Thị trường tiền tệ tuần 30.10-11.11:

Chính sách giảm lãi suất bắt đầu “ngấm dần”

Chí Tín
(TBTCO) - Thông tin được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) tiết lộ trong tuần qua cho thấy, các đợt giảm lãi suất điều hành đã bắt đầu có tín hiệu “thẩm thấu” sâu hơn, tác động vào mặt bằng lãi suất cho vay đã tiếp tục giảm thêm. Tuần này cũng ghi nhận diễn biến quay đầu giảm của lãi suất thị trường liên ngân hàng.
aa

Chính sách giảm lãi suất “thấm” sâu hơn

Lãnh đạo NHNN tuần qua tiết lộ thông tin về tình hình lãi suất cho biết, mặt bằng lãi suất cho vay ra đã thấp hơn khoảng 2,2% so với cuối năm 2022. Đây là động thái mới cho thấy lãi suất đã thấp hơn nữa so với tháng trước, bởi vào thời điểm cách đây khoảng 1 tháng, thông tin từ NHNN cho biết lãi suất cho vay thấp hơn khoảng từ 1,5-2% so với cuối năm ngoái.

Về tăng trưởng tín dụng, NHNN cho biết, tốc độ tăng trưởng tín dụng tính đến cuối tháng 10/2023 tăng 7,1% so với cuối năm ngoái. Tốc độ tăng trưởng này vẫn còn thấp so với mục tiêu tăng trưởng khoảng 14% trong năm 2023 mà NHNN đặt ra. Tuy nhiên, trong giai đoạn khoảng hơn 1 tháng nay, tốc độ tăng trưởng tín dụng đã cải thiện đáng kể so với giai đoạn hơn 8 tháng đầu năm 2023.

Nhắc lại giải pháp về bảo lãnh vay vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Nêu ý kiến về giải pháp vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, tuần qua lãnh đạo NHNN cho biết, đặc thù doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam chiếm đến 95% tổng số doanh nghiệp trong cả nước và những doanh nghiệp này cũng khó khăn trong cạnh tranh cũng như về tiềm lực tài chính, nên NHNN đã nhiều lần có kiến nghị là phải tăng cường các giải pháp như bảo lãnh vay vốn. Có như vậy, mới có thể đồng hành và thúc đẩy tăng trưởng tín dụng.

Cụ thể, tính đến giữa tháng 9/2023, tín dụng toàn nền kinh tế đạt gần 12,6 triệu tỷ đồng, tăng trưởng 5,56% (bình quân tăng gần 0,59% mỗi tháng), nhưng trong 1,5 tháng từ giữa tháng 9 đến cuối tháng 10 đã tăng 1,54%. Tính bình quân tháng trong giai đoạn kể từ giữa tháng 9 đến nay đã đạt được tốc độ khoảng gần 1,03 % mỗi tháng, gần xấp xỉ với tốc độ tăng trưởng bình quân tháng của 2 năm gần đây. Tăng trưởng tín dụng bình quân tháng năm 2022 đạt khoảng hơn 1,1%/tháng và của năm 2021 là khoảng 1,07%/tháng.

Về định hướng điều hành thời gian tới, Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng cho biết, từ nay đến cuối năm NHNN sẽ điều phối về tăng trưởng tín dụng của toàn hệ thống, cũng như của các ngân hàng để có thể thúc đẩy tăng trưởng tín dụng. Đồng thời, NHNN đã chỉ đạo các ngân hàng rà soát, làm sao giảm thiểu thủ tục hành chính cũng như hồ sơ vay vốn để rút ngắn quá trình xem xét tín dụng, tạo điều kiện có thể hỗ trợ về tín dụng đối với doanh nghiệp và người dân.

Chính sách giảm lãi suất bắt đầu “ngấm dần”
Diễn biến thị trường tiền tệ sẽ được giới kinh doanh quan tâm nhiều hơn vào giai đoạn cuối năm. Ảnh: T.L
Lãi suất tín phiếu quay đầu giảm, giá vàng trong nước lại nóng Lãi suất qua đêm liên ngân hàng lại quay đầu giảm xuống dưới 1%

Lãi suất liên ngân hàng quay đầu giảm

Tuần qua ghi nhận diễn biến hạ nhiệt của lãi suất trên thị trường liên ngân hàng. Theo đó đến đầu tháng 11/2023, lãi suất cho vay qua đêm trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng đã giảm xuống chỉ còn 1,05%. Các mức lãi suất khác lần lượt là 1,49% với kỳ hạn 1 tuần, 1,68% với kỳ hạn 2 tuần, 2,08% với kỳ hạn 1 tháng.

