Nhiều bệnh nhân được chi trả hàng tỷ đồng từ Quỹ Bảo hiểm y tế

Hà My
(TBTCO) - Nhờ tham gia bảo hiểm y tế, nhiều bệnh nhân mắc các bệnh hiểm nghèo, bệnh hiếm, bệnh nặng đã được Quỹ Bảo hiểm y tế chi trả hàng trăm triệu đồng đến hàng tỷ đồng chi phí khám, chữa bệnh.
aa
Nhiều bệnh nhân được chi trả hàng tỷ đồng từ Quỹ Bảo hiểm y tế
Nguồn: Bảo hiểm xã hội Việt Nam. Đồ họa: Phương Anh

Quỹ Bảo hiểm y tế trả chi phí khám, chữa bệnh hơn 100.000 tỷ đồng/năm

Theo Bảo hiểm xã hội Việt Nam, trong những năm gần đây, trung bình mỗi năm Quỹ Bảo hiểm y tế thực hiện chi trả chi phí khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế với số tiền hơn 100.000 tỷ đồng cho khoảng gần 150 triệu lượt người khám, chữa bệnh. Chỉ tính riêng trong năm 2024, Quỹ Bảo hiểm y tế đã thực hiện chi trả chi phí khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế với tổng số tiền là 142.985 tỷ đồng, cho 183,6 triệu lượt người khám, chữa bệnh.

Hiện nay, danh mục thuốc được Quỹ Bảo hiểm y tế thanh toán cơ bản đáp ứng đầy đủ nhu cầu khám, chữa bệnh của người bệnh với hơn 1.000 hoạt chất, sinh phẩm tân dược và hàng trăm thuốc đông y, thuốc từ dược liệu. Trong đó, có nhiều thuốc điều trị bệnh hiếm, ung thư, bệnh máu không đông, tim mạch… Đây là các nhóm bệnh phải điều trị dài ngày hoặc suốt đời, có chi phí điều trị lớn, người bệnh có thẻ bảo hiểm y tế được chỉ định sử dụng dài ngày và có thuốc dùng suốt đời cho quá trình điều trị bệnh.

Ngoài các chi phí về thuốc, người tham gia bảo hiểm y tế còn được Quỹ Bảo hiểm y tế chi trả các chi phí dịch vụ kỹ thuật, vật tư y tế. Trong đó có phẫu thuật, thủ thuật cao, chi phí lớn như: Phẫu thuật bằng robot, phẫu thuật thay khớp, thay đãi đệm cột sống, đặt máy tạo nhịp tim… Đáng chú ý, một số loại vật tư y tế được Quỹ Bảo hiểm y tế thanh toán có giá trị lên đến hàng trăm triệu đồng.

Chính sách bảo hiểm y tế đã góp phần giảm chi trực tiếp từ tiền túi của hộ gia đình cho dịch vụ y tế. Qua đó, góp phần tạo nên sự công bằng trong chăm sóc sức khỏe, đặc biệt đối với nhóm người yếu thế trong xã hội như người nghèo, cận nghèo, người khuyết tật, người thuộc đối tượng bảo trợ xã hội, trẻ em dưới 6 tuổi. Nhiều trường hợp đã được Quỹ Bảo hiểm y tế chi trả chi phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế trong năm lên đến hàng tỷ đồng.

Thống kê của Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho thấy, từ năm 2024 đến hết tháng 5/2025, một số trường hợp người bệnh có thẻ bảo hiểm y tế được Quỹ Bảo hiểm y tế chi trả chi phí lớn như: người bệnh được chi trả cao nhất là hơn 4,888 tỷ đồng, sinh năm 2019, tỉnh Hà Nam (cũ); cao thứ 2 là hơn 4,304 tỷ đồng, sinh năm 2021, TP. Hà Nội và cao thứ 3 là hơn 4,287 tỷ đồng sinh năm 2019, tỉnh Hải Dương (cũ)...

Có thể thấy, với mức chi trả lớn trên, bảo hiểm y tế không chỉ giúp người bệnh vượt qua giai đoạn nguy kịch, mà còn bảo vệ sự ổn định kinh tế của cả gia đình. Một lần bệnh nặng có thể khiến gia đình người bệnh rơi vào cảnh nợ nần, nghèo đói. Nhưng, một tấm thẻ bảo hiểm y tế với mức đóng chỉ từ vài trăm nghìn đồng đến hơn 1,2 triệu đồng mỗi năm (nếu đóng theo hộ gia đình) lại có thể cứu cả một gia đình khỏi kiệt quệ.

