Kế hoạch tăng vốn của các công ty bảo hiểm sẽ tăng tính hấp dẫn cho cổ phiếu

Duy Thái
(TBTCO) - Dự thảo Luật Kinh doanh bảo hiểm (sửa đổi) là một bước tích cực cho sự phát triển dài hạn của ngành bảo hiểm. Với những thay đổi về mô hình quản lý vốn, có thể sẽ có áp lực đẩy nhanh việc tăng vốn tại một số công ty bảo hiểm nhất định. Với tiềm năng tăng trưởng dài hạn của ngành là rất lớn, những kế hoạch tăng vốn của các công ty bảo hiểm sẽ thu hút được sự quan tâm của nhà đầu tư, tăng tính hấp dẫn của cổ phiếu bảo hiểm.
aa

Đây là đánh giá về tiềm năng của cổ phiếu ngành bảo hiểm của bà Nguyễn Thu Hà – Trưởng phòng Phân tích cổ phiếu, Trung tâm Phân tích và Tư vấn đầu tư Công ty Chứng khoán SSI (SSI Research) khi trao đổi với phóng viên TBTCVN.

Kế hoạch tăng vốn của các công ty bảo hiểm sẽ tăng tính hấp dẫn cho cổ phiếu
Bà Nguyễn Thu Hà – Trưởng phòng Phân tích cổ phiếu SSI Research.

* PV: Thưa bà, dù kết quả kinh doanh các doanh nghiệp bảo hiểm chịu tác động khá mạnh vì đại dịch Covid-19, tuy nhiên, nhiều cổ phiếu ngành bảo hiểm vẫn tăng trưởng khá tốt trong năm 2021 vừa qua. Bà có thể cho biết nhận xét đánh giá của mình về cổ phiếu ngành này trong năm qua? Đâu là nguyên nhân giúp cổ phiếu ngành này tăng trưởng?

Bà Nguyễn Thu Hà: Cổ phiếu ngành bảo hiểm tăng 10,5% trong 2021, thấp hơn so với VN-Index là 23%. Tuy nhiên, kết quả này hoàn toàn là do một doanh nghiệp đầu ngành bị giảm. Diễn biến giá của các công ty bảo hiểm niêm yết còn lại là rất thuận lợi so với cùng kỳ, như: PTI (+168%); VNR (+94%); và BMI (+85%). Mức tăng giá mạnh của nhóm cổ phiếu bảo hiểm diễn ra trong quý III/2021. Đây cũng là thời điểm mà doanh thu phí bảo hiểm bị ảnh hưởng khá nặng, nhưng ngược lại lợi nhuận hoạt động kinh doanh bảo hiểm tăng trưởng rất tốt do tỷ lệ bồi thường và tỷ lệ kết hợp trong giai đoạn này đều ở mức thấp chưa từng có do không có/hoãn yêu cầu bồi thường trong giai đoạn giãn cách xã hội.

Ngoài ra, trong tháng 8/2021, tỷ lệ sở hữu nước ngoài (FOL) đối với các doanh nghiệp ngành bảo hiểm cũng được chính thức xác nhận. Động thái này đã gỡ bỏ khó khăn của nhiều công ty bảo hiểm trong những năm qua khi có kế hoạch tăng tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài (BMI, PTI, PGI). Sau đó, một số công ty đã báo cáo về việc điều chỉnh tỷ lệ FOL với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước lên 100% (PTI, PVI, PRE) và 49% (BVH).

Kế hoạch tăng vốn của các công ty bảo hiểm sẽ tăng tính hấp dẫn cho cổ phiếu
Yếu tố bất ngờ trong 2022 với các doanh nghiệp bảo hiểm có thể đến từ sự thành công của kênh bán hàng online. Ảnh: Duy Dũng.

* PV: Bà dự báo thế nào về cơ hội tăng trưởng cổ phiếu ngành bảo hiểm trong năm 2022? Đâu là các yếu tố có thể tác động tới cổ phiếu ngành này trong thời gian tới?

Bà Nguyễn Thu Hà: Theo quan sát của chúng tôi trong quá khứ, giữa yếu tố về cơ bản (tăng trưởng lợi nhuận) và yếu tố hỗ trợ liên quan đến thoái vốn, thì diễn biến giá cổ phiếu bảo hiểm phản ánh nhiều hơn với nhóm yếu tố thứ 2. Trong năm 2022, nhà đầu tư vẫn cần tiếp tục quan sát cả hai yếu tố này.

