Bảo hiểm xã hội Việt Nam: Chủ động chuyển đổi, không làm gián đoạn quyền lợi người thụ hưởng

Hà My
(TBTCO) - Từ ngày 1/7/2025, Luật Tổ chức chính quyền địa phương (sửa đổi) sẽ chính thức có hiệu lực, tạo bước chuyển lớn trong cơ cấu tổ chức hành chính ở địa phương. Cùng với các cơ quan của Bộ Tài chính, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã sẵn sàng cho hoạt động mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.
aa
Bảo hiểm xã hội Việt Nam: Chủ động chuyển đổi, không làm gián đoạn quyền lợi người thụ hưởng
Nguồn: Bảo hiểm xã hội Việt Nam Đồ hoạ: Phương Anh

Đảm bảo vận hành thông suốt

Từ ngày 1/3/2025, Bảo hiểm xã hội Việt Nam trở thành đơn vị đặc thù thuộc Bộ Tài chính. Thực hiện Nghị quyết 08-NQ/ĐUBTC ngày 23/4/2025 của Đảng ủy Bộ Tài chính, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã nhanh chóng thực hiện tổ chức lại hệ thống 34 bảo hiểm xã hội khu vực trực thuộc Bảo hiểm xã hội Việt Nam, không tổ chức bảo hiểm xã hội cấp huyện. Đồng thời, chuyển đổi bảo hiểm xã hội cấp huyện thành bảo hiểm xã hội cơ sở thuộc bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố để quản lý trên địa bàn một số đơn vị hành chính cấp xã.

Bảo hiểm xã hội Việt Nam cũng đã chủ động triển khai việc sắp xếp tổ chức bộ máy, song song với việc tập trung mọi nguồn lực luôn đảm bảo chi trả lương hưu, các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp đầy đủ, chính xác, kịp thời cho người tham gia và thụ hưởng chính sách theo quy định.

Chia sẻ với phóng viên, ông Lê Hùng Sơn - Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam khẳng định, công tác hoàn thiện sắp xếp tinh gọn bộ máy hệ thống bảo hiểm xã hội không làm ảnh hưởng đến việc tiếp nhận và giải quyết quyền lợi của người tham gia, thụ hưởng chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp.

Ông Sơn cho biết, với quan điểm xuyên suốt “lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, chủ thể phục vụ”, được sự chỉ đạo sát sao của Bộ Tài chính, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã chủ động triển khai việc sắp xếp tổ chức bộ máy, đồng thời tập trung mọi nguồn lực, đảm bảo vận hành thông suốt để triển khai nhiệm vụ và đã đạt được những kết quả tích cực ở tất cả các lĩnh vực hoạt động. Số người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp đều tăng so với cùng kỳ năm 2024; công tác chi trả và giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp được thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định…

Kết quả cụ thể, về giải quyết thủ tục hành chính, toàn hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã tiếp nhận và giải quyết 9.469.450 lượt hồ sơ với tỷ lệ hồ sơ giải quyết hoàn toàn trực tuyến, đạt 80%.

Ước đến 30/6/2025, số người tham gia bảo hiểm xã hội đạt 20,78 triệu người, đạt tỷ lệ bao phủ là 44% lực lượng lao động trong độ tuổi, tăng 2,469 triệu người so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, bảo hiểm xã hội bắt buộc là 18,18 triệu người, tăng 1,499 triệu người và bảo hiểm xã hội tự nguyện là 2,59 triệu người, tăng 969 triệu người. Số người tham gia bảo hiểm thất nghiệp đạt 16,42 triệu người; đạt tỷ lệ bao phủ 34,8% lực lượng lao động trong độ tuổi; tăng 1,451 triệu người so với cùng kỳ năm trước. Số người tham gia bảo hiểm y tế đạt 96,46 triệu người, đạt tỷ lệ bao phủ là 95,2% dân số; tăng 4,333 triệu người so với cùng kỳ năm trước.

Về giải quyết chế độ, chính sách, ước 6 tháng năm 2025, toàn hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã giải quyết cho 90.655 người hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội hằng tháng, tăng 132,56% so với cùng kỳ năm 2024; 661.412 người hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội một lần; gần 4,4 triệu lượt người hưởng các chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức, phục hồi sức khỏe, tăng 8,39% so với cùng kỳ năm 2024. Số chi khám chữa bệnh bảo hiểm y tế trong 6 tháng đầu năm 2025 là 76,1 nghìn tỷ đồng, tăng gần 10 nghìn tỷ đồng (14,8%) so với cùng kỳ năm 2024.

Như vậy, trong bối cảnh hoàn thiện, sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy, Bảo hiểm xã hội Việt Nam luôn tập trung đảm bảo hoạt động thông suốt, không làm gián đoạn, không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người tham gia và thụ hưởng chính sách.