Diễn biến thị trường liên ngân hàng theo đó đã đảo chiều so với động thái bật tăng khá mạnh diễn ra trong tuần trước. Cụ thể trong tuần trước, lãi suất cho vay qua đêm trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng đã bật lên mức 2,74%. Với một số kỳ hạn khác, lãi suất kỳ hạn 1 tuần là 2,81%, kỳ hạn 2 tuần là 2,87%, kỳ hạn 1 tháng là 3,01%...

Hiện nay, trần lãi suất cho vay qua đêm trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng là 5%, thực hiện theo Quyết định số 1123/QĐ-NHNN ngày 16/6/2023 về lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ.

Tỷ giá trung tâm và Vietcombank ngược chiều

Tỷ giá trung tâm do NHNN tuần qua công bố có xu hướng giảm nhẹ trong chu kỳ cả tuần, trong đó diễn biến tỷ giá do Vietcombank niêm yết lại có xu hướng tăng, nhưng mức tăng cũng không nhiều.

Mở đầu tuần mới, tỷ giá trung tâm được NHNN công bố ở mức 24.107 đồng/USD, sau đó quay đầu giảm 2 phiên liên tiếp và đến cuối tuần lại tăng trở lại, ghi nhận ở mức 24.099 VND/USD, theo đó tỷ giá USD giảm khoảng 8 đồng mỗi đô la so với đầu tuần.

Trong đó tại Vietcombank, tỷ giá USD mở đầu tuần niêm yết tỷ giá bán ra ở mức 24.725 đồng mỗi Đô la, sau đó tăng liên tiếp 3 phiên liền và quay đầu giảm vào hôm thứ sáu cuối tuần. Sáng 3/11, tỷ giá USD bán ra tại Vietcombank là 24.740 đồng/USD, cao hơn khoảng 15 USD so với hôm đầu tuần.

Hiện tại, tỷ giá cũng không còn chịu áp lực gì đáng kể do thương mại hàng hóa tiếp tục trạng thái xuất siêu. Theo Tổng cục Thống kê, cán cân thương mại hàng hóa tháng 10/2023 xuất siêu 3 tỷ USD. Tính chung 10 tháng năm 2023, cán cân thương mại hàng hóa ước tính xuất siêu 24,61 tỷ USD, mức xuất siêu trong 10 tháng 2023 theo đó lớn hơn khá nhiều so với cùng kỳ năm trước (10 tháng năm 2022 xuất siêu 9,56 tỷ USD).

Chính sách giảm lãi suất bắt đầu “ngấm dần”
Đà tăng của giá vàng thế giới đã chững lại trung tuần qua. Ảnh: T.L

Giá vàng thế giới hạ nhiệt

Giá vàng thế giới sau một chu kỳ tăng mạnh vượt mốc 2.000 USD/ounce đã có những tín hiệu hạ nhiệt vào cuối tuần. Trong khi đó, giá vàng trong nước không còn trạng thái “nóng” như trong tháng 10, nhưng vẫn giữ mặt bằng khá cao.

Tại thị trường quốc tế, giá vàng thế giới mở đầu tuần ở mức 2.003,9 USD/ounce, tuy nhiên, đã tuột khỏi mốc 2.000 USD/ounce chỉ ngay ngày hôm sau, xuống còn 1.996,225 USD/ounce. Trong những ngày tiếp theo, giá vàng thế giới tiếp tục xu hướng giảm và đến sáng ngày 3/11 giảm xuống mặt bằng chỉ còn 1.985,910 USD/ounce.

Trong tuần qua, thông điệp đáng chú nhất trên thị trường tiền tệ quốc tế là việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đã quyết định để lãi suất ở mức từ 5,25% đến 5,50% theo quan điểm lạc quan về nền kinh tế Mỹ thời gian gần đây. Ông Andrew Hunter, Phó Giám đốc kinh tế Mỹ tại Capital Economics, cho rằng FED sẽ cắt giảm lãi suất trong nửa đầu năm 2024.

