Bảo hiểm xã hội Việt Nam: Chủ động chuyển đổi, không làm gián đoạn quyền lợi người thụ hưởng

Hà My
(TBTCO) - Từ ngày 1/7/2025, Luật Tổ chức chính quyền địa phương (sửa đổi) sẽ chính thức có hiệu lực, tạo bước chuyển lớn trong cơ cấu tổ chức hành chính ở địa phương. Cùng với các cơ quan của Bộ Tài chính, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã sẵn sàng cho hoạt động mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.
aa
Bảo hiểm xã hội Việt Nam: Chủ động chuyển đổi, không làm gián đoạn quyền lợi người thụ hưởng
Nguồn: Bảo hiểm xã hội Việt Nam Đồ hoạ: Phương Anh

Đảm bảo vận hành thông suốt

Từ ngày 1/3/2025, Bảo hiểm xã hội Việt Nam trở thành đơn vị đặc thù thuộc Bộ Tài chính. Thực hiện Nghị quyết 08-NQ/ĐUBTC ngày 23/4/2025 của Đảng ủy Bộ Tài chính, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã nhanh chóng thực hiện tổ chức lại hệ thống 34 bảo hiểm xã hội khu vực trực thuộc Bảo hiểm xã hội Việt Nam, không tổ chức bảo hiểm xã hội cấp huyện. Đồng thời, chuyển đổi bảo hiểm xã hội cấp huyện thành bảo hiểm xã hội cơ sở thuộc bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố để quản lý trên địa bàn một số đơn vị hành chính cấp xã.

Bảo hiểm xã hội Việt Nam cũng đã chủ động triển khai việc sắp xếp tổ chức bộ máy, song song với việc tập trung mọi nguồn lực luôn đảm bảo chi trả lương hưu, các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp đầy đủ, chính xác, kịp thời cho người tham gia và thụ hưởng chính sách theo quy định.

Chia sẻ với phóng viên, ông Lê Hùng Sơn - Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam khẳng định, công tác hoàn thiện sắp xếp tinh gọn bộ máy hệ thống bảo hiểm xã hội không làm ảnh hưởng đến việc tiếp nhận và giải quyết quyền lợi của người tham gia, thụ hưởng chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp.

Ông Sơn cho biết, với quan điểm xuyên suốt “lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, chủ thể phục vụ”, được sự chỉ đạo sát sao của Bộ Tài chính, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã chủ động triển khai việc sắp xếp tổ chức bộ máy, đồng thời tập trung mọi nguồn lực, đảm bảo vận hành thông suốt để triển khai nhiệm vụ và đã đạt được những kết quả tích cực ở tất cả các lĩnh vực hoạt động. Số người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp đều tăng so với cùng kỳ năm 2024; công tác chi trả và giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp được thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định…

Kết quả cụ thể, về giải quyết thủ tục hành chính, toàn hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã tiếp nhận và giải quyết 9.469.450 lượt hồ sơ với tỷ lệ hồ sơ giải quyết hoàn toàn trực tuyến, đạt 80%.

Ước đến 30/6/2025, số người tham gia bảo hiểm xã hội đạt 20,78 triệu người, đạt tỷ lệ bao phủ là 44% lực lượng lao động trong độ tuổi, tăng 2,469 triệu người so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, bảo hiểm xã hội bắt buộc là 18,18 triệu người, tăng 1,499 triệu người và bảo hiểm xã hội tự nguyện là 2,59 triệu người, tăng 969 triệu người. Số người tham gia bảo hiểm thất nghiệp đạt 16,42 triệu người; đạt tỷ lệ bao phủ 34,8% lực lượng lao động trong độ tuổi; tăng 1,451 triệu người so với cùng kỳ năm trước. Số người tham gia bảo hiểm y tế đạt 96,46 triệu người, đạt tỷ lệ bao phủ là 95,2% dân số; tăng 4,333 triệu người so với cùng kỳ năm trước.

Về giải quyết chế độ, chính sách, ước 6 tháng năm 2025, toàn hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã giải quyết cho 90.655 người hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội hằng tháng, tăng 132,56% so với cùng kỳ năm 2024; 661.412 người hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội một lần; gần 4,4 triệu lượt người hưởng các chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức, phục hồi sức khỏe, tăng 8,39% so với cùng kỳ năm 2024. Số chi khám chữa bệnh bảo hiểm y tế trong 6 tháng đầu năm 2025 là 76,1 nghìn tỷ đồng, tăng gần 10 nghìn tỷ đồng (14,8%) so với cùng kỳ năm 2024.

Như vậy, trong bối cảnh hoàn thiện, sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy, Bảo hiểm xã hội Việt Nam luôn tập trung đảm bảo hoạt động thông suốt, không làm gián đoạn, không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người tham gia và thụ hưởng chính sách.

