hải quan lào cai

Cán bộ Hải quan Lào Cai kiểm tra thực tế hàng nhập khẩu. Ảnh: Hải Anh

4 mục tiêu lớn

Ông Ngô Minh Hải, Phó Cục trưởng Cục Giám sát quản lý về hải quan, Tổng cục Hải quan cho hay, đề án này được xây dựng và hoàn thiện sau khi Bộ Tài chính tiếp thu ý kiến của các bộ, ngành, cơ quan chức năng, đảm bảo được 4 mục tiêu lợi ích lớn của quốc gia, phù hợp với chuẩn mực thương mại quốc tế.

Thứ nhất là tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động XNK hàng hóa tại cửa khẩu theo hướng đơn giản hóa thủ tục, nhanh chóng, thuận tiện; giảm chi phí cho doanh nghiệp, giảm chi phí cho NSNN.

Hai là, thực hiện hiệu quả chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết 19 là giảm thời gian thông quan hàng hóa XNK ngang bằng với các nước ASEAN-6. (Cụ thể, năm 2016: dưới 10 ngày đối với hàng xuất khẩu và dưới 12 ngày đối với hàng nhập khẩu; đến năm 2020: còn dưới 5 ngày đối với hàng xuất khẩu và hàng nhập khẩu).

Ba là, tạo điều kiện thuận lợi khuyến khích xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam; tạo hàng rào kỹ thuật đối với hàng hóa nhập khẩu (nhất là những mặt hàng nhà nước không khuyến khích nhập khẩu); bảo vệ hợp lý sản xuất trong nước, bảo vệ môi trường, quyền lợi và sức khỏe cộng đồng.

Với nhóm lợi ích này, ông Ngô Minh Hải lưu ý, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền sẽ quan tâm xác định những lĩnh vực, mặt hàng thuộc diện KTCN là hàng hóa gây nguy hại đến sức khỏe cộng đồng, gây ô nhiễm môi trường, nguy hại cho kinh tế, cho an ninh quốc gia (hàng hóa thuộc diện phải kiểm dịch động vật, thực vật, y tế, hóa chất độc hại, thuốc trừ sâu, phế liệu, phế thải, vũ khí, chất phóng xạ...). Những mặt hàng này phải được kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ ngay tại cửa khẩu, tại các địa điểm có sự quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Bốn là nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động KTCN nhằm đảm bảo quản lý chặt chẽ, đúng quy định pháp luật, phù hợp với thông lệ quốc tế, các công ước/ hiệp định quốc tế Việt Nam đã ký kết và tham gia đối với hàng hóa XNK, góp phần bảo đảm an ninh quốc gia, an toàn kinh tế; nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Chuẩn hóa hóa TKCN

Điểm đáng chú ý của đề án là việc cho phép xã hội hóa hoạt động KTCN. Cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền xác định những lĩnh vực, mặt hàng thuộc diện KTCN thực hiện xã hội hóa; ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn, quy định, điều kiện thực hiện xã hội hóa; quy định việc thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm hoạt động KTCN.

Để hoạt động KTCN được thống nhất, đề án cũng đề xuất giải pháp, các bộ, cơ quan ngang bộ quản lý chuyên ngành phối hợp với Bộ Tài chính định kỳ hàng năm rà soát các Danh mục hàng hóa phải KTCN để kịp thời điều chỉnh, bổ sung những mặt hàng có thay đổi, phát sinh trên thực tế nhằm mục tiêu đáp ứng yêu cầu quản lý của nhà nước.

Các danh mục chuyên ngành phải được ban hành kèm mã số HS (mã số hàng hóa) thống nhất với Danh mục hàng hóa XNK Việt Nam và Biểu thuế XNK khẩu hiện hành.

Cơ quan nhà nước sẽ ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với hàng hóa thuộc đối tượng KTCN làm căn cứ để kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa; chỉ định rõ cơ quan kiểm tra nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

Cơ quan thẩm quyền cũng ban hành các điều kiện khuyến khích các tổ chức đánh giá sự phù hợp tham gia thực hiện KTCN đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo hướng xã hội hóa để bổ sung cơ sở kiểm tra, đáp ứng yêu cầu phát triển mạnh mẽ của hoạt động xuất nhập khẩu, tiết kiệm nguồn lực đầu tư của nhà nước.

“Đồng thời để giảm tải cho cơ quan quản lý nhà nước cũng như chi phí của DN, đề án cũng nêu giải pháp, thực hiện công nhận lẫn nhau về kết quả kiểm tra hàng hóa hoặc giảm thiểu việc kiểm tra chất lượng đối với hàng hóa nhập khẩu từ những quốc gia, khu vực có tiêu chuẩn kỹ thuật cao như EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Canada, Úc, New Zealand, và của những nhà sản xuất với các nhãn hiệu nổi tiếng đã được quốc tế thừa nhận để giảm tải cho cơ quan kiểm tra...”, ông Ngô Minh Hải nói.

Hải Anh