Độ bao phủ tiệm cận mục tiêu bảo hiểm y tế toàn dân

Nếu như các năm 2009 và 2015 độ bao phủ bảo hiểm y tế lần lượt đạt 57% và 74,7% dân số, thì đến năm 2024 đã có trên 95 triệu người tham gia bảo hiểm y tế, với độ bao phủ đạt 94,2% dân số. Đáng chú ý, tính đến hết tháng 5/2025, toàn quốc đã đạt tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế 96,46% dân số.

Ông Nguyễn Đức Hòa - Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho biết, với tỷ lệ này, Việt Nam cơ bản đã hoàn thành mục tiêu bảo hiểm y tế toàn dân và về đích trước thời hạn so với mục tiêu về độ bao phủ đề ra tại Nghị quyết 20-NQ/TW năm 2017, Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới. Theo thống kê từ một số quốc gia có nền kinh tế phát triển, để đạt mục tiêu bảo hiểm y tế toàn dân nói trên phải mất từ 40 đến 80 năm.

Để phục vụ tốt hơn người tham gia bảo hiểm y tế, hiện Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã thực hiện liên thông, kết nối với tất cả cơ sở khám, chữa bệnh từ tuyến xã đến trung ương trên phạm vi toàn quốc và đưa Hệ thống Thông tin giám định bảo hiểm y tế đi vào hoạt động hiệu quả, thống suốt. Qua đó, một mặt kiểm soát được chi phí khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế, nâng cao hiệu quả công tác giám định, giúp cải cách thủ tục hành chính trong khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế hướng tới quản lý và sử dụng hiệu quả Quỹ Bảo hiểm y tế, mặt khác, thông qua đó đã góp phần bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người tham gia bảo hiểm y tế.

Hiện, Bảo hiểm xã hội Việt Nam tiếp tục hoàn thiện việc số hóa hầu hết các thủ tục tham gia, cấp thẻ bảo hiểm y tế… để phục vụ người tham gia bảo hiểm y tế ngày một thuận lợi hơn. Ngoài ra, công tác quản lý, sử dụng Quỹ Bảo hiểm y tế cũng được Bảo hiểm xã hội Việt Nam vận hành ngày càng chặt chẽ, hiệu quả hơn; đảm bảo cân đối quỹ bền vững, phục vụ lâu dài cho người dân…

"Đây chính là sự bảo vệ thiết thực nhất cho người dân khi chẳng may ốm đau, bệnh tật; đồng thời thể hiện sự sẻ chia với cộng đồng, sự tương trợ nhân văn của mỗi người dân, góp phần xây dựng Quỹ Bảo hiểm y tế bền vững, đảm bảo sức khỏe cho nhiều người bệnh có thẻ bảo hiểm y tế. Đề nghị các cơ sở khám chữa bệnh bảo hiểm y tế tiếp tục quan tâm, chú trọng nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, đáp ứng sự hài lòng và quyền lợi chính đáng của người bệnh" - ông Nguyễn Đức Hòa chia sẻ và đề nghị.

Mức đóng bảo hiểm y tế hiện vẫn là 4,5% mức lương cơ sở

Theo Luật Bảo hiểm y tế 2024 (có hiệu lực từ 1/7), mức đóng bảo hiểm y tế của các nhóm đối tượng tham gia có thể tối đa bằng 6% tiền lương tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc hoặc mức tham chiếu.

Tuy nhiên, đây không phải mức áp dụng ngay, mà chỉ là trần tối đa mức đóng cho phép trong khung pháp luật. Tùy điều kiện cụ thể, khi cần thiết, Chính phủ sẽ xem xét điều chỉnh mức đóng phù hợp nhằm bảo đảm quyền lợi cho người tham gia và cân đối Quỹ Bảo hiểm y tế trong dài hạn.

Hiện nay, mức đóng bảo hiểm y tế vẫn giữ nguyên là 4,5% mức lương cơ sở (mức lương cơ sở hiện là 2.340.000 đồng/tháng). Việc điều chỉnh mức đóng nếu có, sẽ do Chính phủ ban hành nghị định để thực hiện.

Hà My

Đọc thêm

F88 chào bán hơn 22 triệu cổ phiếu giá 71.000 đồng, huy động nghìn tỷ cho vay cầm đồ

F88 chào bán hơn 22 triệu cổ phiếu giá 71.000 đồng, huy động nghìn tỷ cho vay cầm đồ

(TBTCO) - F88 vừa điều chỉnh phương án chào bán hơn 22 triệu cổ phiếu ra công chúng với giá 71.000 đồng/cổ phiếu, qua đó, dự kiến huy động khoảng 1.563,8 tỷ đồng để tăng vốn cho công ty con phục vụ hoạt động kinh doanh dịch vụ cầm đồ. F88 cũng dự kiến các phương án trong trường hợp đợt chào bán không huy động đủ số vốn như kế hoạch.
Khảo sát WGC: 89% ngân hàng trung ương dự kiến tăng nắm giữ vàng trong 12 tháng tới