Xét về mặt cơ bản, mặc dù tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm sẽ hồi phục từ mức thấp của 2021, nhưng tăng trưởng lợi nhuận dự báo sẽ khiêm tốn do tỷ lệ bồi thường có thể quay về mức bình thường trong năm 2022. Yếu tố bất ngờ có thể đến từ sự thành công của kênh bán hàng online với những thay đổi về quy định (giấy chứng nhận điện tử). Nếu doanh thu kênh online tăng mạnh, chi phí trung gian (cho đại lý, môi giới) có thể được tiết giảm dần dần. Mặc dù vậy, đây là yếu tố hỗ trợ về dài hạn nhiều hơn vì sự đóng góp của kênh online trong tổng doanh thu phí còn khá nhỏ. Do đó, chúng tôi có quan điểm trung lập về triển vọng lợi nhuận của nhóm cổ phiếu bảo hiểm trong 2022.

Xét về các yếu tố hỗ trợ, vẫn có những cổ phiếu bảo hiểm nằm trong kế hoạch thoái vốn của nhà nước hay lên kế hoạch phát hành cho cổ đông chiến lược, và do đó sẽ thu hút dòng tiền trong năm 2022.

* PV: Một số ý kiến cho rằng, cũng giống như thị trường chứng khoán nói chung, cổ phiếu ngành bảo hiểm cũng sẽ có sự phân hóa tương đối rõ nét trong năm 2022 theo những câu chuyện riêng. Quan điểm của bà thì thế nào? Đâu là câu chuyện của một số các doanh nghiệp bảo hiểm có thể tăng lực hấp dẫn đối với dòng tiền trong thời gian tới, thưa bà?

Bà Nguyễn Thu Hà: Năm 2022 không còn là một năm đầu tư quá dễ dàng trên thị trường chứng khoán. Trong từng ngành sẽ đều có sự phân hóa khá lớn giữa các cổ phiếu. Như đã đề cập, các câu chuyện trong ngành bảo hiểm vẫn xoay quanh các thương vụ thoái vốn của Nhà nước và phát hành mới cho cổ đông chiến lược để tăng vốn.

* PV: Dự thảo Luật Kinh doanh Bảo hiểm (sửa đổi) đang được hoàn thiện, có thể sẽ được Quốc hội thông qua và ban hành cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành luật sau đó. Có thể chưa có tác động tức thì lên thị trường, nhưng đây là cơ hội lớn cho tăng trưởng toàn ngành bảo hiểm trong những năm tiếp theo. Bà đánh giá về những điểm mới của dự thảo Luật? Chúng ta kỳ vọng gì về những tác động tích cực của khung pháp lý mới lên thị trường bảo hiểm nói chung và các cổ phiếu ngành này?

Bà Nguyễn Thu Hà: Nhìn chung, bản dự thảo Luật sửa đổi cho phép các công ty bảo hiểm tự chủ hơn trong hoạt động kinh doanh, trong đó các cơ quan quản lý sẽ không can thiệp quá sâu về mặt kỹ thuật vào hoạt động của các công ty bảo hiểm như trước đây. Thay vào đó, vai trò của cơ quan quản lý sẽ là ưu tiên quản lý giám sát, thúc đẩy tính minh bạch và sự phát triển lành mạnh của thị trường bảo hiểm.

Điểm đáng chú ý nhất là việc đưa ra tỷ lệ an toàn vốn (có thể theo mô hình quản lý vốn dựa trên rủi ro RBC) cùng với các yêu cầu khắt khe hơn về việc công bố thông tin. Chúng tôi cho rằng dự thảo sửa đổi luật này là một bước tích cực cho sự phát triển dài hạn của ngành bảo hiểm.

Với những thay đổi về mô hình quản lý vốn, có thể sẽ có áp lực đẩy nhanh việc tăng vốn tại một số công ty bảo hiểm nhất định. Với tiềm năng tăng trưởng dài hạn của ngành là rất lớn, những kế hoạch tăng vốn của các công ty bảo hiểm sẽ thu hút được sự quan tâm của nhà đầu tư, tăng tính hấp dẫn của cổ phiếu bảo hiểm.

* PV: Xin cảm ơn bà!