Trong khi đó với thị trường trong nước, giá vàng SJC 9999 mở đầu tuần mới ở mức 70,10 triệu đồng/lượng mua vào và 70,82 triệu đồng/lượng bán ra. Trong những ngày giao dịch tiếp theo trong tuần, sức mua của vàng tại thị trường trong nước không quá lớn và theo đó, giá vàng có phần giảm nhẹ nhưng mặt bằng chung vẫn còn ở mức cao khi kết thúc tuần tại mức giá 69,95 – 70,67 triệu đồng/lượng, giảm 100 nghìn đồng/lượng ở cả hai chiều.

Một trong những yếu tố khiến cho người dân tạm thời không còn bị cuốn theo sức nóng của vàng như trong giai đoạn khoảng 1 tháng trước, là việc chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đã hạ nhiệt mạnh. CPI tháng 10/2023 chỉ tăng nhẹ 0,08% so với tháng trước và so với tháng 12/2022, chỉ số CPI tháng 10/2023 tăng 3,2%.

Chỉ số giá vàng và giá USD trong tháng 10 đều tăng

Theo Tổng cục Thống kê, chỉ số giá vàng tháng 10/2023 tăng 0,92% so với tháng trước; tăng 5,87% so với tháng 12/2022; tăng 8,28% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 10/2023 tăng 1,2% so với tháng trước; tăng 1,56% so với tháng 12/2022; tăng 1,79% so với cùng kỳ năm trước.

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 30/3: Giá vàng trong nước duy trì quanh ngưỡng 169,8 - 172,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 30/3: Giá vàng trong nước duy trì quanh ngưỡng 169,8 - 172,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng sáng ngày 30/3 ghi nhận trạng thái đi ngang khi các thương hiệu lớn đồng loạt giữ giá, với cả vàng miếng và vàng nhẫn duy trì mặt bằng giao dịch quanh 169,8 - 172,8 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 29/3: Giá vàng chạm ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 29/3: Giá vàng chạm ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 29/3 tiếp tục tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lên ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 27/3: Giá vàng giảm về vùng 168 - 171 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 27/3: Giá vàng giảm về vùng 168 - 171 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 27/3 đồng loạt giảm tại nhiều doanh nghiệp, đưa mặt bằng giao dịch về quanh 168 - 171 triệu đồng/lượng, với mức giảm phổ biến từ 2 đến hơn 4 triệu đồng/lượng.
Giá vàng thủng mốc 4.500 USD/ounce, chuyên gia lý giải áp lực bán mạnh

Giá vàng thủng mốc 4.500 USD/ounce, chuyên gia lý giải áp lực bán mạnh

(TBTCO) - Giá vàng thế giới thủng 4.500 USD/ounce, trong khi trong nước “neo giá” khiến chênh lệch nới rộng khoảng 25 triệu đồng/lượng; từ đỉnh, giá vàng trong nước mới giảm 10%, thấp hơn mức giảm khoảng 20% của thế giới. Giới phân tích cho rằng kỳ vọng lãi suất đang chi phối mạnh, áp lực bán gia tăng, thậm chí một số ngân hàng trung ương có thể dùng dự trữ vàng để ổn định đồng nội tế trước căng thẳng Trung Đông.
Giá vàng hôm nay ngày 26/3: Giá vàng tiếp tục tăng tại các thương hiệu lớn