Khảo sát WGC: 89% ngân hàng trung ương dự kiến tăng nắm giữ vàng trong 12 tháng tới

Khảo sát từ Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) cho thấy 89% nhà quản lý dự trữ dự báo các ngân hàng trung ương toàn cầu sẽ tiếp tục tăng nắm giữ vàng trong 12 tháng tới, vàng vượt qua trái phiếu chính phủ Mỹ để trở thành tài sản dự trữ được ưu tiên nhất. Các ngân hàng trung ương đã tích lũy trung bình 1.000 tấn vàng trong 04 năm qua.
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 6/2026

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 6/2026

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng thương mại cho thấy, mặt bằng lãi suất huy động ít "gợn sóng", Hong Leong Bank là trường hợp hiếm hoi hạ lãi suất kỳ hạn 6 tháng xuống 6,8%/năm. Dù vậy, cuộc đua huy động tiền gửi sôi động qua các chương trình cộng lãi suất và ưu đãi gửi tiền trực tuyến. Lãi suất bình quân kỳ hạn 12 tháng ở mức 8,35% theo ghi nhận của MBS, tăng 257 điểm cơ bản.
Thế hệ bánh mì kẹp: Khi một người phải gánh tương lai của cả ba thế hệ

Thế hệ bánh mì kẹp: Khi một người phải gánh tương lai của cả ba thế hệ

(TBTCO) - Bước vào độ tuổi 40, khi cha mẹ ngày một lớn tuổi, con cái bước vào những năm học tập quan trọng và bản thân cũng bắt đầu nghĩ đến tuổi nghỉ hưu, nhiều người nhận ra mình đang phải chuẩn bị cho tương lai của cả ba thế hệ. Điều khiến họ trăn trở không chỉ là những khoản chi hôm nay, mà là làm sao để những kế hoạch đã dành nhiều năm vun đắp không bị dang dở giữa chừng.
Bước qua góc khuất, cuộc chuyển mình của ngành cầm đồ tỷ USD

Bước qua góc khuất, cuộc chuyển mình của ngành cầm đồ tỷ USD

(TBTCO) - Từ những tiệm cầm đồ truyền thống vốn nhiều góc khuất, ngành cầm đồ chuyển mình mạnh mẽ, nhờ công nghệ và khung pháp lý ngày càng hoàn thiện. Với quy mô dư nợ khoảng 10,3 tỷ USD, chiếm áp đảo 68% thị trường tài chính thay thế, các chuỗi cầm đồ thế hệ mới nổi lên như kênh tiếp cận vốn minh bạch, tiện lợi cho nhóm khó vay ngân hàng và tệp khách trẻ đầy tiềm năng.
Giá vàng hôm nay ngày 16/6: Giá vàng tăng mạnh, vượt mốc 150 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 16/6: Giá vàng tăng mạnh, vượt mốc 150 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt tăng mạnh tại nhiều doanh nghiệp, với mức điều chỉnh từ 3,5 - 4,5 triệu đồng/lượng, đưa giá giao dịch phổ biến vượt mốc 150 triệu đồng/lượng.
Thanh khoản cải thiện, áp lực huy động vốn giảm dần

Thanh khoản cải thiện, áp lực huy động vốn giảm dần

(TBTCO) - Tiền gửi dân cư tiếp tục tăng mạnh, góp phần cải thiện thanh khoản hệ thống trong bối cảnh áp lực huy động vốn được dự báo giảm dần trong nửa cuối năm 2026.
Mastercard: Kết nối và niềm tin sẽ định hình giai đoạn tăng trưởng tiếp theo của kinh tế số Việt Nam

Mastercard: Kết nối và niềm tin sẽ định hình giai đoạn tăng trưởng tiếp theo của kinh tế số Việt Nam