Duy Thái

Đọc thêm

UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

(TBTCO) - UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam giữa lúc nền kinh tế đón nhiều động lực mới để mở rộng nguồn vốn. Với nhu cầu 1,5 nghìn tỷ USD giai đoạn 2026 - 2030, lực đẩy từ nâng hạng thị trường chứng khoán, lập VIFC đến chiến lược “FDI 2.0”... mở thêm dư địa huy động vốn cho nền kinh tế, giảm sức ép lên ngân hàng và ngân sách nhà nước.
Hơn 267 triệu cổ phiếu sắp chào bán, PGBank tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

Hơn 267 triệu cổ phiếu sắp chào bán, PGBank tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

(TBTCO) - PGBank vừa được chấp thuận chào bán thêm gần 267,3 triệu cổ phiếu ra công chúng, tổng giá trị hơn 2.672,9 tỷ đồng, chia thành 2 đợt. Nếu hoàn tất kế hoạch, vốn điều lệ ngân hàng sẽ cán mốc 10.000 tỷ đồng, tạo dư địa cho PGBank mở rộng hoạt động kinh doanh và thực hiện các kế hoạch đầu tư giai đoạn tới.
TPBank hoàn tất nền tảng triển khai IRB, tự tin bước vào giai đoạn chuyển đổi theo Thông tư 14

TPBank hoàn tất nền tảng triển khai IRB, tự tin bước vào giai đoạn chuyển đổi theo Thông tư 14

(TBTCO) - Sở hữu các chỉ số tài chính mạnh là bệ phóng vững chắc để TPBank mở rộng quy mô một cách an toàn, hiệu quả và tối ưu hóa việc sử dụng vốn. Sau khi sớm hoàn tất phương pháp Tiêu chuẩn (SA), TPBank đã hoàn thiện các nền tảng trọng yếu về vốn, dữ liệu, mô hình đo lường rủi ro, công nghệ và quản trị để sẵn sàng trở thành một trong những ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam hoàn thành Giai đoạn chuyển đổi sang phương pháp Xếp hạng nội bộ (IRB) vào năm 2027 theo quy định Thông tư 14 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN).
Nhóm Ngân hàng Thế giới huy động vốn tư nhân ở mức kỷ lục cho các nước đang phát triển

Nhóm Ngân hàng Thế giới huy động vốn tư nhân ở mức kỷ lục cho các nước đang phát triển

(TBTCO) - Trong năm tài khóa 2026, Nhóm Ngân hàng Thế giới đã huy động được nguồn vốn tư nhân cao nhất từ trước đến nay, đồng thời phát hành bảo lãnh ở mức cao kỷ lục để hỗ trợ các nền kinh tế đang phát triển.
Bảo Việt Nhân thọ ra mắt phiên bản mới “An sinh giáo dục” – tiếp nối 30 năm đồng hành cùng tương lai các thế hệ Việt

Bảo Việt Nhân thọ ra mắt phiên bản mới “An sinh giáo dục” – tiếp nối 30 năm đồng hành cùng tương lai các thế hệ Việt

(TBTCO) - Nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập, Tổng Công ty Bảo Việt Nhân thọ chính thức ra mắt phiên bản mới của sản phẩm “An Sinh Giáo Dục”. Đây là giải pháp bảo hiểm liên kết chung chuyên biệt dành cho trẻ em, kết hợp giữa tích lũy dài hạn và bảo vệ kép cho cả con và cha/mẹ, giúp các bậc phụ huynh chủ động chuẩn bị từ sớm cho tương lai con trẻ.
Tỷ giá USD hôm nay (18/9): Tỷ giá trung tâm tăng, BoE giữ nguyên, BoJ có thể nâng lãi suất lên đỉnh 31 năm

Tỷ giá USD hôm nay (18/9): Tỷ giá trung tâm tăng, BoE giữ nguyên, BoJ có thể nâng lãi suất lên đỉnh 31 năm

(TBTCO) - Sáng 18/9, tỷ giá trung tâm tăng 5 đồng lên 25.637 đồng, trong khi chỉ số DXY nhích 0,02% lên 100,24 điểm. Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) giữ lãi suất ở 3,75% nhưng phát tín hiệu thắt chặt hơn. Tại Nhật Bản, thị trường đánh giá khả năng Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) tăng lãi suất 25 điểm cơ bản, lên mức cao nhất khoảng 31 năm.
Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

