Chủ động các giải pháp phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội

Mai Lâm
(TBTCO) - Với những tín hiệu lạc quan và tinh thần khẩn trương, tận dụng thời gian bắt tay vào thực hiện nhiệm vụ, ngay từ đầu năm 2023, cơ quan bảo hiểm xã hội đã chủ động sớm triển khai nhiều giải pháp để đảm bảo hiệu quả, tiến độ thu, phát triển người tham gia năm 2023.
aa

Dự kiến số người tham gia có thể tăng 4 - 5%

Tiếp đà tăng trưởng tích cực của năm 2022, ngành bảo hiểm xã hội (BHXH) tiếp tục tăng cường triển khai đồng bộ các giải pháp linh hoạt, hiệu quả ngay từ đầu năm. Theo báo cáo, tính đến hết tháng 1/2023 cả nước có gần 17,3 triệu người tham gia BHXH, đạt tỷ lệ bao phủ là 37,4% lực lượng lao động trong độ tuổi (lực lượng lao động trong độ tuổi năm 2023 tạm tính là 46,12 triệu người, theo công bố tình hình lao động việc làm quý IV/2022 của Tổng cục Thống kê); tăng 648 nghìn người so với cùng kỳ năm 2022. Trong đó, có trên 15,8 triệu người tham gia BHXH bắt buộc; trên 1,4 triệu người tham gia BHXH tự nguyện, tăng lần lượt 4,2%, 0,4% so với cùng kỳ năm 2022. Số người tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) đạt trên 88,9 triệu người người, tăng 5,6% so với cùng kỳ năm 2022.

Tuyên truyền chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế tới người dân tại Quảng Nam.
Tuyên truyền chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế tới người dân tại Quảng Nam.

Đánh giá về bức tranh thu, phát triển người tham gia BHXH, BHYT đầu năm 2023, ông Dương Văn Hào - Trưởng ban Quản lý Thu - Sổ thẻ (BHXH Việt Nam) cho biết, tình hình các doanh nghiệp hoạt động sản xuất và tỷ lệ người lao động quay trở lại làm việc tại các địa phương như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai… đạt khá cao. Đáng chú ý, khi Chính phủ chỉ đạo mạnh việc giải ngân đầu tư công ở một số dự án lớn, mang tính trọng điểm của quốc gia, nền kinh tế vĩ mô nói chung sẽ phát triển, tạo hiệu ứng gia tăng số lao động việc làm; công tác phát triển BHXH, BHYT tại các doanh nghiệp vì vậy cũng sẽ được thuận lợi hơn. Đây là cơ sở thuận lợi cho công tác thu, phát triển người tham gia BHXH, BHYT đầu năm 2023.

Theo ông Hào, với đà phát triển tích cực như hiện nay, căn cứ các yếu tố tác động, dự kiến năm nay số tham gia BHXH, BHYT có thể tăng 4 - 5%, tương ứng với khoảng 1,6 triệu người. Kết thúc năm 2023, số tham gia BHXH có thể đạt khoảng 40% lực lượng lao động trong độ tuổi.

Giao chỉ tiêu cụ thể cho từng địa phương

Với tinh thần khẩn trương, phấn đấu hoàn thành đạt và vượt các chỉ tiêu đề ra, trên cơ sở dự báo, đánh giá các tác động đến công tác thu và phát triển người tham gia BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) thời gian tới, ngay từ đầu năm 2023, BHXH Việt Nam đã ban hành công văn tạm giao kế hoạch thu, phát triển người tham gia năm 2023 đối với BHXH 63 tỉnh, thành phố. Trong đó có một số chỉ tiêu cụ thể như: BHXH bắt buộc tăng 892 nghìn người, BHXH tự nguyện tăng 314 nghìn người, BHYT tăng 1,978 triệu người so với năm 2022. Từ đó, BHXH các địa phương cũng đã sớm triển khai nhiều giải pháp ngay từ đầu năm để đảm bảo hiệu quả, tiến độ thu, phát triển người tham gia năm 2023.

