Linh hoạt các giải pháp phát triển người tham gia bảo hiểm

Mai Lâm
(TBTCO) - Trong năm 2022, các chỉ tiêu ngành Bảo hiểm xã hội được giao đều cao hơn năm cũ. Điều này đòi hỏi sự nỗ lực lớn của toàn ngành cũng như sự vào cuộc quyết liệt, chủ động và tích cực của các địa phương ngay từ đầu năm mới.
aa

Tín hiệu lạc quan từ đầu năm

Trưởng ban Quản lý Thu, Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam Dương Văn Hào cho biết, ngay trong tháng 1/2022, công tác thu, phát triển đối tượng tham gia có nhiều tín hiệu khá lạc quan như số người tham gia BHXH bắt buộc trên cả nước đạt 15,2 triệu người, tăng 103 nghìn người (0,7%) so với thực hiện năm 2021; số người tham gia bảo hiểm thất nghiệp đạt 13,502 triệu người, tăng 107 nghìn người (0,8%) so với thực hiện năm 2021…

Linh hoạt các giải pháp phát triển người tham gia bảo hiểm

Tuyên truyền chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện theo mô hình nhóm nhỏ.

Trong năm 2022, các chỉ tiêu được Chính phủ giao cho toàn ngành BHXH đều tăng cao. Trong đó, chỉ tiêu về BHXH bắt buộc tăng khoảng 11,4% so với thực hiện năm 2021 (cao gấp 2 lần so với bình quân hàng năm). Chỉ tiêu BHXH tự nguyện tăng khoảng 53,6% so với thực hiện năm 2021 (cao gấp 1,8 lần so với bình quân hằng năm). Chỉ tiêu bảo hiểm y tế (BHYT) tăng khoảng 3,2% so với thực hiện năm 2021 (cao gấp 1,5 lần so với bình quân hàng năm). Chỉ tiêu thu tăng khoảng 6,6% so với năm 2021. Các chỉ tiêu mới đòi hỏi BHXH các tỉnh phải tập trung triển khai quyết liệt để thực hiện các chỉ tiêu BHXH Việt Nam giao.

Chia sẻ bài học kinh nghiệm về phát triển đối tượng, ông Hào cho biết, trong năm 2021, nhiều giải pháp đã được các địa phương triển khai hiệu quả. Có tới 61/63 tỉnh, thành phố hỗ trợ thêm mức đóng cho người cận nghèo, 15/63 tỉnh, thành phố hỗ trợ thêm mức đóng cho học sinh sinh viên; tổng số tiền đã huy động hỗ trợ từ ngân sách các địa phương là khoảng 43,4 tỷ đồng, kêu gọi các tổ chức, cá nhân hỗ trợ được 6,9 tỷ đồng mua thẻ BHYT cho người dân có hoàn cảnh khó khăn. Thông qua rà soát dữ liệu thuế, cơ quan BHXH đã phát triển được 313 nghìn người tham gia BHXH bắt buộc; thu hồi được 1.338 tỷ đồng thông qua thanh tra đột xuất; phát triển được 140,5 nghìn người tham gia BHXH tự nguyện, 213,8 nghìn người tham gia BHYT thông qua các hội nghị khách hàng.

Vì vậy, theo ông Hào, ngay từ những tháng đầu năm 2022, BHXH các địa phương cần tăng cường rà soát dữ liệu do cơ quan thuế cung cấp, phân loại, lập danh sách đơn vị chưa tham gia, tham gia chưa đầy đủ BHXH, BHYT. Về BHXH tự nguyện, BHYT hộ gia đình, cần thực hiện linh hoạt các hình thức thông tin, tuyên truyền, đảm bảo thông tin đến được với đông đảo người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, người mới thoát nghèo để vận động họ tiếp tục tham gia...

Cần sự chủ động vào cuộc từ các địa phương

Trong bối cảnh chỉ tiêu tăng cao, nguồn lực con người có hạn, để hoàn thành được các nhiệm vụ này, tại hội nghị trực tuyến toàn ngành BHXH về công tác thu, phát triển người tham gia BHXH, BHYT tháng 2/2022 mới đây, Phó Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam Trần Đình Liệu đã nhấn mạnh yêu cầu sự chủ động của các địa phương trong việc triển khai các giải pháp thu, phát triển người tham gia BHXH, BHYT. Theo đó, các địa phương phải đổi mới, sáng tạo trong cách làm để đạt mục tiêu đề ra; bố trí nhân lực linh hoạt, cân đối giữa các bộ phận nghiệp vụ, trong đó ưu tiên, chú trọng để đảm bảo hoàn thành chỉ tiêu nhiệm vụ thu, phát triển BHXH, BHYT năm 2022.