(TBTCO) - Thanh toán số tại Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây. Tuy nhiên, theo Mastercard, giai đoạn tăng trưởng tiếp theo sẽ không còn được quyết định chủ yếu bởi số lượng người dùng hay số lượng giao dịch, mà bởi khả năng kết nối giữa các hệ sinh thái thanh toán và mức độ tin cậy mà người dùng dành cho các trải nghiệm số.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,980 ▲30K 15,180 ▲30K
Kim TT/AVPL 15,000 15,200
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,000 15,200
Nguyên Liệu 99.99 14,150 ▼150K 14,350 ▼150K
Nguyên Liệu 99.9 14,100 ▼150K 14,300 ▼150K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,650 15,050
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,600 15,000
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,530 14,980
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 148,800 ▲300K 151,800 ▲300K
Hà Nội - PNJ 148,800 ▲300K 151,800 ▲300K
Đà Nẵng - PNJ 148,800 ▲300K 151,800 ▲300K
Miền Tây - PNJ 148,800 ▲300K 151,800 ▲300K
Tây Nguyên - PNJ 148,800 ▲300K 151,800 ▲300K
Đông Nam Bộ - PNJ 148,800 ▲300K 151,800 ▲300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,980 ▲30K 15,180 ▲30K
Miếng SJC Nghệ An 14,980 ▲30K 15,180 ▲30K
Miếng SJC Thái Bình 14,980 ▲30K 15,180 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,930 ▲30K 15,180 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,930 ▲30K 15,180 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,930 ▲30K 15,180 ▲30K
NL 99.90 13,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,000
Trang sức 99.9 14,370 ▲30K 15,070 ▲30K
Trang sức 99.99 14,380 ▲30K 15,080 ▲30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,498 ▲3K 1,518 ▲3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,498 ▲3K 15,182 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,498 ▲3K 15,183 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,497 ▲3K 1,517 ▲3K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,497 ▲3K 1,518 ▲3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,477 ▲3K 1,502 ▲3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 141,713 ▲297K 148,713 ▲297K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 103,311 ▲225K 112,811 ▲225K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 92,796 ▲204K 102,296 ▲204K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 82,281 ▲183K 91,781 ▲183K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 78,225 ▲70420K 87,725 ▲78970K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 5,329 ▼47836K 6,279 ▼56386K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,498 ▲3K 1,518 ▲3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,498 ▲3K 1,518 ▲3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,498 ▲3K 1,518 ▲3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,498 ▲3K 1,518 ▲3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,498 ▲3K 1,518 ▲3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,498 ▲3K 1,518 ▲3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,498 ▲3K 1,518 ▲3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,498 ▲3K 1,518 ▲3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,498 ▲3K 1,518 ▲3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,498 ▲3K 1,518 ▲3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,498 ▲3K 1,518 ▲3K
Cập nhật: 17/06/2026 10:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18068 18343 18919
CAD 18273 18549 19162
CHF 32562 32946 33599
CNY 0 3854 3947
EUR 29932 30155 31233
GBP 34542 34934 35868
HKD 0 3229 3431
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 15038 15628
SGD 19993 20275 20848
THB 724 787 840
USD (1,2) 26054 0 0
USD (5,10,20) 26095 0 0
USD (50,100) 26124 26138 26433
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,113 26,113 26,433
USD(1-2-5) 25,069 - -
USD(10-20) 25,069 - -
EUR 30,064 30,088 31,449
JPY 159.74 160.03 169.31
GBP 34,734 34,828 35,945
AUD 18,276 18,342 18,991
CAD 18,466 18,525 19,164
CHF 32,819 32,921 33,812
SGD 20,117 20,180 20,929
CNY - 3,823 3,960
HKD 3,294 3,304 3,435
KRW 16.05 16.74 18.17
THB 771.91 781.44 834.93
NZD 15,027 15,167 15,578
SEK - 2,767 2,858
DKK - 4,022 4,154
NOK - 2,734 2,824
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,048.46 - 6,813.66
TWD 752.9 - 909.94
SAR - 6,897.82 7,248.14
KWD - 83,493 88,626
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,093 26,113 26,433
EUR 29,988 30,108 31,297
GBP 34,704 34,843 35,862
HKD 3,290 3,303 3,419
CHF 32,631 32,762 33,682
JPY 159.89 160.53 168.33
AUD 18,247 18,320 18,912
SGD 20,169 20,250 20,836
THB 789 792 827
CAD 18,458 18,532 19,095
NZD 15,092 15,629
KRW 16.68 18.30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26110 26110 26433
AUD 18244 18344 19267
CAD 18446 18546 19560
CHF 32796 32826 34408
CNY 3833.8 3858.8 3994.3
CZK 0 1210 0
DKK 0 4060 0
EUR 30102 30132 31858
GBP 34823 34873 36633
HKD 0 3355 0
JPY 160.56 161.06 171.61
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6720 0
NOK 0 2770 0
NZD 0 15134 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2776 0
SGD 20140 20270 21001
THB 0 753.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14980000 14980000 15180000
SBJ 13000000 13000000 15180000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,135 26,185 26,433
USD20 26,135 26,185 26,433
USD1 23,917 26,185 26,433
AUD 18,292 18,392 19,515
EUR 30,248 30,248 31,682
CAD 18,393 18,493 19,817
SGD 20,219 20,369 20,946
JPY 161.04 162.54 167.22
GBP 34,725 35,075 35,966
XAU 14,948,000 0 15,152,000
CNY 0 3,743 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 17/06/2026 10:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80