Chia sẻ tại hội nghị triển khai công tác thu năm 2023 diễn ra ngày 13/2, ông Phan Văn Mến - Giám đốc BHXH TP. Hà Nội, cho biết tình hình thu, phát triển người tham gia BHXH, BHYT tại Hà Nội đã ghi nhận những tín hiệu tích cực trong tháng 1/2023. Dù vậy, vẫn còn không ít thách thức khi các doanh nghiệp sản xuất, gỗ, xây dựng, bất động sản… trên địa bàn đang gặp nhiều khó khăn trong sản xuất kinh doanh. Vì vậy, BHXH thành phố đã chủ động chuyển hướng, tập trung thu, phát triển người tham gia tại các nhóm doanh nghiệp khác có tiềm năng tích cực hơn.

Tại Bắc Giang, BHXH tỉnh đã tham mưu đưa chỉ tiêu BHXH, BHYT vào nghị quyết phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; đồng thời, thường xuyên tranh thủ báo cáo rõ tình hình thực tế để xin ý kiến chỉ đạo từ UBND tỉnh yêu cầu các sở, ngành cùng vào cuộc tháo gỡ các điểm nghẽn… Đại diện BHXH tỉnh Bắc Giang cho biết, cơ quan này sẽ theo sát tình hình của các doanh nghiệp để nắm bắt sự tăng, giảm số tham gia BHXH, nhận định tiềm năng phát triển để có giải pháp ứng phó kịp thời, bảo đảm tiến độ thực hiện mục tiêu, kế hoạch được BHXH Việt Nam giao.

Phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu năm 2023

Phát biểu tại hội nghị triển khai công tác thu ngày 13/2, Tổng giám đốc Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam Nguyễn Thế Mạnh khẳng định: “Dựa trên các nhận định của Chính phủ năm 2023 là năm với rất nhiều khó khăn tác động tới công tác thu, phát triển người tham gia của ngành BHXH, song với phương châm hành động “đoàn kết - kỷ cương - linh hoạt - sáng tạo - chuyên nghiệp - hiệu quả”, toàn ngành sẽ nỗ lực, tận dụng tối đa mọi nguồn lực và lợi thế sẵn có để phấn đấu hoàn thành tốt các chỉ tiêu, nhiệm vụ năm 2023”.

Để hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ của ngành, BHXH Việt Nam yêu cầu BHXH các tỉnh, thành phố bám sát vào chỉ đạo của BHXH Việt Nam xây dựng các giải pháp tổ chức thực hiện hiệu quả, tập trung vào 6 nhóm giải pháp. Trong đó, yêu cầu BHXH các địa phương chủ động tham mưu với cấp uỷ, chính quyền địa phương đưa chỉ tiêu bao phủ BHXH, BHYT, BHTN vào nghị quyết của HĐND các cấp; đồng thời giao chỉ tiêu phát triển người tham gia đến cấp huyện, cấp xã; tham mưu kế hoạch, nội dung giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện để hoàn thành các chỉ tiêu được giao về độ bao phủ.

Bên cạnh đó, BHXH các địa phương phối hợp chặt chẽ với cơ quan thuế, các sở kế hoạch - đầu tư và các ngành liên quan nắm bắt thông tin về tình hình hoạt động của các doanh nghiệp, việc sử dụng lao động… để hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, thanh tra yêu cầu đơn vị đăng ký tham gia và nộp đầy đủ BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động. Đồng thời, BHXH thực hiện phân công giao trách nhiệm theo dõi đơn vị sử dụng lao động, các tổ chức dịch vụ thu cho từng lãnh đạo và cán bộ liên quan để đôn đốc các đơn vị sử dụng lao động nộp đủ số tiền phát sinh phải thu trong tháng và số tiền chậm đóng của những tháng trước, đôn đốc tổ chức dịch vụ thu hoàn thành chỉ tiêu đã cam kết với cơ quan BHXH…

Mai Lâm

Đọc thêm

Fitch Ratings lần đầu xếp hạng HDBank, ghi nhận nền tảng tài chính vững mạnh top đầu Việt Nam

Fitch Ratings lần đầu xếp hạng HDBank, ghi nhận nền tảng tài chính vững mạnh top đầu Việt Nam

(TBTCO) - Tổ chức xếp hạng quốc tế Fitch Ratings vừa công bố kết quả xếp hạng tín nhiệm lần đầu đối với Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank - HoSE: HDB). Các mức đánh giá dành cho HDBank thuộc nhóm cao nhất, phản ánh nền tảng tài chính vững mạnh, hiệu quả cao và bền vững.
Vietbank sắp chào sàn HOSE, tiếp tục tăng vốn để mở rộng dư địa tăng trưởng