Sẵn sàng phục vụ nhân dân theo mô hình tổ chức mới

Hiện nay, bảo hiểm xã hội các địa phương chuyển đổi thành bảo hiểm xã hội các khu vực và tới đây là bảo hiểm xã hội tỉnh (theo địa giới hành chính)..., đặt trụ sở tại một số địa phương nhất định. Trả lời câu hỏi của phóng viên về tác động của việc thay đổi này, ông Lê Hùng Sơn khẳng định: “Việc thay đổi sắp xếp theo 2 mô hình bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố và bảo hiểm xã hội cơ sở (không tổ chức bảo hiểm xã hội cấp huyện) không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết chế độ, quyền lợi của người tham gia, người thụ hưởng”.

Ưu tiên hàng đầu việc đảm bảo quyền lợi của người tham gia

“Những kết quả nổi bật trong 6 tháng đầu năm 2025 là minh chứng thể hiện sự quan tâm, chỉ đạo đúng đắn của Đảng, Chính phủ, lãnh đạo Bộ Tài chính và tinh thần trách nhiệm, sự nỗ lực và quyết tâm cao của toàn hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam. Bảo hiểm xã hội Việt Nam sẽ tiếp tục theo dõi sát sao tình hình, kịp thời giải quyết các vướng mắc để bộ máy tổ chức mới hoạt động hiệu lực, hiệu quả, ưu tiên hàng đầu việc đảm bảo quyền lợi của người tham gia và thụ hưởng các chính sách”. Ông Lê Hùng Sơn - Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam khẳng định.

Đại diện Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho biết, thời gian qua, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã tập trung đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, liên thông dữ liệu trong các hoạt động nghiệp vụ và đã đạt được nhiều kết quả tích cực; được các tổ chức, cá nhân ghi nhận, đánh giá cao trong việc tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp giao dịch với cơ quan bảo hiểm xã hội.

Hiện nay, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã cung cấp 70 dịch vụ công trực tuyến mức độ toàn trình và đã tích hợp 100% trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia, đáp ứng yêu cầu của người dân và doanh nghiệp; tổ chức, cá nhân có thể lựa chọn phương thức nộp hồ sơ qua giao dịch điện tử để tiết kiệm thời gian, chi phí.

Đồng thời, với mô hình tổ chức mới gắn với chính quyền địa phương 2 cấp, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã tái cơ cấu các quy trình nghiệp vụ, liên thông với dữ liệu dân cư và dữ liệu các bộ, ngành; cắt bỏ các giấy tờ thủ tục đã có dữ liệu (dân cư, căn cước, bảo hiểm xã hội, đăng ký xe, giấy phép lái xe)… Trên cơ sở đó, đẩy mạnh triển khai việc tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính không phụ thuộc vào địa giới hành chính. Theo đó, nhiều thủ tục hành chính hiện nay người lao động có thể lựa chọn nộp tại bất kỳ cơ quan bảo hiểm xã hội nào thuận tiện nhất.

“Đến thời điểm này, sau khi đã chủ động rà soát các chức năng chính của các phần mềm nghiệp vụ có liên quan đến việc liên cấp huyện, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã sẵn sàng phục vụ nhân dân theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp” - Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam Lê Hùng Sơn cho biết.

Bảo hiểm xã hội Việt Nam cũng yêu cầu bảo hiểm xã hội các khu vực ngay khi mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đi vào hoạt động từ 1/7 cần tiếp tục tham mưu cấp uỷ, chính quyền địa phương đưa chỉ tiêu phát triển người tham gia vào chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và hỗ trợ thêm mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm y tế cho người tham gia. Bên cạnh đó, bám sát thực tế triển khai nhiệm vụ để chủ động, kịp thời xây dựng các kịch bản, phương án, triển khai đồng bộ các giải pháp đảm bảo hoàn thành các chỉ tiêu về mở rộng độ bao phủ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp theo các Nghị quyết của Đảng, Chính phủ, Quốc hội.

Thực hiện phân công, phân nhiệm đảm bảo 6 rõ

Bảo hiểm xã hội Việt Nam yêu cầu Bảo hiểm xã hội các khu vực nhanh chóng ổn định tổ chức bộ máy sau sắp xếp, xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất, năng lực, uy tín, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới; tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính, hành chính; thực hiện nghiêm quy trình, quy chế của Bộ Tài chính, hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam. Đồng thời, thực hiện phân công, phân nhiệm đảm bảo 6 rõ “rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thời gian, rõ kết quả, rõ thẩm quyền”.

