hội bền vững, hiện đại.

Để thực thi hiệu quả Luật Bảo hiểm y tế năm 2024, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã chỉ đạo bảo hiểm xã hội các khu vực chủ động xây dựng kế hoạch, phương án triển khai ngay từ ngày Luật có hiệu lực. Đồng thời, phối hợp chặt chẽ với Bộ Y tế và các cơ sở khám chữa bệnh bảo hiểm y tế để chuẩn bị đầy đủ các điều kiện, nguồn lực, bảo đảm quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm y tế, giúp người dân khám chữa bệnh ngày càng thuận lợi với chất lượng phục vụ không ngừng được nâng cao.

Xóa bỏ ranh giới hành chính trong khám chữa bệnh bảo hiểm y tế

Theo Luật Bảo hiểm y tế 2024, từ ngày 1/7/2025, người tham gia bảo hiểm y tế trên cả nước sẽ được hưởng 100% quyền lợi mức hưởng trên thẻ bảo hiểm y tế, bao gồm cả trường hợp khám trái tuyến. Luật đã mở rộng đáng kể quyền lợi cho người tham gia, trong đó điểm nổi bật là việc xóa bỏ ranh giới hành chính trong khám chữa bệnh bảo hiểm y tế. Từ ngày 1/7/2025, người có thẻ bảo hiểm y tế có thể đến khám tại bất kỳ cơ sở khám chữa bệnh đăng ký ban đầu nào trên toàn quốc và vẫn được hưởng đầy đủ mức hưởng quy định như khi khám bệnh tại nơi đăng ký đúng tuyến.

Luật cũng quy định rõ những trường hợp khám chữa bệnh trái tuyến nhưng vẫn được hưởng 100% quyền lợi mức hưởng của thẻ bảo hiểm y tế. Nhóm đầu tiên là những người mắc bệnh nặng, bệnh hiếm hoặc cần thực hiện các kỹ thuật cao. Danh mục bệnh này đã được Bộ Y tế ban hành, gồm 62 loại bệnh như: ung thư, rối loạn chuyển hóa, rối loạn dự trữ thể tiêu bào, các bệnh lý về thần kinh, tim mạch, phổi, dị tật bẩm sinh, kháng thuốc chống lao, di chứng chiến tranh và các trường hợp ghép tạng;... Những người bệnh thuộc nhóm này khi được chẩn đoán tại tuyến ban đầu có thể đến thẳng cơ sở y tế chuyên sâu để khám và điều trị mà không cần giấy chuyển viện, vẫn được Quỹ Bảo hiểm y tế chi trả đầy đủ quyền lợi mức hưởng. Trong trường hợp người bệnh tự đến khám tại tuyến chuyên sâu và được xác định mắc các bệnh nằm trong danh mục, quyền lợi bảo hiểm y tế vẫn được áp dụng ngay từ lần khám đầu tiên.

Song song với đó, người dân khi khám chữa bệnh bảo hiểm y tế tại cơ sở y tế đăng ký ban đầu hoặc điều trị nội trú tại các cơ sở được xác định là tuyến cơ bản trên toàn quốc cũng sẽ được hưởng 100% chi phí bảo hiểm y tế (bao gồm cả các cơ sở khám chữa bệnh từng được xác định là tuyến huyện trước ngày 1/1/2025, hiện đã được nâng cấp thành tuyến cơ bản hoặc chuyên sâu).

Mai Lâm

Đọc thêm

Xây dựng hệ sinh thái fintech ASEAN mở, an toàn và bền vững

Xây dựng hệ sinh thái fintech ASEAN mở, an toàn và bền vững

(TBTCO) - Chia sẻ tại Tọa đàm “Kiến tạo hệ sinh thái công nghệ tài chính khu vực: Từ chính sách đến hành động”, trong khuôn khổ Diễn đàn Tương lai ASEAN, ngày 9/6, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng đề nghị kiến tạo một hệ sinh thái công nghệ tài chính ASEAN mở, an toàn, minh bạch, bao trùm và bền vững.
Chất lượng tài sản ngân hàng có dấu hiệu suy yếu, ba "biến số" làm gia tăng áp lực nợ xấu