Vietbank sắp chào sàn HOSE, tiếp tục tăng vốn để mở rộng dư địa tăng trưởng

(TBTCO) - Vietbank chính thức đưa gần 1,08 tỷ cổ phiếu lên giao dịch trên HOSE từ ngày 14/7/2026 sau khi rời UPCoM. Việc chuyển sàn diễn ra trong bối cảnh Vietbank tiếp tục tăng vốn nhằm mở rộng dư địa tăng trưởng, đẩy dư nợ tín dụng tăng hơn 23% trong năm nay, dù vẫn chịu áp lực khi nợ xấu gia tăng.
MoMoCare và dấu ấn đổi mới của Chubb Life Việt Nam trong hành trình bảo hiểm số

MoMoCare và dấu ấn đổi mới của Chubb Life Việt Nam trong hành trình bảo hiểm số

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) vừa được vinh danh tại hạng mục “Sáng kiến Đổi mới Sản phẩm Bảo hiểm của năm tại Việt Nam” (Insurance Product Innovation of the Year - Vietnam) trong khuôn khổ Giải thưởng Bảo hiểm châu Á 2026 (Insurance Asia Awards 2026) với sản phẩm MoMoCare | Bảo hiểm Sức khỏe+ (MoMoCare). Giải thưởng ghi nhận nỗ lực của Chubb Life Việt Nam trong việc đổi mới trải nghiệm bảo hiểm, giúp khách hàng tiếp cận giải pháp bảo vệ một cách đơn giản, nhanh chóng và thuận tiện hơn.
Hệ sinh thái ngân hàng tạo sức bật cho bancassurance

Hệ sinh thái ngân hàng tạo sức bật cho bancassurance

(TBTCO) - Kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng (bancassurance) tiếp tục là trụ cột tăng trưởng của nhiều doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ có ngân hàng mẹ hậu thuẫn. Tuy nhiên, để tận dụng dư địa và phát triển bền vững kênh này, doanh nghiệp cần đặt chất lượng tư vấn và tính minh bạch lên hàng đầu.
LPBank lập "cú đúp" tại HR Asia 2026: Khi chiến lược phát triển con người trở thành lợi thế cạnh tranh

LPBank lập "cú đúp" tại HR Asia 2026: Khi chiến lược phát triển con người trở thành lợi thế cạnh tranh

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) vừa được HR Asia Awards 2026 vinh danh ở hai hạng mục danh giá gồm “Nơi làm việc tốt nhất châu Á 2026” và “Doanh nghiệp Dẫn đầu công nghệ 2026”. Cú đúp giải thưởng ghi nhận những nỗ lực nổi bật của LPBank trong xây dựng văn hóa doanh nghiệp, phát triển nguồn nhân lực và thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện.
Giá vàng hôm nay ngày 12/7: Vàng miếng đi ngang, vàng nhẫn giảm tại một số doanh nghiệp

Giá vàng hôm nay ngày 12/7: Vàng miếng đi ngang, vàng nhẫn giảm tại một số doanh nghiệp

(TBTCO) - Giá vàng miếng trong nước hầu như đi ngang, phổ biến ở mức 149,9 triệu đồng/lượng chiều bán ra, trong khi một số thương hiệu điều chỉnh giảm giá vàng nhẫn.
HDBank huy động thành công 721 triệu USD từ ADB, Standard Chartered và các định chế tài chính quốc tế

HDBank huy động thành công 721 triệu USD từ ADB, Standard Chartered và các định chế tài chính quốc tế

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Phát triển TP.HCM (HDBank - HoSE: HDB) vừa ký kết khoản vay hợp vốn quốc tế theo hình thức Khoản vay xã hội (Social Loan) trị giá 721 triệu USD, vượt khoảng 60% quy mô huy động ban đầu. Thành công của giao dịch tiếp tục khẳng định niềm tin của các định chế tài chính quốc tế đối với năng lực quản trị, chiến lược phát triển bền vững và triển vọng tăng trưởng của HDBank.
Diễn biến thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/7: Hút ròng mạnh 31.000 tỷ đồng, tỷ giá giữ nhịp tăng 8 tuần

