Thị trường tiền tệ tuần 30.10-11.11:

Chính sách giảm lãi suất bắt đầu “ngấm dần”

Chí Tín
(TBTCO) - Thông tin được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) tiết lộ trong tuần qua cho thấy, các đợt giảm lãi suất điều hành đã bắt đầu có tín hiệu “thẩm thấu” sâu hơn, tác động vào mặt bằng lãi suất cho vay đã tiếp tục giảm thêm. Tuần này cũng ghi nhận diễn biến quay đầu giảm của lãi suất thị trường liên ngân hàng.
aa

Chính sách giảm lãi suất “thấm” sâu hơn

Lãnh đạo NHNN tuần qua tiết lộ thông tin về tình hình lãi suất cho biết, mặt bằng lãi suất cho vay ra đã thấp hơn khoảng 2,2% so với cuối năm 2022. Đây là động thái mới cho thấy lãi suất đã thấp hơn nữa so với tháng trước, bởi vào thời điểm cách đây khoảng 1 tháng, thông tin từ NHNN cho biết lãi suất cho vay thấp hơn khoảng từ 1,5-2% so với cuối năm ngoái.

Về tăng trưởng tín dụng, NHNN cho biết, tốc độ tăng trưởng tín dụng tính đến cuối tháng 10/2023 tăng 7,1% so với cuối năm ngoái. Tốc độ tăng trưởng này vẫn còn thấp so với mục tiêu tăng trưởng khoảng 14% trong năm 2023 mà NHNN đặt ra. Tuy nhiên, trong giai đoạn khoảng hơn 1 tháng nay, tốc độ tăng trưởng tín dụng đã cải thiện đáng kể so với giai đoạn hơn 8 tháng đầu năm 2023.

Nhắc lại giải pháp về bảo lãnh vay vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Nêu ý kiến về giải pháp vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, tuần qua lãnh đạo NHNN cho biết, đặc thù doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam chiếm đến 95% tổng số doanh nghiệp trong cả nước và những doanh nghiệp này cũng khó khăn trong cạnh tranh cũng như về tiềm lực tài chính, nên NHNN đã nhiều lần có kiến nghị là phải tăng cường các giải pháp như bảo lãnh vay vốn. Có như vậy, mới có thể đồng hành và thúc đẩy tăng trưởng tín dụng.

Cụ thể, tính đến giữa tháng 9/2023, tín dụng toàn nền kinh tế đạt gần 12,6 triệu tỷ đồng, tăng trưởng 5,56% (bình quân tăng gần 0,59% mỗi tháng), nhưng trong 1,5 tháng từ giữa tháng 9 đến cuối tháng 10 đã tăng 1,54%. Tính bình quân tháng trong giai đoạn kể từ giữa tháng 9 đến nay đã đạt được tốc độ khoảng gần 1,03 % mỗi tháng, gần xấp xỉ với tốc độ tăng trưởng bình quân tháng của 2 năm gần đây. Tăng trưởng tín dụng bình quân tháng năm 2022 đạt khoảng hơn 1,1%/tháng và của năm 2021 là khoảng 1,07%/tháng.

Về định hướng điều hành thời gian tới, Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng cho biết, từ nay đến cuối năm NHNN sẽ điều phối về tăng trưởng tín dụng của toàn hệ thống, cũng như của các ngân hàng để có thể thúc đẩy tăng trưởng tín dụng. Đồng thời, NHNN đã chỉ đạo các ngân hàng rà soát, làm sao giảm thiểu thủ tục hành chính cũng như hồ sơ vay vốn để rút ngắn quá trình xem xét tín dụng, tạo điều kiện có thể hỗ trợ về tín dụng đối với doanh nghiệp và người dân.

Chính sách giảm lãi suất bắt đầu “ngấm dần”
Diễn biến thị trường tiền tệ sẽ được giới kinh doanh quan tâm nhiều hơn vào giai đoạn cuối năm. Ảnh: T.L
Lãi suất tín phiếu quay đầu giảm, giá vàng trong nước lại nóng Lãi suất qua đêm liên ngân hàng lại quay đầu giảm xuống dưới 1%

Lãi suất liên ngân hàng quay đầu giảm

Tuần qua ghi nhận diễn biến hạ nhiệt của lãi suất trên thị trường liên ngân hàng. Theo đó đến đầu tháng 11/2023, lãi suất cho vay qua đêm trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng đã giảm xuống chỉ còn 1,05%. Các mức lãi suất khác lần lượt là 1,49% với kỳ hạn 1 tuần, 1,68% với kỳ hạn 2 tuần, 2,08% với kỳ hạn 1 tháng.

Diễn biến thị trường liên ngân hàng theo đó đã đảo chiều so với động thái bật tăng khá mạnh diễn ra trong tuần trước. Cụ thể trong tuần trước, lãi suất cho vay qua đêm trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng đã bật lên mức 2,74%. Với một số kỳ hạn khác, lãi suất kỳ hạn 1 tuần là 2,81%, kỳ hạn 2 tuần là 2,87%, kỳ hạn 1 tháng là 3,01%...

