Nghị quyết 10-NQ/TW mở đường cho giai đoạn phát triển mới của kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
| Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 10 về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài |
Bước chuyển trong tư duy FDI
Ngày 8/6/2026, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW (Nghị quyết 10) của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Theo các chuyên gia của Chứng khoán BSC, đây là bước chuyển quan trọng trong định hướng phát triển khu vực FDI tại Việt Nam, đánh dấu sự thay đổi từ tư duy “thu hút đầu tư nước ngoài” sang “phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài” như một bộ phận cấu thành và động lực quan trọng của nền kinh tế.
Trước đó, định hướng đối với khu vực FDI được quy định tại Nghị quyết số 50-NQ/TW (Nghị quyết 50) do Bộ Chính trị khóa XII ban hành ngày 20/8/2019 về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030. Nếu Nghị quyết 50 tập trung vào việc nâng cao chất lượng và hiệu quả thu hút vốn đầu tư nước ngoài thì Nghị quyết 10 thể hiện cách tiếp cận rộng hơn khi đặt mục tiêu phát triển khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài gắn với chiến lược phát triển quốc gia trong giai đoạn mới.
![]() |
| Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được định vị lại trong chiến lược phát triển quốc gia. Ảnh minh hoạ. |
Sự thay đổi được thể hiện ngay từ tên gọi của hai nghị quyết. Khái niệm “hợp tác đầu tư nước ngoài” trong Nghị quyết 50 nhấn mạnh hoạt động thu hút vốn và hoàn thiện thể chế. Trong khi đó, khái niệm “kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài” trong Nghị quyết 10 cho thấy khu vực FDI được nhìn nhận như một thành phần quan trọng của nền kinh tế, cần được phát triển lâu dài, bình đẳng và cạnh tranh lành mạnh theo pháp luật.
Bối cảnh ban hành Nghị quyết 10 cũng khác đáng kể so với năm 2019. Nếu Nghị quyết 50 được xây dựng khi Việt Nam chuẩn bị đón nhận những tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư thì Nghị quyết 10 ra đời trong bối cảnh đất nước bước sang giai đoạn phát triển mới, hướng tới mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nâng cao năng lực tự chủ chiến lược. Theo đó, tầm nhìn của nghị quyết không chỉ dừng ở năm 2030 mà còn mở rộng đến năm 2045.
| Nghị quyết 10 cũng mở rộng phạm vi bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư khi không chỉ đề cập đến tài sản, vốn và thu nhập hợp pháp mà còn nhấn mạnh việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, bảo đảm môi trường đầu tư ổn định, minh bạch và giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp. Vai trò của Nhà nước được xác định theo hướng kiến tạo phát triển, nâng cao hiệu lực điều phối quốc gia và lấy kết quả thực chất làm thước đo hiệu quả quản lý. |
Điểm nổi bật nhất của Nghị quyết 10 là sự thay đổi trong tư duy phát triển khu vực FDI. Nghị quyết xác định khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một động lực quan trọng của nền kinh tế, đồng thời chuyển trọng tâm từ thu hút vốn đơn thuần sang phát triển các hệ sinh thái đầu tư gắn với mục tiêu chiến lược quốc gia. Thay vì tiếp cận theo địa giới hành chính, nghị quyết hướng tới phát triển các cụm ngành, chuỗi giá trị, trung tâm đổi mới sáng tạo và các hệ sinh thái công nghệ có khả năng lan tỏa tới toàn nền kinh tế.
Song song với đó, cơ chế ưu đãi cũng được điều chỉnh theo hướng mới. Nếu trước đây ưu đãi chủ yếu dựa trên quy mô đầu tư hoặc lĩnh vực hoạt động thì Nghị quyết 10 nhấn mạnh việc hỗ trợ dựa trên kết quả thực hiện cam kết, hiệu quả đầu tư và đóng góp thực chất của dự án. Cách tiếp cận này hướng tới nâng cao chất lượng dòng vốn, đồng thời tăng cường trách nhiệm của nhà đầu tư trong suốt vòng đời dự án.