Chất lượng tài sản ngân hàng có dấu hiệu suy yếu, ba "biến số" làm gia tăng áp lực nợ xấu

SSI Research cho rằng, ngành ngân hàng sẽ tiếp tục đối mặt áp lực thanh khoản, NIM thu hẹp và chất lượng tài sản suy yếu trong nửa cuối năm 2026. Đáng chú ý, rủi ro từ lãi suất thả nổi, nhu cầu tái cấp vốn cho chủ đầu tư bất động sản và điều chỉnh quy hoạch Hà Nội có thể tạo thêm áp lực lên nợ xấu.
Tín dụng tiếp đà tăng, thanh khoản ngân hàng kỳ vọng cải thiện dần từ cuối năm 2026

Tín dụng tiếp đà tăng, thanh khoản ngân hàng kỳ vọng cải thiện dần từ cuối năm 2026

(TBTCO) - Thanh khoản hệ thống ngân hàng tiếp tục chịu áp lực khi tín dụng tăng 5,71% tính đến cuối tháng 5, vượt xa tốc độ huy động vốn và khiến chênh lệch giữa tín dụng - huy động ngày càng nới rộng. Tuy nhiên, giới phân tích kỳ vọng, nguồn vốn huy động sẽ cải thiện dần từ cuối năm 2026 nhờ sự hỗ trợ của nhiều động lực trong và ngoài hệ thống.
ABIC để ngỏ hai phương án cổ tức, phấn đấu mở rộng độ phủ bảo hiểm dư nợ ngân hàng mẹ

ABIC để ngỏ hai phương án cổ tức, phấn đấu mở rộng độ phủ bảo hiểm dư nợ ngân hàng mẹ

Bảo hiểm ABIC đặt mục tiêu năm 2026 đạt 3.100 tỷ đồng doanh thu kinh doanh bảo hiểm, phấn đấu đưa tỷ lệ dư nợ tín dụng Agribank được bảo hiểm lên tối thiểu 41,4% trong giai đoạn 5 năm tới. Doanh nghiệp dự kiến duy trì cổ tức tối thiểu 15%, ưu tiên trả bằng cổ phiếu nếu đủ điều kiện pháp lý.
Eximbank biến động nhân sự cấp cao trước thềm Đại hội đồng cổ đông bất thường

Eximbank biến động nhân sự cấp cao trước thềm Đại hội đồng cổ đông bất thường

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank, mã ck: EIB) đã chính thức phát đi thông báo về việc tiếp tục triển khai các nội dung quản trị và thay đổi nhân sự quan trọng thuộc Hội đồng quản trị. Đây là bước đi nằm trong định hướng chuyển đổi đã được Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026 thông qua.
Hơn 60% dư nợ tập trung cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

Hơn 60% dư nợ tập trung cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

(TBTCO) - Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) cho biết, hiện dư nợ lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn chiếm trên 60% trong tổng dư nợ cho vay nền kinh tế trên 2 triệu tỷ đồng của Agribank.
Tỷ giá chịu sức ép ngắn hạn khi nhập siêu tăng, USD phục hồi

Tỷ giá chịu sức ép ngắn hạn khi nhập siêu tăng, USD phục hồi

(TBTCO) - Sau giai đoạn hạ nhiệt đầu năm, tỷ giá USD/VND chịu áp lực trở lại khi USD phục hồi mạnh trước căng thẳng Mỹ - Iran. Dù mới tăng khoảng 0,1% từ đầu năm, tỷ giá vẫn đối mặt sức ép từ xu hướng trượt giá của VND và cán cân thương mại thâm hụt 6 tháng liên tiếp, dù triển vọng cuối năm được kỳ vọng tích cực hơn.
Bắt nhịp “sóng” lãi suất, doanh nghiệp bảo hiểm xoay trục danh mục "trăm nghìn tỷ"

Bắt nhịp “sóng” lãi suất, doanh nghiệp bảo hiểm xoay trục danh mục "trăm nghìn tỷ"

