Khảo sát WGC: 89% ngân hàng trung ương dự kiến tăng nắm giữ vàng trong 12 tháng tới

Ánh Tuyết
Khảo sát từ Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) cho thấy 89% nhà quản lý dự trữ dự báo các ngân hàng trung ương toàn cầu sẽ tiếp tục tăng nắm giữ vàng trong 12 tháng tới, vàng vượt qua trái phiếu chính phủ Mỹ để trở thành tài sản dự trữ được ưu tiên nhất. Các ngân hàng trung ương đã tích lũy trung bình 1.000 tấn vàng trong 04 năm qua.
aa
Giá vàng SJC rớt 60 triệu đồng/lượng từ đỉnh cao, giải mã động thái của những “tay chơi” lớn Sau nhịp điều chỉnh sâu, giá vàng còn nhiều động lực lấy lại mốc 5.000 USD/ounce Doanh nghiệp kinh doanh vàng chủ động tuân thủ pháp luật thuế để tránh rủi ro

Vàng trở thành tài sản chiến lược, dự trữ USD giảm

Ngày 16/6, Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) công bố khảo sát thường niên về dự trữ vàng của khối ngân hàng trung ương.

Nghiên cứu do WGC phối hợp với YouGov thực hiện từ ngày 5/2 đến ngày 19/5/2026, với dữ liệu thu thập ở mức cao kỷ lục từ 76 ngân hàng trung ương trên toàn thế giới, tăng từ con số 73 ngân hàng trung ương trong năm 2025. Phần lớn các phản hồi được thu thập sau khi xung đột ở Trung Đông bắt đầu.

Khảo sát từ WGC cho thấy, 89% các nhà quản lý dự trữ dự báo các ngân hàng trung ương toàn cầu sẽ tiếp tục gia tăng lượng vàng nắm giữ trong 12 tháng tới. Trong bối cảnh vàng gần đây đã vượt qua trái phiếu chính phủ Mỹ để trở thành tài sản dự trữ được ưu tiên nhất, kết quả của khảo sát này cho thấy nhu cầu mua vàng từ các ngân hàng trung ương vẫn tiếp tục tăng.

Thông tin từ WGC thực hiện cho thấy, các ngân hàng trung ương đã tích lũy trung bình 1.000 tấn vàng trong 04 năm qua, tăng đáng kể so với mức trung bình 500 tấn trong thập kỷ trước đó. Sự gia tăng đáng kể về tốc độ tích lũy này diễn ra trong bối cảnh bất ổn về địa chính trị và kinh tế.

Việc 89% nhà quản lý dự trữ dự báo các ngân hàng trung ương toàn cầu sẽ tiếp tục gia tăng lượng vàng nắm giữ trong 12 tháng tới cho thấy xu hướng này đã trở thành một phần trong kế hoạch quản lý dự trữ của nhiều ngân hàng trung ương.

Khảo sát WGC: 89% ngân hàng trung ương dự kiến tăng nắm giữ vàng trong 12 tháng tới
Nguồn: WGC.

Theo khảo sát, mức kỷ lục 45% nhà quản lý dự trữ được khảo sát cho biết họ dự kiến sẽ tăng lượng vàng nắm giữ của tổ chức trong 12 tháng tới. Bên cạnh đó, 83% trong số này cho rằng vàng sẽ chiếm tỷ trọng lớn hơn trong tổng dự trữ của các ngân hàng trung ương trong vòng 5 năm tới, cao hơn mức 76% ghi nhận trong cuộc khảo sát năm trước.

Nhìn chung, những kết quả này cho thấy vàng đang đóng vai trò ngày càng mang tính chiến lược trong danh mục dự trữ của các ngân hàng trung ương. Hiện nay, 93% nhà quản lý dự trữ được khảo sát cho biết tổ chức của họ đang nắm giữ vàng, tăng đáng kể so với mức 81% ghi nhận trong cuộc khảo sát năm 2025.

“Triển vọng của đồng USD với vai trò là đồng tiền dự trữ chủ chốt được đánh giá kém khả quan hơn, khi 74% nhà quản lý dự trữ được khảo sát dự báo tỷ trọng của USD trong tổng dự trữ toàn cầu sẽ giảm trong vòng 5 năm tới” - WGC thông tin.

90% ngân hàng trung ương chọn vàng vì giữ giá trị trong khủng hoảng

Ông Shaokai Fan - Giám đốc Ngân hàng Trung ương toàn cầu kiêm Giám đốc khu vực châu Á - Thái Bình Dương (không bao gồm Trung Quốc) tại Hội đồng Vàng Thế giới nhận định, kết quả khảo sát năm nay gửi đi một thông điệp rõ ràng, đó là nhu cầu mua vàng từ các ngân hàng trung ương vẫn đang trên đà tăng.

Một tỷ lệ kỷ lục các nhà quản lý dự trữ được khảo sát cho biết họ dự kiến sẽ tăng lượng vàng nắm giữ trong năm tới, trong khi phần lớn trong số này cũng kỳ vọng lượng vàng nắm giữ của các ngân hàng trung ương và tổ chức quốc tế trên toàn cầu sẽ tiếp tục tăng.