Giá vàng hôm nay ngày 26/3: Giá vàng tiếp tục tăng tại các thương hiệu lớn

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tiếp tục đi lên tính đến sáng ngày 26/3. Cả vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt tăng giá, đưa mặt bằng giao dịch lên quanh 170 - 175 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 25/3: Giá vàng đảo chiều tăng mạnh lên ngưỡng 170 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 25/3: Giá vàng đảo chiều tăng mạnh lên ngưỡng 170 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 25/3 đảo chiều tăng mạnh tại hầu hết doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến trở lại ngưỡng 167 - 170 triệu đồng/lượng sau phiên giảm sâu trước đó.
Giá vàng hôm nay ngày 24/3: Giá vàng trong nước “bốc hơi” 5 - 7 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 24/3: Giá vàng trong nước “bốc hơi” 5 - 7 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng ngày 24/3, giá vàng trong nước đồng loạt giảm mạnh tại nhiều doanh nghiệp lớn, với mức giảm phổ biến 5 triệu đồng/lượng, có nơi giảm hơn 7 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 23/3: Giá vàng giao dịch quanh ngưỡng 168 - 171 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 23/3: Giá vàng giao dịch quanh ngưỡng 168 - 171 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng ngày 23/3, giá vàng trong nước đi ngang khi các thương hiệu lớn đồng loạt giữ nguyên giá, với mặt bằng giao dịch phổ biến quanh 168 - 171 triệu đồng/lượng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,080 ▲100K 17,380 ▲100K
Kim TT/AVPL 17,090 ▲110K 17,390 ▲110K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,080 ▲100K 17,380 ▲100K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼50K 16,150 ▼50K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼50K 16,100 ▲50K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,940 ▲140K 17,340 ▲140K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,890 ▲140K 17,290 ▲140K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,820 ▲140K 17,270 ▲140K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,800 ▲1000K 173,800 ▲1000K
Hà Nội - PNJ 170,800 ▲1000K 173,800 ▲1000K
Đà Nẵng - PNJ 170,800 ▲1000K 173,800 ▲1000K
Miền Tây - PNJ 170,800 ▲1000K 173,800 ▲1000K
Tây Nguyên - PNJ 170,800 ▲1000K 173,800 ▲1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 170,800 ▲1000K 173,800 ▲1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,080 ▲100K 17,380 ▲100K
Miếng SJC Nghệ An 17,080 ▲100K 17,380 ▲100K
Miếng SJC Thái Bình 17,080 ▲100K 17,380 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,080 ▲100K 17,380 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,080 ▲100K 17,380 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,080 ▲100K 17,380 ▲100K
NL 99.90 15,770 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,800 ▼50K
Trang sức 99.9 16,570 ▲100K 17,270 ▲100K
Trang sức 99.99 16,580 ▲100K 17,280 ▲100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,708 ▲10K 17,382 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,708 ▲10K 17,383 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,706 ▲10K 1,736 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,706 ▲10K 1,737 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,686 ▲10K 1,721 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,896 ▲990K 170,396 ▲990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,338 ▲750K 129,238 ▲750K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 10,829 ▲68K 11,719 ▲68K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,241 ▲610K 105,141 ▲610K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,594 ▲583K 100,494 ▲583K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 63,023 ▲417K 71,923 ▲417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Cập nhật: 30/03/2026 19:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17524 17797 18373
CAD 18395 18672 19291
CHF 32283 32666 33306
CNY 0 3470 3830
EUR 29639 29910 30937
GBP 34056 34446 35373
HKD 0 3231 3433
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14752 15340
SGD 19874 20156 20686
THB 717 780 833
USD (1,2) 26075 0 0
USD (5,10,20) 26116 0 0
USD (50,100) 26144 26164 26355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,135 26,135 26,355
USD(1-2-5) 25,090 - -
USD(10-20) 25,090 - -
EUR 29,851 29,875 31,107
JPY 161 161.29 169.96
GBP 34,348 34,441 35,413
AUD 17,776 17,840 18,399
CAD 18,635 18,695 19,266
CHF 32,619 32,720 33,478
SGD 20,057 20,119 20,788
CNY - 3,789 3,907
HKD 3,305 3,315 3,432
KRW 16.06 16.75 18.11
THB 766.55 776.02 825.47
NZD 14,782 14,919 15,263
SEK - 2,732 2,812
DKK - 3,995 4,110
NOK - 2,650 2,727
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,124.95 - 6,873.65
TWD 744.81 - 896.72
SAR - 6,921.38 7,245.6
KWD - 83,780 88,593
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,105 26,135 26,355
EUR 29,739 29,858 31,031
GBP 34,274 34,412 35,411
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 32,398 32,528 33,434
JPY 160.83 161.48 168.70
AUD 17,701 17,772 18,354
SGD 20,085 20,166 20,740
THB 779 782 816
CAD 18,612 18,687 19,249
NZD 14,847 15,374
KRW 16.71 18.32
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26225 26225 26355
AUD 17709 17809 18735
CAD 18583 18683 19694
CHF 32534 32564 34139
CNY 3751.5 3776.5 3911.9
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29821 29851 31574
GBP 34360 34410 36168
HKD 0 3355 0
JPY 161.53 162.03 172.59
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14862 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20038 20168 20900
THB 0 746.6 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17080000 17080000 17380000
SBJ 15000000 15000000 17380000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,156 26,206 26,355
USD20 26,156 26,206 26,355
USD1 23,845 26,206 26,355
AUD 17,786 17,886 19,022
EUR 29,996 29,996 31,440
CAD 18,542 18,642 19,971
SGD 20,116 20,266 21,500
JPY 161.19 162.69 167.4
GBP 34,298 34,648 35,555
XAU 16,858,000 0 17,162,000
CNY 0 3,659 0
THB 0 776 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 30/03/2026 19:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80