(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất huy động ở mức cao là động lực, đưa tổng lợi nhuận hoạt động tài chính các doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết quý I/2026 tăng 14% so với cùng kỳ. Quản lý danh mục đầu tư hơn 350.000 tỷ đồng, các doanh nghiệp chủ động cơ cấu danh mục tài sản, tăng tiền gửi và khóa lãi suất nhằm cải thiện hiệu quả sinh lời.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
Kim TT/AVPL 13,430 ▼450K 13,830 ▼550K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 13,430 ▼450K 13,830 ▼550K
Nguyên Liệu 99.99 13,350 ▼450K 13,550 ▼450K
Nguyên Liệu 99.9 13,300 ▼450K 13,500 ▼450K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,400 ▼400K 13,800 ▼500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,350 ▼400K 13,750 ▼500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,280 ▼400K 13,730 ▼500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Hà Nội - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Đà Nẵng - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Miền Tây - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Tây Nguyên - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Đông Nam Bộ - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
Miếng SJC Nghệ An 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
Miếng SJC Thái Bình 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
NL 99.90 13,050 ▼400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100 ▼400K
Trang sức 99.9 13,020 ▼550K 13,720 ▼550K
Trang sức 99.99 13,030 ▼550K 13,730 ▼550K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,333 ▼55K 13,832 ▼550K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,333 ▼55K 13,833 ▼550K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,332 ▼54K 1,382 ▼54K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,332 ▼54K 1,383 ▼54K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,312 ▼54K 1,367 ▼54K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 128,347 ▼5346K 135,347 ▼5346K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 93,185 ▼4051K 102,685 ▼4051K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 83,615 ▼3673K 93,115 ▼3673K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,045 ▲66311K 83,545 ▲74861K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,354 ▼3149K 79,854 ▼3149K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,766 ▼45146K 5,716 ▼53696K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Cập nhật: 10/06/2026 20:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17916 18191 18770
CAD 18359 18635 19256
CHF 32297 32680 33334
CNY 0 3842 3935
EUR 29769 29992 31075
GBP 34437 34829 35767
HKD 0 3228 3430
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14988 15578
SGD 19896 20178 20759
THB 715 778 832
USD (1,2) 26054 0 0
USD (5,10,20) 26095 0 0
USD (50,100) 26124 26138 26410
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,410
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 29,941 29,965 31,273
JPY 159.88 160.17 169.2
GBP 34,673 34,767 35,827
AUD 18,166 18,232 18,854
CAD 18,558 18,618 19,229
CHF 32,636 32,737 33,576
SGD 20,050 20,112 20,824
CNY - 3,817 3,948
HKD 3,296 3,306 3,432
KRW 15.94 16.62 18.01
THB 764.27 773.71 825.41
NZD 15,002 15,141 15,531
SEK - 2,739 2,825
DKK - 4,006 4,131
NOK - 2,735 2,820
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,063.87 - 6,818.96
TWD 752.89 - 908.55
SAR - 6,901.9 7,242.16
KWD - 83,501 88,500
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,120 26,140 26,410
EUR 29,830 29,950 31,137
GBP 34,602 34,741 35,759
HKD 3,291 3,304 3,420
CHF 32,403 32,533 33,442
JPY 160.16 160.80 168.62
AUD 18,156 18,229 18,820
SGD 20,107 20,188 20,771
THB 780 783 817
CAD 18,534 18,608 19,175
NZD 15,068 15,605
KRW 16.63 18.23
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26148 26148 26410
AUD 18096 18196 19121
CAD 18545 18645 19660
CHF 32542 32572 34162
CNY 3822.3 3847.3 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 29962 29992 31715
GBP 34752 34802 36562
HKD 0 3355 0
JPY 160.51 161.01 171.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15098 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20057 20187 20920
THB 0 744.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 13330000 13330000 13830000
SBJ 11000000 11000000 13830000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,142 26,410
USD20 26,100 26,142 26,410
USD1 23,896 26,142 26,410
AUD 18,180 18,280 19,384
EUR 30,105 30,105 31,513
CAD 18,475 18,575 19,879
SGD 20,139 20,289 20,844
JPY 161.06 162.56 167.12
GBP 34,638 34,988 35,861
XAU 13,328,000 13,328,000 13,832,000
CNY 0 3,735 0
THB 0 780 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 10/06/2026 20:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80