Định hình giai đoạn phát triển mới
Về mục tiêu phát triển, Nghị quyết 10 tiếp tục duy trì các chỉ tiêu về quy mô vốn đầu tư nước ngoài tương tự Nghị quyết 50 với mục tiêu thu hút 200 - 300 tỷ USD vốn đăng ký mới và 150 - 200 tỷ USD vốn thực hiện trong giai đoạn 2026 - 2030. Tuy nhiên, nghị quyết đặt trọng tâm lớn hơn vào chất lượng dòng vốn. Cụ thể, 75% tổng vốn FDI được kỳ vọng đến từ các nền kinh tế phát triển; tỷ lệ nội địa hóa trong các ngành công nghiệp chủ lực đạt 45 - 50% vào năm 2030; khoảng 10.000 doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia; đồng thời thu hút thêm các tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới và tăng cường hoạt động nghiên cứu, phát triển tại Việt Nam.
Đáng chú ý, lần đầu tiên các mục tiêu về thị trường tài chính và thị trường vốn được đưa vào định hướng phát triển khu vực FDI. Nghị quyết đặt mục tiêu nâng hạng thị trường chứng khoán trước năm 2030, phát triển trung tâm tài chính quốc tế, mở rộng thị trường vốn trung và dài hạn, đồng thời gắn thu hút đầu tư nước ngoài với các tiêu chuẩn ESG, kinh tế xanh và mục tiêu phát thải ròng bằng “0”.
Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, Nghị quyết 10 đề ra nhiều nhóm giải pháp mới. Bên cạnh việc tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về đầu tư, đất đai, thuế, dữ liệu và sở hữu trí tuệ, nghị quyết nhấn mạnh việc xây dựng cơ chế lựa chọn và hỗ trợ nhà đầu tư chiến lược; phát triển các ngành công nghệ trọng điểm như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, blockchain, công nghệ sinh học, công nghệ y sinh, năng lượng và vật liệu tiên tiến. Đồng thời, nghị quyết cũng chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút chuyên gia và nhân tài trong và ngoài nước, phát triển hạ tầng số, hạ tầng xanh, khu công nghiệp sinh thái và khu công nghiệp thông minh.
Một điểm đáng chú ý khác là việc tăng cường liên kết giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước thông qua chương trình phát triển nhà cung ứng, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận công nghệ, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu và nâng cao năng lực cạnh tranh. Song song với đó, công tác quản lý nhà nước được đẩy mạnh theo hướng số hóa, xây dựng cơ sở dữ liệu nhà đầu tư chiến lược, kiểm soát các rủi ro liên quan đến dữ liệu, an ninh mạng và hệ thống tài chính.
Theo đánh giá của BSC, Nghị quyết 10-NQ/TW không chỉ kế thừa các định hướng của Nghị quyết 50 mà còn mở rộng đáng kể phạm vi và chiều sâu chính sách. Nếu trọng tâm của Nghị quyết 50 là nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư nước ngoài thì Nghị quyết 10 đặt mục tiêu phát triển khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài như một cấu phần hữu cơ của nền kinh tế, gắn chặt với chiến lược nâng cao năng lực tự chủ, đổi mới sáng tạo và tăng trưởng bền vững của Việt Nam đến năm 2030 và tầm nhìn 2045.
Dành cho bạn
Đọc thêm
Từ đô thị đến năng lượng, T&T Group muốn mở rộng hiện diện tại Đắk Lắk
Nâng tầm kinh tế tư nhân để mở rộng dư địa tăng trưởng
Thông qua 54 nghị quyết, Hà Nội thúc chính sách vào cuộc sống
Hà Nội hoàn thiện loạt cơ chế kinh tế đặc thù, tăng động lực phát triển
Công nghệ nền tảng cần "cú hích" thể chế mới
Đắk Lắk khơi lại dòng vốn đầu tư cho dự án năng lượng