Sẵn sàng phục vụ nhân dân theo mô hình tổ chức mới

Hiện nay, bảo hiểm xã hội các địa phương chuyển đổi thành bảo hiểm xã hội các khu vực và tới đây là bảo hiểm xã hội tỉnh (theo địa giới hành chính)..., đặt trụ sở tại một số địa phương nhất định. Trả lời câu hỏi của phóng viên về tác động của việc thay đổi này, ông Lê Hùng Sơn khẳng định: “Việc thay đổi sắp xếp theo 2 mô hình bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố và bảo hiểm xã hội cơ sở (không tổ chức bảo hiểm xã hội cấp huyện) không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết chế độ, quyền lợi của người tham gia, người thụ hưởng”.

Ưu tiên hàng đầu việc đảm bảo quyền lợi của người tham gia

“Những kết quả nổi bật trong 6 tháng đầu năm 2025 là minh chứng thể hiện sự quan tâm, chỉ đạo đúng đắn của Đảng, Chính phủ, lãnh đạo Bộ Tài chính và tinh thần trách nhiệm, sự nỗ lực và quyết tâm cao của toàn hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam. Bảo hiểm xã hội Việt Nam sẽ tiếp tục theo dõi sát sao tình hình, kịp thời giải quyết các vướng mắc để bộ máy tổ chức mới hoạt động hiệu lực, hiệu quả, ưu tiên hàng đầu việc đảm bảo quyền lợi của người tham gia và thụ hưởng các chính sách”. Ông Lê Hùng Sơn - Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam khẳng định.

Đại diện Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho biết, thời gian qua, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã tập trung đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, liên thông dữ liệu trong các hoạt động nghiệp vụ và đã đạt được nhiều kết quả tích cực; được các tổ chức, cá nhân ghi nhận, đánh giá cao trong việc tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp giao dịch với cơ quan bảo hiểm xã hội.

Hiện nay, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã cung cấp 70 dịch vụ công trực tuyến mức độ toàn trình và đã tích hợp 100% trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia, đáp ứng yêu cầu của người dân và doanh nghiệp; tổ chức, cá nhân có thể lựa chọn phương thức nộp hồ sơ qua giao dịch điện tử để tiết kiệm thời gian, chi phí.

Đồng thời, với mô hình tổ chức mới gắn với chính quyền địa phương 2 cấp, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã tái cơ cấu các quy trình nghiệp vụ, liên thông với dữ liệu dân cư và dữ liệu các bộ, ngành; cắt bỏ các giấy tờ thủ tục đã có dữ liệu (dân cư, căn cước, bảo hiểm xã hội, đăng ký xe, giấy phép lái xe)… Trên cơ sở đó, đẩy mạnh triển khai việc tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính không phụ thuộc vào địa giới hành chính. Theo đó, nhiều thủ tục hành chính hiện nay người lao động có thể lựa chọn nộp tại bất kỳ cơ quan bảo hiểm xã hội nào thuận tiện nhất.

“Đến thời điểm này, sau khi đã chủ động rà soát các chức năng chính của các phần mềm nghiệp vụ có liên quan đến việc liên cấp huyện, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã sẵn sàng phục vụ nhân dân theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp” - Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam Lê Hùng Sơn cho biết.

Bảo hiểm xã hội Việt Nam cũng yêu cầu bảo hiểm xã hội các khu vực ngay khi mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đi vào hoạt động từ 1/7 cần tiếp tục tham mưu cấp uỷ, chính quyền địa phương đưa chỉ tiêu phát triển người tham gia vào chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và hỗ trợ thêm mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm y tế cho người tham gia. Bên cạnh đó, bám sát thực tế triển khai nhiệm vụ để chủ động, kịp thời xây dựng các kịch bản, phương án, triển khai đồng bộ các giải pháp đảm bảo hoàn thành các chỉ tiêu về mở rộng độ bao phủ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp theo các Nghị quyết của Đảng, Chính phủ, Quốc hội.

Thực hiện phân công, phân nhiệm đảm bảo 6 rõ

Bảo hiểm xã hội Việt Nam yêu cầu Bảo hiểm xã hội các khu vực nhanh chóng ổn định tổ chức bộ máy sau sắp xếp, xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất, năng lực, uy tín, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới; tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính, hành chính; thực hiện nghiêm quy trình, quy chế của Bộ Tài chính, hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam. Đồng thời, thực hiện phân công, phân nhiệm đảm bảo 6 rõ “rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thời gian, rõ kết quả, rõ thẩm quyền”.

Hà My

Đọc thêm

F88 báo lãi 303 tỷ đồng trong quý I/2026, doanh thu cho vay và bảo hiểm đồng loạt tăng tốc

F88 báo lãi 303 tỷ đồng trong quý I/2026, doanh thu cho vay và bảo hiểm đồng loạt tăng tốc

(TBTCO) - Quý I/2026, lợi nhuận trước thuế của F88 đạt 303 tỷ đồng, tăng 129,4% so với cùng kỳ; dư nợ cho vay đạt gần 7.900 tỷ đồng, tăng 9,4%. Tính đến hết tháng 3/2026, tổng vay và trái phiếu phát hành của F88 đạt khoảng 3.960,8 tỷ đồng, tăng khoảng 10,5% so với đầu năm.
Lite X - giải pháp công nghệ tăng thu phí bảo hiểm trên kênh số cho ngân hàng và ví điện tử

