Gỡ vướng trong triển khai chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế

Quang Minh
(TBTCO) - Nhiều địa phương hiện đang gặp khó trong việc tuyên truyền, vận động người dân tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; cùng với đó là tình trạng nợ bảo hiểm xã hội… vẫn còn xảy ra phổ biến phần nào ảnh hưởng đến việc thực hiện chỉ tiêu đề ra của cơ quan bảo hiểm xã hội cho năm 2022 và những năm tới.
aa

Thành lập đoàn công tác gỡ vướng

Theo báo cáo của cơ quan bảo hiểm xã hội (BHXH) các tỉnh, những tháng đầu năm 2022, tình trạng nợ BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) vẫn diễn ra. Nguyên nhân ngoài việc do ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 dẫn đến nhiều doanh nghiệp khó khăn trong sản xuất kinh doanh thì vẫn còn những doanh nghiệp cố tình chây ì, trốn đóng BHXH… Bên cạnh đó, việc phát triển đối tượng tham gia BHXH, BHYT, BHTN cũng bị ảnh hưởng do việc thay đổi mức chuẩn hộ nghèo từ năm 2022 khiến mức đóng BHXH tự nguyện tối thiểu tăng nên các tỉnh gặp khó trong việc tuyên truyền, vận động người dân tham gia.

Trước tình hình trên, BHXH Việt Nam đã thành lập 4 đoàn công tác tại 8 cụm địa phương (diễn ra từ ngày 13/8 đến ngày 26/8) do tổng giám đốc và các phó tổng giám đốc BHXH Việt Nam làm trưởng các đoàn nhằm đôn đốc, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong công tác thu, thu nợ, phát triển người tham gia BHXH, BHYT, BHTN; công tác khám, chữa bệnh (KCB) BHYT tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Cán bộ Bảo hiểm Xã hội tỉnh Quảng Nam tuyên truyền chính sách Bảo hiểm Xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người dân. Ảnh: BHXH QN
Cán bộ Bảo hiểm Xã hội tỉnh Quảng Nam tuyên truyền chính sách Bảo hiểm Xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người dân. Ảnh: BHXH QN

Qua buổi làm việc của các đoàn công tác cho thấy kết quả hầu hết các chỉ tiêu, nhiệm vụ về BHXH, BHYT, BHTN của các tỉnh đều tăng so với cùng kỳ năm 2021. Tuy nhiên, ông Dương Văn Hào - Trưởng Ban Quản lý Thu - Sổ, thẻ cũng thẳng thắn nhìn nhận, mặc dù công tác thu, phát triển người tham gia BHXH, BHYT, BHTN toàn ngành tiếp tục khởi sắc, các chỉ số đều tăng, nhưng số tăng chưa lớn. BHXH các địa phương cơ bản đã tham mưu để UBND tỉnh, thành phố giao chỉ tiêu phát triển người tham gia đến các quận, huyện nhưng giao chỉ tiêu đến cấp xã chưa nhiều mới có hơn 10 tỉnh làm được. Trong triển khai tổ chức dịch vụ thu, các địa phương đã cơ bản hoàn thành việc ký kết quy chế nhưng cần khẩn trương kiện toàn, nâng cao chất lượng. Hiện nay, còn khoảng 156 xã chưa có điểm dịch vụ thu; 14.980 nhân viên đại lý thu thuộc hệ thống xã, phường trước đây không tiếp tục hoạt động…

Áp dụng nhiều giải pháp

Trước các khó khăn, vướng mắc của các tỉnh phản ánh với đoàn công tác, lãnh đạo ngành BHXH Việt Nam và lãnh đạo các đơn vị nghiệp vụ trực thuộc trong đoàn công tác đã phân tích, đưa ra các chỉ đạo, giải pháp, nhiệm vụ cụ thể, linh hoạt, phù hợp với tình hình thực tế, đặc thù của từng tỉnh để phấn đấu đạt mục tiêu hoàn thành tốt các chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao năm 2022. Với những khó khăn, vướng mắc của các cơ sở KCB BHYT ở các địa phương tiếp tục được BHXH Việt Nam tổng hợp, báo cáo và có giải pháp kiến nghị xử lý tới các cấp có thẩm quyền.