Khảo sát WGC: 89% ngân hàng trung ương dự kiến tăng nắm giữ vàng trong 12 tháng tới
Khảo sát WGC: 89% ngân hàng trung ương dự kiến tăng nắm giữ vàng trong 12 tháng tới. Ảnh minh họa.

Bất ổn địa chính trị và đa dạng hóa dự trữ thúc đẩy vai trò của vàng

“Điều đáng chú ý là sự thay đổi trong cách các ngân hàng trung ương nhìn nhận vai trò của vàng. Ngày càng ít tổ chức xem vàng đơn thuần là một tài sản nắm giữ mang tính lịch sử, trong khi ngày càng nhiều tổ chức coi vàng là một khoản phân bổ tài sản chủ động và mang tính chiến lược trong bối cảnh bất ổn địa chính trị gia tăng và nhu cầu đa dạng hóa dự trữ ngày càng lớn” - ông Shaokai Fan - chuyên gia WGC đánh giá.

Những thay đổi này cũng được phản ánh trong cách các ngân hàng trung ương nhìn nhận vai trò của vàng trong dự trữ quốc gia.

Khi được hỏi về các yếu tố thúc đẩy quyết định nắm giữ vàng, mức kỷ lục 90% nhà quản lý dự trữ được khảo sát cho biết khả năng duy trì giá trị của vàng trong các giai đoạn khủng hoảng là lý do quan trọng nhất.

Hai yếu tố được nhắc đến nhiều tiếp theo là khả năng bảo toàn giá trị trong dài hạn (84%) và đa dạng hóa danh mục dự trữ (82%).

Đáng chú ý, vai trò của vàng như một công cụ phòng ngừa rủi ro địa chính trị được đánh giá cao, đặc biệt tại các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển, khi có tới 85% nhà quản lý dự trữ được khảo sát tại các quốc gia này lựa chọn yếu tố này. Trong khi đó, tỷ lệ nhà quản lý dự trữ cho rằng yếu tố lịch sử và truyền thống là lý do để nắm giữ vàng tiếp tục giảm từ mức 62% trong năm 2025 xuống còn 46% trong năm nay.

Khảo sát cũng ghi nhận một xu hướng mới, đó là các ngân hàng trung ương ngày càng điều chỉnh chiến lược lưu trữ vàng.

Theo đó, có 9% nhà quản lý dự trữ được khảo sát cho biết đã tăng lượng vàng được lưu trữ trong nước trong 12 tháng qua, cao hơn mức 5% ghi nhận trong cuộc khảo sát năm trước. Trong khi đó, 10% cho biết đã đa dạng hóa các địa điểm lưu trữ vàng ở nước ngoài, tăng mạnh so với tỷ lệ 2% được ghi nhận một năm trước.

Xu hướng này được dự báo sẽ tiếp tục trong thời gian tới, khi 7% nhà quản lý dự trữ được khảo sát cho biết có kế hoạch tăng lưu trữ vàng trong nước và 9% dự kiến sẽ đa dạng hóa các địa điểm lưu trữ vàng ở nước ngoài trong năm tới.

Ngân hàng Anh (Bank of England) tiếp tục là địa điểm lưu ký vàng được lựa chọn nhiều nhất, với 57% nhà quản lý dự trữ được khảo sát cho biết đang sử dụng cơ sở lưu ký tại đây, trong khi hình thức lưu trữ trong nước đứng thứ hai với tỷ lệ 49%./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 10/7: Vàng thế giới tăng lên 4.125 USD/ounce, vàng trong nước biến động trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 10/7: Vàng thế giới tăng lên 4.125 USD/ounce, vàng trong nước biến động trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh 4.125 USD/ounce, tăng hơn 50 USD so với hôm qua. Trong nước, giá vàng miếng đồng loạt tăng trong khi giá vàng nhẫn ghi nhận diễn biến trái chiều giữa các thương hiệu.
Giá vàng hôm nay ngày 9/7: Vàng thế giới và trong nước tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 9/7: Vàng thế giới và trong nước tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 70 USD/ounce, xuống 4.078 USD/ounce. Trong nước, nhiều doanh nghiệp tiếp tục hạ giá vàng miếng và vàng nhẫn.
Giá vàng hôm nay ngày 8/7: Vàng thế giới giảm còn 4.102 USD/ounce, vàng trong nước lùi về 150 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 8/7: Vàng thế giới giảm còn 4.102 USD/ounce, vàng trong nước lùi về 150 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm về 4.102 USD/ounce, mất gần 50 USD/ounce. Trong nước, nhiều doanh nghiệp tiếp tục điều chỉnh giảm giá vàng, đưa giá bán vàng miếng về 150 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 7/7: Vàng thế giới neo quanh 4.166 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 7/7: Vàng thế giới neo quanh 4.166 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh ngưỡng 4.166 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm tại nhiều doanh nghiệp, với giá bán vàng miếng phổ biến ở mức 151 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 6/7: Vàng thế giới neo quanh 4.175 USD/ounce, vàng miếng giữ mốc 151,4 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 6/7: Vàng thế giới neo quanh 4.175 USD/ounce, vàng miếng giữ mốc 151,4 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới gần như không đổi so với sáng qua, giao dịch quanh 4.175 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt đi ngang tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng.
Giá vàng hôm nay ngày 5/7: Vàng thế giới đi ngang, vàng trong nước giữ mốc 151,4 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 5/7: Vàng thế giới đi ngang, vàng trong nước giữ mốc 151,4 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì quanh 4.175 USD/ounce, gần như không đổi so với sáng ngày hôm qua. Trong nước, giá vàng miếng không ghi nhận biến động với mức bán ra phổ biến 151,4 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 4/7: Vàng thế giới phục hồi mạnh, vàng trong nước tăng lên 151,4 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 4/7: Vàng thế giới phục hồi mạnh, vàng trong nước tăng lên 151,4 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch ở mức 4.176 USD/ounce sau khi tăng 52 USD/ounce so với sáng hôm qua. Trong nước, nhiều doanh nghiệp đồng loạt nâng giá vàng miếng và vàng nhẫn lên 151,4 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 3/7: Vàng thế giới lấy lại mốc 4.100 USD/ounce, vàng trong nước tăng trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 3/7: Vàng thế giới lấy lại mốc 4.100 USD/ounce, vàng trong nước tăng trở lại

