Thanh khoản cải thiện, áp lực huy động vốn giảm dần

Thu Hương
(TBTCO) - Tiền gửi dân cư tiếp tục tăng mạnh, góp phần cải thiện thanh khoản hệ thống trong bối cảnh áp lực huy động vốn được dự báo giảm dần trong nửa cuối năm 2026.
aa

Theo phân tích mới nhất từ Chứng khoán HSC, mặt bằng lãi suất huy động nhìn chung đã ổn định trong những tháng gần đây. Tuy nhiên, một xu hướng ngày càng rõ nét là nhiều ngân hàng áp dụng mức lãi suất tiền gửi trực tuyến cao hơn lãi suất gửi tại quầy, đồng thời triển khai các chương trình ưu đãi dành cho khách hàng gửi tiết kiệm online. Điều này cho thấy nhu cầu huy động vốn trong hệ thống ngân hàng vẫn ở mức cao và áp lực tăng chi phí vốn chưa hoàn toàn chấm dứt.

Nhận định về diễn biến này, ông Tyler Nguyễn Mạnh Dũng - Giám đốc Cấp cao Nghiên cứu Chiến lược Thị trường tại HSC cho biết, thanh khoản trong hệ thống ngân hàng đã phần nào thắt chặt hơn trong những tháng gần đây khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động vốn. Điều này khiến tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) tăng lên gần 115%, qua đó tạo thêm áp lực đối với chi phí vốn của các ngân hàng.

Thanh khoản cải thiện, áp lực huy động vốn giảm dần
So sánh lãi suất tiền gửi kỳ hạn 6 tháng giữa kênh trực tuyến và tại quầy của một số ngân hàng.

Tuy nhiên, theo ông Dũng, áp lực này có thể giảm dần trong nửa cuối năm 2026 khi các nhà hoạch định chính sách tiếp tục ưu tiên mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và duy trì thanh khoản cho hệ thống. Thực tế, các số liệu mới nhất cho thấy dòng tiền gửi vẫn đang tiếp tục chảy vào ngân hàng.

Đến cuối quý I/2026, tiền gửi dân cư đã đạt mức kỷ lục 10,56 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 405 tỷ USD, tăng 2,2% so với cuối năm 2025. Riêng trong ba tháng đầu năm, người dân đã gửi thêm khoảng 200.000 tỷ đồng vào hệ thống ngân hàng. So với cùng kỳ năm trước, tổng tiền gửi bán lẻ tăng hơn 3 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 115 tỷ USD.

Theo ông Dũng, đà tăng của tiền gửi cho thấy thanh khoản đang dần cải thiện bất chấp những áp lực ngắn hạn. Trong bối cảnh lạm phát vẫn được kiểm soát và Chính phủ tiếp tục ưu tiên mục tiêu tăng trưởng, Ngân hàng Nhà nước được kỳ vọng sẽ duy trì định hướng điều hành hỗ trợ nền kinh tế, đồng thời chủ động điều tiết thanh khoản thông qua các công cụ phù hợp.

Diễn biến của lãi suất cũng có ý nghĩa quan trọng đối với thị trường chứng khoán. Hiện nay, với mức P/E dự phóng khoảng 12 lần, suất sinh lời của thị trường chứng khoán vào khoảng 8,33%, không chênh lệch nhiều so với lãi suất tiền gửi cố định ở mức 8%.

Chuyên gia từ HSC đánh giá, mức chênh lệch này là khá hẹp nếu so với rủi ro mà nhà đầu tư phải chấp nhận khi nắm giữ cổ phiếu. Thông thường, cổ phiếu cần mang lại mức sinh lời cao hơn đáng kể so với các kênh đầu tư có độ an toàn cao. Vì vậy, nếu lợi nhuận doanh nghiệp không tăng đủ mạnh để kéo mặt bằng định giá xuống mức hấp dẫn hơn, diễn biến của lãi suất sẽ tiếp tục là yếu tố quan trọng đối với thị trường chứng khoán.

Quá trình điều chỉnh để đưa mặt bằng lãi suất và định giá cổ phiếu về trạng thái cân bằng hơn có thể diễn ra trong giai đoạn từ cuối quý III đến quý IV năm nay. Quan trọng hơn, những tín hiệu cho thấy lãi suất trong nước có thể đang tiến gần đỉnh của chu kỳ sẽ góp phần cải thiện tâm lý nhà đầu tư, đồng thời tạo môi trường thuận lợi hơn cho các tài sản rủi ro trong thời gian tới.