Hà My

Đọc thêm

BIDV là Ngân hàng thanh toán duy nhất cho thị trường giao dịch các-bon tại Việt Nam

BIDV là Ngân hàng thanh toán duy nhất cho thị trường giao dịch các-bon tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 9/6/2026, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) đã có Công văn số 5170/UBCK-PTTT về việc lựa chọn ngân hàng thanh toán cho thị trường giao dịch các-bon trong nước. Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV; mã Ck: BID) đã chính thức trở thành Ngân hàng duy nhất cung cấp dịch vụ thanh toán tiền cho giao dịch hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon trên sàn giao dịch các-bon tại Việt Nam.
Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ "nóng" cuộc đua cạnh tranh thị phần

Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ "nóng" cuộc đua cạnh tranh thị phần

(TBTCO) - Top 5 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đạt doanh thu 12.710 tỷ đồng trong quý đầu năm, chiếm gần 52% thị phần; trong đó, DBV vươn lên vị trí thứ 4 và MIC trở lại top 5, cho thấy cuộc đua thị phần ngày càng nóng lên. Chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng giúp các doanh nghiệp tăng doanh thu và mở rộng thị phần.
NCB và Sun Group ra mắt thẻ đồng thương hiệu, mở cánh cửa tới hệ sinh thái đặc quyền hàng đầu Việt Nam

NCB và Sun Group ra mắt thẻ đồng thương hiệu, mở cánh cửa tới hệ sinh thái đặc quyền hàng đầu Việt Nam

(TBTCO) - Với NCB Visa Sun Signature, lần đầu tiên khách hàng có thể sở hữu một chiếc thẻ tín dụng ngân hàng tích hợp đồng thời các đặc quyền dành cho hội viên trong hệ sinh thái du lịch nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, bất động sản, hàng không và y tế cao cấp hàng đầu Việt Nam.
Nền kinh tế vững vàng trước nhiều sức ép, tỷ giá còn chịu áp lực ngắn hạn trong quý III/2026

Nền kinh tế vững vàng trước nhiều sức ép, tỷ giá còn chịu áp lực ngắn hạn trong quý III/2026

Bộ phận Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB (Singapore) dự báo, Ngân hàng Nhà nước sẽ giữ nguyên lãi suất điều hành ở mức 4,5% đến hết năm 2026, đồng VND có thể chịu áp lực ngắn hạn trong quý III/2026, song triển vọng trung hạn vẫn tích cực.
Thị trường tiền tệ tuần 8 - 12/6: Hút ròng hơn 25.700 tỷ đồng, lãi suất qua đêm hạ nhiệt

Thị trường tiền tệ tuần 8 - 12/6: Hút ròng hơn 25.700 tỷ đồng, lãi suất qua đêm hạ nhiệt

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 8 - 12/6, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 25.733,5 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất liên ngân hàng giảm mạnh hơn 5 điểm phần trăm từ mức 9,35% đầu tuần. Cùng lúc, chỉ số DXY lùi dưới 100 điểm, giá vàng giảm sâu khiến tỷ giá USD tự do hạ về 26.240 - 26.270 VND/USD, thấp hơn 142 đồng so với giá bán của ngân hàng.
MBV thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch

MBV thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi tên gọi, địa điểm đặt trụ sở và chính thức khai trương hoạt động các phòng giao dịch (PGD) trực thuộc.
Lập hattrick tại The Asian Banker 2026: Dấu ấn công nghệ của TPBank trong dòng chảy kinh tế số

Lập hattrick tại The Asian Banker 2026: Dấu ấn công nghệ của TPBank trong dòng chảy kinh tế số

(TBTCO) - Lập "hattrick" công nghệ tại The Asian Banker 2026, TPBank khẳng định chiến lược đúng đắn khi đưa trí tuệ nhân tạo (AI) và số hóa vào tối ưu hóa năng lực vận hành, nâng tầm trải nghiệm khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (12/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.155 đồng, ECB tăng lãi suất lần đầu từ năm 2023

Tỷ giá USD hôm nay (12/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.155 đồng, ECB tăng lãi suất lần đầu từ năm 2023