Hiện nay, trần lãi suất cho vay qua đêm trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng là 5%, thực hiện theo Quyết định số 1123/QĐ-NHNN ngày 16/6/2023 về lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ.

Tỷ giá trung tâm và Vietcombank ngược chiều

Tỷ giá trung tâm do NHNN tuần qua công bố có xu hướng giảm nhẹ trong chu kỳ cả tuần, trong đó diễn biến tỷ giá do Vietcombank niêm yết lại có xu hướng tăng, nhưng mức tăng cũng không nhiều.

Mở đầu tuần mới, tỷ giá trung tâm được NHNN công bố ở mức 24.107 đồng/USD, sau đó quay đầu giảm 2 phiên liên tiếp và đến cuối tuần lại tăng trở lại, ghi nhận ở mức 24.099 VND/USD, theo đó tỷ giá USD giảm khoảng 8 đồng mỗi đô la so với đầu tuần.

Trong đó tại Vietcombank, tỷ giá USD mở đầu tuần niêm yết tỷ giá bán ra ở mức 24.725 đồng mỗi Đô la, sau đó tăng liên tiếp 3 phiên liền và quay đầu giảm vào hôm thứ sáu cuối tuần. Sáng 3/11, tỷ giá USD bán ra tại Vietcombank là 24.740 đồng/USD, cao hơn khoảng 15 USD so với hôm đầu tuần.

Hiện tại, tỷ giá cũng không còn chịu áp lực gì đáng kể do thương mại hàng hóa tiếp tục trạng thái xuất siêu. Theo Tổng cục Thống kê, cán cân thương mại hàng hóa tháng 10/2023 xuất siêu 3 tỷ USD. Tính chung 10 tháng năm 2023, cán cân thương mại hàng hóa ước tính xuất siêu 24,61 tỷ USD, mức xuất siêu trong 10 tháng 2023 theo đó lớn hơn khá nhiều so với cùng kỳ năm trước (10 tháng năm 2022 xuất siêu 9,56 tỷ USD).

Chính sách giảm lãi suất bắt đầu “ngấm dần”
Đà tăng của giá vàng thế giới đã chững lại trung tuần qua. Ảnh: T.L

Giá vàng thế giới hạ nhiệt

Giá vàng thế giới sau một chu kỳ tăng mạnh vượt mốc 2.000 USD/ounce đã có những tín hiệu hạ nhiệt vào cuối tuần. Trong khi đó, giá vàng trong nước không còn trạng thái “nóng” như trong tháng 10, nhưng vẫn giữ mặt bằng khá cao.

Tại thị trường quốc tế, giá vàng thế giới mở đầu tuần ở mức 2.003,9 USD/ounce, tuy nhiên, đã tuột khỏi mốc 2.000 USD/ounce chỉ ngay ngày hôm sau, xuống còn 1.996,225 USD/ounce. Trong những ngày tiếp theo, giá vàng thế giới tiếp tục xu hướng giảm và đến sáng ngày 3/11 giảm xuống mặt bằng chỉ còn 1.985,910 USD/ounce.

Trong tuần qua, thông điệp đáng chú nhất trên thị trường tiền tệ quốc tế là việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đã quyết định để lãi suất ở mức từ 5,25% đến 5,50% theo quan điểm lạc quan về nền kinh tế Mỹ thời gian gần đây. Ông Andrew Hunter, Phó Giám đốc kinh tế Mỹ tại Capital Economics, cho rằng FED sẽ cắt giảm lãi suất trong nửa đầu năm 2024.

Trong khi đó với thị trường trong nước, giá vàng SJC 9999 mở đầu tuần mới ở mức 70,10 triệu đồng/lượng mua vào và 70,82 triệu đồng/lượng bán ra. Trong những ngày giao dịch tiếp theo trong tuần, sức mua của vàng tại thị trường trong nước không quá lớn và theo đó, giá vàng có phần giảm nhẹ nhưng mặt bằng chung vẫn còn ở mức cao khi kết thúc tuần tại mức giá 69,95 – 70,67 triệu đồng/lượng, giảm 100 nghìn đồng/lượng ở cả hai chiều.

Một trong những yếu tố khiến cho người dân tạm thời không còn bị cuốn theo sức nóng của vàng như trong giai đoạn khoảng 1 tháng trước, là việc chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đã hạ nhiệt mạnh. CPI tháng 10/2023 chỉ tăng nhẹ 0,08% so với tháng trước và so với tháng 12/2022, chỉ số CPI tháng 10/2023 tăng 3,2%.

Chỉ số giá vàng và giá USD trong tháng 10 đều tăng

Theo Tổng cục Thống kê, chỉ số giá vàng tháng 10/2023 tăng 0,92% so với tháng trước; tăng 5,87% so với tháng 12/2022; tăng 8,28% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 10/2023 tăng 1,2% so với tháng trước; tăng 1,56% so với tháng 12/2022; tăng 1,79% so với cùng kỳ năm trước.