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch ở mức 4.125 USD/ounce, tăng gần 100 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt tăng từ 2 - 3 triệu đồng/lượng tại nhiều doanh nghiệp.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,690 14,990
Kim TT/AVPL 14,500 14,900
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,500 14,900
Nguyên Liệu 99.99 13,400 13,600
Nguyên Liệu 99.9 13,350 13,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,900 14,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,850 14,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,780 14,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,000 149,000
Hà Nội - PNJ 145,000 149,000
Đà Nẵng - PNJ 145,000 149,000
Miền Tây - PNJ 145,000 149,000
Tây Nguyên - PNJ 145,000 149,000
Đông Nam Bộ - PNJ 145,000 149,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,690 14,990
Miếng SJC Nghệ An 14,690 14,990
Miếng SJC Thái Bình 14,690 14,990
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,550 14,900
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,550 14,900
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,550 14,900
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 14,090 14,790
Trang sức 99.99 14,100 14,800
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,469 14,992
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,469 14,993
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,464 1,494
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,464 1,495
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,439 1,474
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,941 145,941
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,911 110,711
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,592 100,392
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,273 90,073
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,293 86,093
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,822 61,622
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Cập nhật: 12/07/2026 19:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17719 17992 18579
CAD 18016 18291 18915
CHF 31829 32210 32858
CNY 0 3834 3927
EUR 29342 29562 30643
GBP 34402 34793 35736
HKD 0 3219 3422
JPY 155 159 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14815 15410
SGD 19787 20068 20647
THB 704 767 821
USD (1,2) 25996 0 0
USD (5,10,20) 26037 0 0
USD (50,100) 26066 26080 26445
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,090 26,090 26,470
USD(1-2-5) 25,047 - -
USD(10-20) 25,047 - -
EUR 29,541 29,565 30,973
JPY 158.07 158.36 167.94
GBP 34,627 34,721 35,920
AUD 17,915 17,980 18,664
CAD 18,203 18,261 18,933
CHF 32,221 32,321 33,272
SGD 19,931 19,993 20,784
CNY - 3,802 3,947
HKD 3,284 3,294 3,432
KRW 16.1 16.79 18.26
THB 751.79 761.08 814.78
NZD 14,833 14,971 15,413
SEK - 2,675 2,769
DKK - 3,952 4,091
NOK - 2,646 2,740
LAK - 0.89 1.24
MYR 6,040.19 - 6,816.63
TWD 738.39 - 894.44
SAR - 6,880.56 7,246.62
KWD - 83,101 88,412
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,084 26,104 26,474
EUR 29,523 29,642 30,835
GBP 34,671 34,810 35,842
HKD 3,287 3,300 3,417
CHF 32,088 32,217 33,153
JPY 158.31 158.95 166.89
AUD 17,918 17,990 18,584
SGD 20,008 20,088 20,677
THB 768 771 808
CAD 18,237 18,310 18,882
NZD 14,937 15,479
KRW 16.70 18.47
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26048 26048 26474
AUD 17888 17988 18914
CAD 18182 18282 19295
CHF 32146 32176 33754
CNY 3815 3840 3975.4
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29558 29588 31314
GBP 34716 34766 36521
HKD 0 3355 0
JPY 158.76 159.26 169.77
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14950 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19958 20088 20815
THB 0 733.1 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14690000 14690000 14990000
SBJ 13000000 13000000 14990000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,113 26,163 26,474
USD20 26,113 26,163 26,474
USD1 26,113 26,163 26,474
AUD 17,993 18,093 19,208
EUR 29,449 29,549 31,208
CAD 18,177 18,277 19,586
SGD 20,062 20,212 20,777
JPY 159.77 161.27 166.81
GBP 34,730 34,880 35,936
XAU 14,688,000 0 14,992,000
CNY 0 3,726 0
THB 0 769 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 12/07/2026 19:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80