Thêm ý kiến về vấn đề này, ông Nguyễn Thế Mạnh - Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam chỉ đạo BHXH các tỉnh, thành phố phải chủ động triển khai từ sớm, từ xa các giải pháp, bám sát sự chỉ đạo của BHXH Việt Nam, chủ động đề xuất với cấp ủy, chỉnh quyền địa phương, phối hợp chặt chẽ với các sở, ngành, chú trọng tham mưu chỉ đạo, giao chỉ tiêu đến từng xã, phường. Ông Mạnh cũng yêu cầu BHXH các địa phương tích cực đề xuất ngân sách địa phương, huy động các nguồn lực khác để hỗ trợ người dân trên địa bàn tham gia BHXH, BHYT. Đồng thời, mỗi một cấp cơ quan BHXH, từng bộ phận, lĩnh vực nghiệp vụ phải xây dựng các kịch bản cụ thể, linh hoạt, thay đổi theo từng tình huống, từng thời kỳ, phù hợp với từng địa phương, phân công rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ kết quả. Về công tác truyền thông, Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam yêu cầu BHXH các địa phương phải chủ động thông tin, đi trước một bước để người dân nắm được những thay đổi. Trong đó, chú trọng truyền thông đến nhóm nhỏ, có tính đặc thù, truyền thông phải rõ kết quả đầu ra, rõ tiêu chí đánh giá, cụ thể là số người tham gia BHXH, BHYT…

Chia sẻ về sự tích cực vào cuộc thực hiện giải pháp thu, phát triển đối tượng ngay từ đầu năm, đại diện BHXH TP. Hồ Chí Minh thông tin, cơ quan này đã tạm giao kế hoạch thu, phát triển đối tượng, tổ chức hội nghị khách hàng cho BHXH các quận, huyện ngay từ đầu tháng 1. Cùng với đó, BHXH thành phố cũng đã sớm chủ động tham mưu UBND TP. Hồ Chí Minh chỉ đạo và nhận được sự ủng hộ, đồng thuận cao, giao chỉ tiêu sớm cho các quận, huyện, thành phố trên địa bàn.

Đại diện BHXH TP. Hà Nội cho biết, UBND TP. Hà Nội cũng đã giao chỉ tiêu BHXH, BHYT tới các quận, huyện thị xã và giao tới các xã, phường, thị trấn trên địa bàn; đồng thời có văn bản chỉ đạo triển khai thực hiện. Về tổ chức các hội nghị tuyên truyền, BHXH TP. Hà Nội sẽ đảm bảo nâng cao chất lượng, chú trọng rà soát để mời đúng đối tượng tiềm năng, chọn báo cáo viên, tuyên truyền viên có kinh nghiệm. BHXH thành phố cũng đã làm việc chặt chẽ với Bưu điện thành phố để bàn các giải pháp phát triển BHXH tự nguyện, BHYT hộ gia đình năm 2022.

Số người tham gia bảo hiểm xã hội tăng 2,2% so với năm 2020

Năm 2021, số người tham gia bảo hiểm xã hội đạt 16,5 triệu người, tăng 358 nghìn người (2,2%) so với năm 2020. Đặc biệt, số người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đạt 1,45 triệu người, tăng 325,3 nghìn người (28,9%) so với năm 2020. Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 91,01%.

Mai Lâm

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm doanh thu, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số doanh nghiệp.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các doanh nghiệp dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

(TBTCO) - Theo VIS Rating, điều kiện huy động tiếp tục thắt chặt, với tăng trưởng tiền gửi toàn hệ thống chỉ đạt 0,6%, trong bối cảnh nợ xấu gia tăng, lãi suất và đòn bẩy cao kéo dài đang tạo áp lực lên ngành ngân hàng. Từ đó, xu hướng thu hẹp NIM và chi phí tín dụng gia tăng dự kiến sẽ tiếp diễn.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và thương mại. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

(TBTCO) - Nhằm khẳng định dấu ấn cá nhân và uy tín vững vàng của quý khách, VietinBank chính thức triển khai chương trình "Ưu đãi chạm đỉnh - Rinh số phát tài". Lần đầu tiên, toàn bộ kho số tài khoản đẳng cấp, phong thủy được áp dụng chính sách trợ giá đặc biệt với mức giảm kỷ lục lên đến 80%, mở ra cơ hội sở hữu "tấm danh thiếp" tài lộc với chi phí tối ưu chưa từng có cho các cá nhân và hộ kinh doanh.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Kim TT/AVPL 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 14,400 ▼400K 14,600 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 14,350 ▼400K 14,550 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 ▼500K 15,400 ▼500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 ▼500K 15,350 ▼500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 ▼500K 15,330 ▼500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Hà Nội - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đà Nẵng - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Miền Tây - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Tây Nguyên - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Nghệ An 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Thái Bình 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
NL 99.90 14,050 ▼400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100 ▼400K
Trang sức 99.9 14,940 ▼300K 15,640 ▼300K
Trang sức 99.99 14,950 ▼300K 15,650 ▼300K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 ▼32K 15,752 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 ▼32K 15,753 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 ▼29K 1,573 ▼29K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 ▼29K 1,574 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 ▼29K 1,558 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 ▼2872K 154,257 ▼2872K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 ▼2175K 117,012 ▼2175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 ▼1972K 106,105 ▼1972K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 ▼1769K 95,198 ▼1769K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 ▼75572K 9,099 ▼83582K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 ▼1210K 65,125 ▼1210K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cập nhật: 28/05/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/05/2026 21:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80