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 23/9: Vàng thế giới tăng, vàng trong nước giảm tới 1,7 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 23/9: Vàng thế giới tăng, vàng trong nước giảm tới 1,7 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch ở ngưỡng 4.358 USD/ounce, tăng 12 USD. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn vừa ghi nhận mức giảm tới 1,7 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 22/9: Vàng thế giới giảm 33 USD, trong nước mất tới 1,2 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 22/9: Vàng thế giới giảm 33 USD, trong nước mất tới 1,2 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về 4.358 USD/ounce, giảm 33 USD so với cùng thời điểm hôm qua. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt đi xuống, giảm tới 1,2 triệu đồng/lượng.
Thanh tra chỉ rõ nhiều tồn tại, hạn chế trong hoạt động kinh doanh vàng tại Mi Hồng Bà Chiểu

Thanh tra chỉ rõ nhiều tồn tại, hạn chế trong hoạt động kinh doanh vàng tại Mi Hồng Bà Chiểu

(TBTCO) - Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 2 vừa ban hành kết luận thanh tra đối với Công ty TNHH Mi Hồng Bà Chiểu, chỉ ra một số tồn tại trong công tác phòng, chống rửa tiền và việc xác định giá trị gia tăng trong hoạt động mua, bán, chế tác vàng trang sức mỹ nghệ.
Giá vàng hôm nay ngày 21/9: Vàng thế giới giữ mốc 4.300 USD, trong nước đứng giá

Giá vàng hôm nay ngày 21/9: Vàng thế giới giữ mốc 4.300 USD, trong nước đứng giá

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì trên mốc 4.300 USD/ounce, trong khi giá vàng miếng tiếp tục giao dịch ở vùng giá 144,6 - 147,6 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng lên 4.378 USD/ounce sau một tuần biến động, trong khi giá vàng trong nước đi ngang, với vàng miếng bán ra ở mức 147,6 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 19/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 19/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới phục hồi lên 4.379 USD/ounce, mức cao nhất trong một tuần. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt tăng mạnh, với mức tăng tới 1,8 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 18/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đảo chiều

Giá vàng hôm nay ngày 18/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đảo chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng vượt mốc 4.300 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt giảm tới 700.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 17/9: Vàng thế giới và trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 17/9: Vàng thế giới và trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 30 USD/ounce sau quyết định tăng lãi suất của Fed, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt tăng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,400 144,400
Hà Nội - PNJ 141,400 144,400
Đà Nẵng - PNJ 141,400 144,400
Miền Tây - PNJ 141,400 144,400
Tây Nguyên - PNJ 141,400 144,400
Đông Nam Bộ - PNJ 141,400 144,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,140 14,440
Miếng SJC Nghệ An 14,140 14,440
Miếng SJC Thái Bình 14,140 14,440
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,090 14,490
NL 99.99 13,550
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450
Trang sức 99.9 13,800 14,400
Trang sức 99.99 13,810 14,410
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,414 14,442
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,414 14,443
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,409 1,439
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,409 144
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,384 1,429
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,485 141,485
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,536 107,336
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,532 97,332
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,528 87,328
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,669 83,469
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,945 59,745
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cập nhật: 26/09/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17711 17985 18561
CAD 17835 18109 18730
CHF 30704 31080 31738
CNY 0 3827 3923
EUR 28962 29181 30262
GBP 33624 34013 34950
HKD 0 3181 3384
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14381 14976
SGD 19787 20069 20651
THB 693 756 810
USD (1,2) 25715 0 0
USD (5,10,20) 25754 0 0
USD (50,100) 25782 25796 26166
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 28,966 28,989 30,365
JPY 159.62 159.91 169.6
GBP 33,720 33,811 34,976
AUD 17,889 17,954 18,641
CAD 18,026 18,084 18,749
CHF 30,949 31,045 31,971
SGD 19,891 19,953 20,734
CNY - 3,797 3,942
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.61 18.37 20
THB 740.77 749.92 802.72
NZD 14,369 14,502 14,935
SEK - 2,572 2,664
DKK - 3,885 4,022
NOK - 2,681 2,776
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,955.48 - 6,723.75
TWD 738.54 - 894.78
SAR - 6,803.17 7,166.27
KWD - 82,177 87,444
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,780 25,810 26,190
EUR 29,037 29,154 30,363
GBP 33,760 33,896 34,915
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 30,877 31,001 31,935
JPY 159.97 160.61 168.59
AUD 17,900 17,972 18,563
SGD 19,975 20,055 20,646
THB 758 761 799
CAD 18,055 18,128 18,718
NZD 14,492 15,032
KRW 18.24 20.22
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25795 25795 26165
AUD 17909 18009 18931
CAD 18014 18114 19128
CHF 30920 30950 32524
CNY 3809.7 3834.7 3970.2
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29144 29174 30896
GBP 33895 33945 35703
HKD 0 3315 0
JPY 160.86 161.36 171.9
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14515 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19950 20080 20802
THB 0 723.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14140000 14140000 14440000
SBJ 13000000 13000000 14440000
Cập nhật: 26/09/2026 22:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30