(TBTCO) - Fed tăng lãi suất lần đầu kể từ tháng 7/2023 hỗ trợ đồng USD. Tuy nhiên, áp lực tỷ giá USD/VND còn đến từ cung - cầu ngoại tệ trong nước, khi cán cân thương mại nhập siêu, nhà đầu tư nước ngoài mua 3,77 tỷ USD để rút vốn, chuyển lợi nhuận trong 7 tháng. Dư địa dự trữ ngoại hối hạn chế cũng đặt ra bài toán cân bằng tỷ giá và lãi suất.
Vietcombank trao tặng 500 triệu đồng cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn tại chương trình “Nghĩa tình Phương Nam - Cùng con đi tiếp cuộc đời” năm 2026

Vietcombank trao tặng 500 triệu đồng cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn tại chương trình “Nghĩa tình Phương Nam - Cùng con đi tiếp cuộc đời” năm 2026

(TBTCO) - Ngày 16/9/2026, tại Thành phố Hồ Chí Minh, chương trình nghệ thuật chính luận “Nghĩa tình Phương Nam - Cùng con đi tiếp cuộc đời” năm 2026 đã được tổ chức, đánh dấu chặng đường 5 năm chương trình “Cùng con đi tiếp cuộc đời” đồng hành, bảo trợ trẻ em mồ côi do đại dịch Covid-19.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,600 147,600
Hà Nội - PNJ 144,600 147,600
Đà Nẵng - PNJ 144,600 147,600
Miền Tây - PNJ 144,600 147,600
Tây Nguyên - PNJ 144,600 147,600
Đông Nam Bộ - PNJ 144,600 147,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,460 14,760
Miếng SJC Nghệ An 14,460 14,760
Miếng SJC Thái Bình 14,460 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,410 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,410 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,410 14,760
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 14,070 14,670
Trang sức 99.99 14,080 14,680
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,446 14,762
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,446 14,763
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,441 1,471
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,441 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,416 1,461
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,653 144,653
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,936 109,736
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,708 99,508
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,948 8,928
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,535 85,335
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 5,128 6,108
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Cập nhật: 19/09/2026 20:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17982 18257 18841
CAD 18064 18339 18961
CHF 30990 31368 32030
CNY 0 3842 3938
EUR 29245 29465 30548
GBP 34044 34434 35374
HKD 0 3185 3388
JPY 159 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14575 15165
SGD 19843 20125 20706
THB 696 759 813
USD (1,2) 25754 0 0
USD (5,10,20) 25793 0 0
USD (50,100) 25821 25835 26205
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 29,263 29,286 30,675
JPY 160.57 160.86 170.59
GBP 34,119 34,211 35,399
AUD 18,172 18,238 18,935
CAD 18,222 18,280 18,952
CHF 31,129 31,226 32,146
SGD 19,944 20,006 20,791
CNY - 3,807 3,953
HKD 3,247 3,257 3,394
KRW 17.31 18.05 19.65
THB 744.84 754.04 806.89
NZD 14,542 14,677 15,113
SEK - 2,603 2,697
DKK - 3,925 4,064
NOK - 2,707 2,802
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,947.58 - 6,714.78
TWD 737.16 - 892.54
SAR - 6,802.55 7,165.57
KWD - 82,316 87,591
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,305 29,423 30,618
GBP 34,129 34,266 35,290
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 31,017 31,142 32,082
JPY 162.53 163.18 171.16
AUD 18,165 18,238 18,831
SGD 20,035 20,115 20,705
THB 762 765 803
CAD 18,259 18,332 18,922
NZD 14,637 15,180
KRW 17.99 19.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25830 25830 26200
AUD 18186 18286 19208
CAD 18231 18331 19342
CHF 31126 31156 32741
CNY 3824.1 3849.1 3984.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29420 29450 31176
GBP 34274 34324 36077
HKD 0 3305 0
JPY 161.19 161.69 172.2
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14665 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 19984 20114 20836
THB 0 725.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14460000 14460000 14760000
SBJ 13000000 13000000 14760000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,650 25,830 26,200
USD20 25,630 25,830 26,200
USD1 24,356 25,830 26,918
AUD 18,170 18,325 19,452
EUR 29,150 29,308 31,800
CAD 18,110 18,269 19,594
SGD 20,007 20,207 20,784
JPY 161.11 163.13 168.86
GBP 34,090 34,302 35,400
XAU 14,458,000 0 14,762,000
CNY 0 3,732 0
THB 0 761 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 19/09/2026 20:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30