(TBTCO) - Sáng 12/6, tỷ giá trung tâm phiên cuối tuần ở mức 25.155 đồng, tăng 2 đồng; tỷ giá USD tự do giao dịch thấp hơn mức niêm yết tại ngân hàng thương mại. Chỉ số DXY giảm 0,07% xuống 99,78 điểm khi kỳ vọng hạ nhiệt căng thẳng Trung Đông cải thiện tâm lý nhà đầu tư, trong bối cảnh Fed được dự báo giữ nguyên lãi suất, còn ECB vừa tăng lãi suất lần đầu từ năm 2023.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,800 ▲400K 15,050 ▲350K
Kim TT/AVPL 14,800 ▲400K 15,050 ▲350K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,800 ▲400K 15,050 ▲350K
Nguyên Liệu 99.99 14,400 ▲550K 14,600 ▲550K
Nguyên Liệu 99.9 14,350 ▲550K 14,550 ▲550K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,500 ▲250K 14,900 ▲250K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,450 ▲250K 14,850 ▲250K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,380 ▲250K 14,830 ▲250K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 147,500 ▲3500K 150,500 ▲3500K
Hà Nội - PNJ 147,500 ▲3500K 150,500 ▲3500K
Đà Nẵng - PNJ 147,500 ▲3500K 150,500 ▲3500K
Miền Tây - PNJ 147,500 ▲3500K 150,500 ▲3500K
Tây Nguyên - PNJ 147,500 ▲3500K 150,500 ▲3500K
Đông Nam Bộ - PNJ 147,500 ▲3500K 150,500 ▲3500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,800 ▲400K 15,050 ▲350K
Miếng SJC Nghệ An 14,800 ▲400K 15,050 ▲350K
Miếng SJC Thái Bình 14,800 ▲400K 15,050 ▲350K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,750 ▲350K 15,050 ▲350K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,750 ▲350K 15,050 ▲350K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,750 ▲350K 15,050 ▲350K
NL 99.90 13,900 ▲450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,950 ▲450K
Trang sức 99.9 14,240 ▲350K 14,940 ▲350K
Trang sức 99.99 14,250 ▲350K 14,950 ▲350K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 148 ▲4K 15,052 ▲350K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 148 ▲4K 15,053 ▲350K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,479 ▲40K 1,504 ▲35K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,479 ▲40K 1,505 ▲1358K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,459 ▲40K 1,489 ▲35K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 140,426 ▲126730K 147,426 ▲133030K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 102,336 ▲2625K 111,836 ▲2625K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 91,912 ▲2380K 101,412 ▲2380K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 81,488 ▲2135K 90,988 ▲2135K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,467 ▲2040K 86,967 ▲2040K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 52,748 ▲1460K 62,248 ▲1460K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Cập nhật: 15/06/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18075 18350 18926
CAD 18292 18568 19184
CHF 32465 32849 33501
CNY 0 3849 3941
EUR 29883 30106 31181
GBP 34542 34934 35868
HKD 0 3224 3426
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 15075 15665
SGD 19973 20256 20822
THB 722 786 839
USD (1,2) 26023 0 0
USD (5,10,20) 26064 0 0
USD (50,100) 26093 26107 26423
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,097 26,097 26,423
USD(1-2-5) 25,054 - -
USD(10-20) 25,054 - -
EUR 30,007 30,031 31,402
JPY 159.89 160.18 169.5
GBP 34,739 34,833 35,958
AUD 18,287 18,353 19,007
CAD 18,489 18,548 19,192
CHF 32,730 32,832 33,729
SGD 20,105 20,168 20,923
CNY - 3,820 3,957
HKD 3,291 3,301 3,432
KRW 16.06 16.75 18.18
THB 771.02 780.54 833.91
NZD 15,063 15,203 15,619
SEK - 2,759 2,851
DKK - 4,015 4,148
NOK - 2,726 2,817
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,076.57 - 6,845.28
TWD 754.47 - 911.48
SAR - 6,893.76 7,246.15
KWD - 83,394 88,542
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,113 26,133 26,423
EUR 29,963 30,083 31,272
GBP 34,754 34,894 35,914
HKD 3,291 3,304 3,420
CHF 32,568 32,699 33,616
JPY 160.23 160.87 168.71
AUD 18,254 18,327 18,920
SGD 20,186 20,267 20,853
THB 788 791 825
CAD 18,496 18,570 19,135
NZD 15,136 15,674
KRW 16.73 18.36
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26100 26100 26423
AUD 18256 18356 19281
CAD 18471 18571 19586
CHF 32704 32734 34317
CNY 3831.1 3856.1 3991.6
CZK 0 1210 0
DKK 0 4060 0
EUR 30048 30078 31803
GBP 34829 34879 36647
HKD 0 3355 0
JPY 160.69 161.19 171.73
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6720 0
NOK 0 2770 0
NZD 0 15176 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2776 0
SGD 20130 20260 20990
THB 0 752.4 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14800000 14800000 15100000
SBJ 13000000 13000000 15100000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,125 26,175 26,423
USD20 26,125 26,175 26,423
USD1 23,907 26,175 26,423
AUD 18,293 18,393 19,514
EUR 30,194 30,194 31,631
CAD 18,418 18,518 19,840
SGD 20,211 20,361 20,938
JPY 161.16 162.66 167.36
GBP 34,740 35,090 35,985
XAU 14,698,000 0 14,952,000
CNY 0 3,737 0
THB 0 789 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 15/06/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80