Thu Hương

Đọc thêm

Nền kinh tế vững vàng trước nhiều sức ép, tỷ giá còn chịu áp lực ngắn hạn trong quý III/2026

Nền kinh tế vững vàng trước nhiều sức ép, tỷ giá còn chịu áp lực ngắn hạn trong quý III/2026

Bộ phận Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB (Singapore) dự báo, Ngân hàng Nhà nước sẽ giữ nguyên lãi suất điều hành ở mức 4,5% đến hết năm 2026, đồng VND có thể chịu áp lực ngắn hạn trong quý III/2026, song triển vọng trung hạn vẫn tích cực.
Thị trường tiền tệ tuần 8 - 12/6: Hút ròng hơn 25.700 tỷ đồng, lãi suất qua đêm hạ nhiệt

Thị trường tiền tệ tuần 8 - 12/6: Hút ròng hơn 25.700 tỷ đồng, lãi suất qua đêm hạ nhiệt

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 8 - 12/6, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 25.733,5 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất liên ngân hàng giảm mạnh hơn 5 điểm phần trăm từ mức 9,35% đầu tuần. Cùng lúc, chỉ số DXY lùi dưới 100 điểm, giá vàng giảm sâu khiến tỷ giá USD tự do hạ về 26.240 - 26.270 VND/USD, thấp hơn 142 đồng so với giá bán của ngân hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (12/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.155 đồng, ECB tăng lãi suất lần đầu từ năm 2023

Tỷ giá USD hôm nay (12/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.155 đồng, ECB tăng lãi suất lần đầu từ năm 2023

(TBTCO) - Sáng 12/6, tỷ giá trung tâm phiên cuối tuần ở mức 25.155 đồng, tăng 2 đồng; tỷ giá USD tự do giao dịch thấp hơn mức niêm yết tại ngân hàng thương mại. Chỉ số DXY giảm 0,07% xuống 99,78 điểm khi kỳ vọng hạ nhiệt căng thẳng Trung Đông cải thiện tâm lý nhà đầu tư, trong bối cảnh Fed được dự báo giữ nguyên lãi suất, còn ECB vừa tăng lãi suất lần đầu từ năm 2023.
Chất lượng tài sản ngân hàng có dấu hiệu suy yếu, ba "biến số" làm gia tăng áp lực nợ xấu

Chất lượng tài sản ngân hàng có dấu hiệu suy yếu, ba "biến số" làm gia tăng áp lực nợ xấu

SSI Research cho rằng, ngành ngân hàng sẽ tiếp tục đối mặt áp lực thanh khoản, NIM thu hẹp và chất lượng tài sản suy yếu trong nửa cuối năm 2026. Đáng chú ý, rủi ro từ lãi suất thả nổi, nhu cầu tái cấp vốn cho chủ đầu tư bất động sản và điều chỉnh quy hoạch Hà Nội có thể tạo thêm áp lực lên nợ xấu.
Tín dụng tiếp đà tăng, thanh khoản ngân hàng kỳ vọng cải thiện dần từ cuối năm 2026

Tín dụng tiếp đà tăng, thanh khoản ngân hàng kỳ vọng cải thiện dần từ cuối năm 2026

(TBTCO) - Thanh khoản hệ thống ngân hàng tiếp tục chịu áp lực khi tín dụng tăng 5,71% tính đến cuối tháng 5, vượt xa tốc độ huy động vốn và khiến chênh lệch giữa tín dụng - huy động ngày càng nới rộng. Tuy nhiên, giới phân tích kỳ vọng, nguồn vốn huy động sẽ cải thiện dần từ cuối năm 2026 nhờ sự hỗ trợ của nhiều động lực trong và ngoài hệ thống.
Thị trường tiền tệ tuần 1 - 5/6: Lãi suất liên ngân hàng áp sát 11%, phản ứng nhanh rồi xoay trục hút ròng 26.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 1 - 5/6: Lãi suất liên ngân hàng áp sát 11%, phản ứng nhanh rồi xoay trục hút ròng 26.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 1 - 5/6 cho thấy, lãi suất liên ngân hàng qua đêm có thời điểm áp sát 11%, doanh số vay mượn "nóng" vượt 1 triệu tỷ đồng. Ngân hàng Nhà nước nhanh chóng kích hoạt nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ trị giá 1 tỷ USD, bơm mạnh hỗ trợ thanh khoản. Khi áp lực hạ nhiệt, cơ quan điều hành quay lại hút ròng 26.372,11 tỷ đồng, trong bối cảnh tỷ giá vẫn tương đối ổn định.
Thanh khoản ngân hàng chịu sức ép khi M2 sụt giảm, chênh lệch tín dụng và huy động sát 2 triệu tỷ đồng

Thanh khoản ngân hàng chịu sức ép khi M2 sụt giảm, chênh lệch tín dụng và huy động sát 2 triệu tỷ đồng

(TBTCO) - Báo cáo của Chứng khoán SHS cho thấy áp lực thanh khoản trong hệ thống ngân hàng vẫn ở mức cao khi chênh lệch giữa tín dụng và huy động vượt 1,9 triệu tỷ đồng vào cuối quý I/2026. Đáng chú ý, tổng phương tiện thanh toán (M2) từng giảm khoảng 1,25 triệu tỷ đồng, phản ánh lượng tiền trong nền kinh tế bị thu hẹp, qua đó gia tăng áp lực huy động vốn.
VDSC: Mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt trong 3 tháng tới