Diễn biến thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/7: Hút ròng mạnh 31.000 tỷ đồng, tỷ giá giữ nhịp tăng 8 tuần

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 6 - 10/7 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước dù hút ròng mạnh 31.379,6 tỷ đồng qua kênh OMO, nhưng lãi suất VND qua đêm vẫn giảm nhiệt còn 4,68%/năm. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng 8 đồng, lên 25.214 đồng, đánh dấu tuần tăng thứ 8 liên tiếp.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,540 14,840
Kim TT/AVPL 14,300 14,680
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 14,680
Nguyên Liệu 99.99 13,200 13,400
Nguyên Liệu 99.9 13,150 13,350
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 14,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 14,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 14,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,200 146,900
Hà Nội - PNJ 143,200 146,900
Đà Nẵng - PNJ 143,200 146,900
Miền Tây - PNJ 143,200 146,900
Tây Nguyên - PNJ 143,200 146,900
Đông Nam Bộ - PNJ 143,200 146,900
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,540 14,840
Miếng SJC Nghệ An 14,540 14,840
Miếng SJC Thái Bình 14,540 14,840
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,350 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,350 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,350 14,700
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,890 14,590
Trang sức 99.99 13,900 14,600
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 1,484
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,454 14,842
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,454 14,843
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,444 1,479
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,444 148
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,419 1,459
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,455 144,455
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,786 109,586
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,572 99,372
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,358 89,158
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,418 85,218
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,196 60,996
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 1,484
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 1,484
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 1,484
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 1,484
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 1,484
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 1,484
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 1,484
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 1,484
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 1,484
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 1,484
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 1,484
Cập nhật: 14/07/2026 07:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17702 17976 18555
CAD 18052 18327 18946
CHF 31799 32180 32832
CNY 0 3833 3926
EUR 29394 29614 30695
GBP 34377 34768 35706
HKD 0 3219 3422
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14870 15457
SGD 19781 20063 20639
THB 702 766 819
USD (1,2) 25991 0 0
USD (5,10,20) 26032 0 0
USD (50,100) 26061 26075 26440
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,080 26,080 26,460
USD(1-2-5) 25,037 - -
USD(10-20) 25,037 - -
EUR 29,540 29,564 30,972
JPY 157.6 157.88 167.43
GBP 34,565 34,659 35,850
AUD 17,900 17,965 18,644
CAD 18,234 18,293 18,967
CHF 32,101 32,201 33,157
SGD 19,906 19,968 20,752
CNY - 3,799 3,944
HKD 3,283 3,293 3,431
KRW 16.19 16.88 18.37
THB 751.28 760.56 813.98
NZD 14,859 14,997 15,444
SEK - 2,677 2,771
DKK - 3,952 4,091
NOK - 2,642 2,740
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,024.54 - 6,800.66
TWD 739.3 - 894.99
SAR - 6,877.37 7,243.3
KWD - 83,069 88,379
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,050 26,080 26,460
EUR 29,367 29,485 30,675
GBP 34,506 34,645 35,674
HKD 3,282 3,295 3,413
CHF 32,862 31,990 32,917
JPY 157.99 158.62 166.54
AUD 17,865 17,937 18,530
SGD 19,956 20,036 20,623
THB 767 770 807
CAD 18,205 18,278 18,850
NZD 14,863 15,404
KRW 16.72 18.50
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26027 26027 26481
AUD 17873 17973 18896
CAD 18215 18315 19328
CHF 32036 32066 33644
CNY 3813.1 3838.1 3973.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29558 29588 31314
GBP 34657 34707 36459
HKD 0 3355 0
JPY 158.54 159.04 169.56
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14972 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19937 20067 20795
THB 0 732 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14540000 14540000 14840000
SBJ 13000000 13000000 14840000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,086 26,136 26,450
USD20 26,086 26,136 26,450
USD1 26,086 26,136 26,450
AUD 17,927 18,027 19,134
EUR 29,384 29,484 31,140
CAD 18,173 18,273 19,579
SGD 20,019 20,169 20,723
JPY 158.93 160.43 166
GBP 34,578 34,728 35,790
XAU 14,538,000 0 14,842,000
CNY 0 3,722 0
THB 0 767 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 14/07/2026 07:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80