Trong những tháng cuối năm 2022, công tác thu, phát triển người tham gia BHXH, BHYT, BHTN được lãnh đạo ngành BHXH đề nghị các cơ quan BHXH địa phương cần phân tích, đánh giá nguyên nhân giảm một số chỉ tiêu, từ đó đưa ra các giải pháp linh hoạt, phù hợp; tăng cường các giải pháp để tiệm cận 100% học sinh, sinh viên tham gia BHYT. Các cơ quan BHXH địa phương bám sát, theo dõi dữ liệu hoạt động của doanh nghiệp; tăng cường rà soát, kiểm tra dữ liệu từ cơ quan thuế chuyển sang để phát hiện số người tham gia BHXH bắt buộc nhưng chưa tham gia...

Tổng số thu ước gần 270.000 tỷ đồng

Theo báo cáo của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, ước tính đến hết tháng 8/2022, toàn quốc có trên 17,1 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, đạt 89,47% so với kế hoạch của ngành, tăng hơn 2,36 triệu người (15,96%) so với cùng kỳ năm 2021. Số người tham gia bảo hiểm y tế đạt gần 87 triệu người người, tăng hơn 1,7 triệu người (2,03%) so với cùng kỳ năm 2021. Tổng số thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp lũy kế ước hết tháng 8/2022 là gần 270.000 tỷ đồng, tăng 4,04% so với cùng kỳ năm 2021.

Đối với lĩnh vực KCB BHYT, BHXH các cơ quan này cần tiếp tục giám sát, tăng cường quản lý chi phí KCB BHYT đặc biệt đối với các chỉ tiêu quan trọng, kịp thời phát hiện tình trạng lạm dụng, trục lợi quỹ KCB BHYT; phối hợp chặt chẽ với ngành y tế nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong việc thiếu thuốc, vật tư y tế, đảm bảo quyền lợi của người bệnh BHYT…

Bên cạnh đó, BHXH các tỉnh cần đẩy mạnh thanh tra đột xuất các đơn vị có dấu hiệu vi phạm; thực hiện linh hoạt các giải pháp để chặn nợ mới phát sinh, thu nợ cũ; phối hợp với cơ quan chức năng ngay từ sớm để ngăn chặn, xử lý khi có dấu hiệu trục lợi, trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN.

Từ nay đến cuối năm 2022, Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam Nguyễn Thế Mạnh đã đề nghị BHXH các tỉnh cần căn cứ tình hình cụ thể của địa bàn để chủ động, sáng tạo xây dựng các kịch bản chi tiết nhằm truyền thông, vận động phát triển người tham gia BHXH, BHYT tới cấp huyện, xã. Đặc biệt, cần nêu cao hơn nữa vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu trong việc tổ chức, thực hiện nhiệm vụ; sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị trực thuộc BHXH Việt Nam với BHXH các tỉnh để kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát sinh… nỗ lực phấn đấu, quyết tâm hoàn thành thắng lợi mọi chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao năm 2022, đảm bảo tốt quyền lợi cho người tham gia và thụ hưởng chính sách BHXH, BHYT, BHTN./.

Quang Minh

Đọc thêm

Siết kỷ luật để thị trường bảo hiểm phát triển bền vững

Siết kỷ luật để thị trường bảo hiểm phát triển bền vững

(TBTCO) - Nghị định số 78/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực từ ngày 1/5/2026 sẽ nâng trần xử phạt bằng tiền, mở rộng thẩm quyền xử phạt cho nhiều cấp và bổ sung hình thức xử phạt trên môi trường điện tử. Qua đó, chấn chỉnh và xử nghiêm các sai phạm, bảo vệ quyền lợi người tham gia bảo hiểm và củng cố sự phát triển bền vững của thị trường.
21 năm đồng hành, Chubb Life Việt Nam nâng chuẩn phục vụ trên toàn quốc

21 năm đồng hành, Chubb Life Việt Nam nâng chuẩn phục vụ trên toàn quốc

(TBTCO) - Sau 21 năm hiện diện tại Việt Nam, Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) triển khai chuyển đổi toàn diện hệ thống văn phòng kinh doanh và trung tâm phục vụ khách hàng trên toàn quốc trong bối cảnh thị trường bảo hiểm nhân thọ đang chuyển dịch theo hướng lấy chất lượng dịch vụ làm yếu tố khác biệt then chốt thay vì chỉ dựa vào đặc tính sản phẩm. Đây được xem là bước chuyển chiến lược nhằm xây dựng một hành trình dịch vụ liền mạch, chuyên nghiệp và lấy khách hàng làm trọng tâm.
Vietcombank ra mắt thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO

Vietcombank ra mắt thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) vừa phối hợp cùng Visa và Công ty TNHH MTV Đường sắt Hà Nội (Hanoi Metro) chính thức ra mắt dòng thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO. Sản phẩm được phát triển theo định hướng kết nối dịch vụ tài chính với hạ tầng giao thông đô thị, mang đến giải pháp thanh toán thuận tiện, đồng thời hướng tới khuyến khích các hành vi tiêu dùng bền vững trong đời sống hàng ngày.
Tỷ giá USD hôm nay (26/3): Thế giới tăng, Ngân hàng Nhà nước giảm

Tỷ giá USD hôm nay (26/3): Thế giới tăng, Ngân hàng Nhà nước giảm

Sáng ngày 26/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.102 VND, giảm 2 VND so với phiên giao dịch trước. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) tăng 0,19%, hiện ở mức 99,63 điểm.
Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,850 17,150
Kim TT/AVPL 16,860 17,160
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,850 17,150
Nguyên Liệu 99.99 15,800 16,000
Nguyên Liệu 99.9 15,750 15,950
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,550 16,950
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,500 16,900
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,430 16,880
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,500 171,500
Hà Nội - PNJ 168,500 171,500
Đà Nẵng - PNJ 168,500 171,500
Miền Tây - PNJ 168,500 171,500
Tây Nguyên - PNJ 168,500 171,500
Đông Nam Bộ - PNJ 168,500 171,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,850 17,150
Miếng SJC Nghệ An 16,850 17,150
Miếng SJC Thái Bình 16,850 17,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 17,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 17,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 17,100
NL 99.90 15,670
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,700
Trang sức 99.9 16,290 16,990
Trang sức 99.99 16,300 17,000
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 1,715
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,685 17,152
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,685 17,153
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,683 1,713
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,683 1,714
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,663 1,698
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,619 168,119
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,613 127,513
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,726 115,626
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,838 103,738
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 90,253 99,153
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,064 70,964
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 1,715
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 1,715
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 1,715
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 1,715
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 1,715
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 1,715
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 1,715
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 1,715
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 1,715
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 1,715
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 1,715
Cập nhật: 27/03/2026 02:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17741 18014 18592
CAD 18522 18799 19416
CHF 32608 32992 33637
CNY 0 3470 3830
EUR 29820 30092 31120
GBP 34375 34766 35700
HKD 0 3237 3439
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14944 15527
SGD 19984 20267 20795
THB 717 780 834
USD (1,2) 26084 0 0
USD (5,10,20) 26125 0 0
USD (50,100) 26153 26173 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,908 29,932 31,173
JPY 160.68 160.97 169.67
GBP 34,530 34,623 35,601
AUD 17,945 18,010 18,579
CAD 18,689 18,749 19,319
CHF 32,804 32,906 33,674
SGD 20,093 20,155 20,826
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.13 16.82 18.19
THB 765.08 774.53 824.92
NZD 14,915 15,053 15,406
SEK - 2,766 2,846
DKK - 4,003 4,119
NOK - 2,672 2,750
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,163.18 - 6,915.14
TWD 744.21 - 896.03
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,549 88,351
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26219 26219 26357
AUD 17914 18014 18942
CAD 18694 18794 19810
CHF 32851 32881 34459
CNY 3754.3 3779.3 3914.7
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30000 30030 31756
GBP 34667 34717 36469
HKD 0 3355 0
JPY 161.64 162.14 172.68
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15040 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20140 20270 21005
THB 0 747.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16850000 16850000 17150000
SBJ 15000000 15000000 17150000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,173 26,223 26,357
USD20 26,173 26,223 26,357
USD1 26,173 26,223 26,357
AUD 17,982 18,082 19,194
EUR 30,134 30,134 31,551
CAD 18,645 18,745 20,058
SGD 20,226 20,376 20,945
JPY 162.19 163.69 168.27
GBP 34,565 34,915 35,797
XAU 16,848,000 0 17,152,000
CNY 0 3,665 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/03/2026 02:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80