VDSC: Mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt trong 3 tháng tới

Dù thị trường đang đặt cược khoảng 50% khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ tăng lãi suất vào cuối năm, nhưng Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho rằng, kịch bản này khó xảy ra và mặt bằng lãi suất tại Việt Nam khó hạ nhiệt trong 3 tháng tới, do áp lực tỷ giá, mức chênh lệch hoán đổi VND - USD vẫn cao và nguồn tiền gửi Kho bạc hỗ trợ thanh khoản khá hạn chế.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,800 ▲400K 15,050 ▲350K
Kim TT/AVPL 14,850 ▲450K 15,100 ▲400K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,850 ▲450K 15,100 ▲400K
Nguyên Liệu 99.99 14,400 ▲550K 14,600 ▲550K
Nguyên Liệu 99.9 14,350 ▲550K 14,550 ▲550K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,500 ▲250K 14,900 ▲250K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,450 ▲250K 14,850 ▲250K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,380 ▲250K 14,830 ▲250K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 147,500 ▲3500K 150,500 ▲3500K
Hà Nội - PNJ 147,500 ▲3500K 150,500 ▲3500K
Đà Nẵng - PNJ 147,500 ▲3500K 150,500 ▲3500K
Miền Tây - PNJ 147,500 ▲3500K 150,500 ▲3500K
Tây Nguyên - PNJ 147,500 ▲3500K 150,500 ▲3500K
Đông Nam Bộ - PNJ 147,500 ▲3500K 150,500 ▲3500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,800 ▲400K 15,050 ▲350K
Miếng SJC Nghệ An 14,800 ▲400K 15,050 ▲350K
Miếng SJC Thái Bình 14,800 ▲400K 15,050 ▲350K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,750 ▲350K 15,050 ▲350K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,750 ▲350K 15,050 ▲350K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,750 ▲350K 15,050 ▲350K
NL 99.90 13,900 ▲450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,950 ▲450K
Trang sức 99.9 14,240 ▲350K 14,940 ▲350K
Trang sức 99.99 14,250 ▲350K 14,950 ▲350K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 148 ▲4K 15,052 ▲350K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 148 ▲4K 15,053 ▲350K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,479 ▲40K 1,504 ▲35K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,479 ▲40K 1,505 ▲1358K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,459 ▲40K 1,489 ▲35K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 140,426 ▲126730K 147,426 ▲133030K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 102,336 ▲2625K 111,836 ▲2625K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 91,912 ▲2380K 101,412 ▲2380K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 81,488 ▲2135K 90,988 ▲2135K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,467 ▲2040K 86,967 ▲2040K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 52,748 ▲1460K 62,248 ▲1460K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Cập nhật: 15/06/2026 23:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18053 18328 18912
CAD 18283 18559 19178
CHF 32504 32888 33538
CNY 0 3849 3942
EUR 29886 30109 31192
GBP 34485 34877 35815
HKD 0 3224 3427
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 15050 15638
SGD 19961 20243 20823
THB 723 786 839
USD (1,2) 26021 0 0
USD (5,10,20) 26062 0 0
USD (50,100) 26091 26105 26423
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,103 26,103 26,423
USD(1-2-5) 25,059 - -
USD(10-20) 25,059 - -
EUR 30,010 30,034 31,393
JPY 159.81 160.1 169.37
GBP 34,721 34,815 35,934
AUD 18,262 18,328 18,977
CAD 18,474 18,533 19,172
CHF 32,715 32,817 33,701
SGD 20,093 20,155 20,902
CNY - 3,819 3,955
HKD 3,290 3,300 3,431
KRW 16.01 16.7 18.12
THB 769.65 779.16 832
NZD 15,049 15,189 15,604
SEK - 2,756 2,847
DKK - 4,015 4,147
NOK - 2,723 2,812
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,075.17 - 6,842.18
TWD 752.68 - 909.68
SAR - 6,892.18 7,242.86
KWD - 83,429 88,559
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,113 26,133 26,423
EUR 29,963 30,083 31,272
GBP 34,754 34,894 35,914
HKD 3,291 3,304 3,420
CHF 32,568 32,699 33,616
JPY 160.23 160.87 168.71
AUD 18,254 18,327 18,920
SGD 20,186 20,267 20,853
THB 788 791 825
CAD 18,496 18,570 19,135
NZD 15,136 15,674
KRW 16.73 18.36
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26127 26127 26423
AUD 18234 18334 19265
CAD 18461 18561 19575
CHF 32731 32761 34348
CNY 3830.1 3855.1 3990.2
CZK 0 1210 0
DKK 0 4060 0
EUR 30060 30090 31815
GBP 34792 34842 36610
HKD 0 3355 0
JPY 160.62 161.12 171.66
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6720 0
NOK 0 2770 0
NZD 0 15156 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2776 0
SGD 20121 20251 20980
THB 0 751.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14800000 14800000 15050000
SBJ 13000000 13000000 15050000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,117 26,167 26,423
USD20 26,117 26,167 26,423
USD1 23,907 26,167 26,423
AUD 18,285 18,385 19,498
EUR 30,206 30,206 31,616
CAD 18,407 18,507 19,814
SGD 20,208 20,358 20,913
JPY 161.2 162.7 167.24
GBP 34,719 35,069 35,932
XAU 14,789,000 0 15,052,000
CNY 0 3,740 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 15/06/2026 23:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80