Lite X - giải pháp công nghệ tăng thu phí bảo hiểm trên kênh số cho ngân hàng và ví điện tử

(TBTCO) - Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, các ngân hàng và ví điện tử tại Việt Nam đang mở rộng từ dịch vụ tài chính cơ bản sang mô hình hệ sinh thái tích hợp. Người dùng không chỉ chuyển tiền hay thanh toán, mà còn kỳ vọng thực hiện nhiều nhu cầu tài chính trên cùng một nền tảng.
Đại hội đồng cổ đông ABBank: Tận dụng "lương khô" và nguồn thu mới, nhắm đỉnh lãi kỷ lục 4.500 tỷ đồng

Đại hội đồng cổ đông ABBank: Tận dụng "lương khô" và nguồn thu mới, nhắm đỉnh lãi kỷ lục 4.500 tỷ đồng

(TBTCO) - ABBank đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế 4.500 tỷ đồng trong năm 2026, tăng 28% so với năm 2025, tăng trưởng tín dụng 9%, nợ xấu kiểm soát dưới 1,5% cùng kế hoạch tăng vốn lên 20.000 tỷ đồng và chuẩn bị chuyển sàn sang HOSE. Lãnh đạo ABBank nhấn mạnh động lực tăng trưởng từ nguồn “lương khô” xử lý nợ xấu và phát triển các nguồn thu mới.
ĐHĐCĐ Eximbank 2026: Thông qua định hướng củng cố nền tảng và triển khai chiến lược 5 năm

ĐHĐCĐ Eximbank 2026: Thông qua định hướng củng cố nền tảng và triển khai chiến lược 5 năm

(TBTCO) - Ngày 28/4/2026 - Ngân hàng TMCP Xuất Nhập khẩu Việt Nam (Eximbank; mã Ck: EIB) đã tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026, hoàn tất toàn bộ nội dung chương trình theo quy định và nhận được sự đồng thuận của cổ đông.
VDB hành trình 20 năm khẳng định vai trò định chế tài chính của Nhà nước trong phát triển kinh tế

VDB hành trình 20 năm khẳng định vai trò định chế tài chính của Nhà nước trong phát triển kinh tế

(TBTCO) - Sau 20 năm phát triển, Ngân hàng Phát triển Việt Nam đã từng bước khẳng định vị thế là công cụ tài chính hiệu quả của Chính phủ trong việc thực hiện chính sách tín dụng đầu tư của Nhà nước, cho vay lại vốn ODA của Chính phủ góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu và phát triển bền vững.
Giá vàng hôm nay ngày 28/4: Giá vàng trong nước giảm về ngưỡng 166 - 168,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 28/4: Giá vàng trong nước giảm về ngưỡng 166 - 168,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 28/4 đồng loạt điều chỉnh giảm lớn từ 300.000 - 400.000 đồng tại nhiều doanh nghiệp, đưa mặt bằng giao dịch vàng miếng về quanh 166 - 168,5 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 27/4: Giá vàng trong nước duy trì mặt bằng giá 166,3 - 168,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 27/4: Giá vàng trong nước duy trì mặt bằng giá 166,3 - 168,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 27/4 tiếp tục đi ngang, duy trì phổ biến quanh 166,3 - 168,8 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (27/4): Trong nước đi ngang, USD nhích tăng khi thị trường chờ tín hiệu chính sách

Tỷ giá USD hôm nay (27/4): Trong nước đi ngang, USD nhích tăng khi thị trường chờ tín hiệu chính sách

(TBTCO) - Sáng ngày 27/4, tỷ giá trung tâm phiên đầu tuần ở mức 25.113 đồng, đi ngang do trùng kỳ nghỉ lễ, trong khi DXY nhích tăng nhẹ lên 98,61 điểm. Đồng USD tăng nhẹ khi đàm phán Mỹ - Iran chưa tiến triển, làm dấy lên lo ngại lạm phát và khiến kỳ vọng Fed cắt giảm lãi suất năm 2026 suy yếu, trong bối cảnh thị trường chờ loạt dữ liệu và quyết sách quan trọng tuần này.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,250 16,650
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,130 16,580
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,500 167,500
Hà Nội - PNJ 164,500 167,500
Đà Nẵng - PNJ 164,500 167,500
Miền Tây - PNJ 164,500 167,500
Tây Nguyên - PNJ 164,500 167,500
Đông Nam Bộ - PNJ 164,500 167,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,500 16,800
Miếng SJC Nghệ An 16,500 16,800
Miếng SJC Thái Bình 16,500 16,800
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,400 16,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,400 16,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,400 16,700
NL 99.90 15,330
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,380
Trang sức 99.9 15,890 16,590
Trang sức 99.99 15,900 16,600
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,645 16,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,645 16,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 164 167
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 164 1,671
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 162 1,655
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,361 163,861
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,387 124,287
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,801 112,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 92,215 101,115
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,746 96,646
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,027 6,917
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cập nhật: 29/04/2026 07:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18362 18638 19221
CAD 18762 19040 19655
CHF 32713 33098 33737
CNY 0 3813 3905
EUR 30171 30445 31472
GBP 34742 35135 36065
HKD 0 3231 3433
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15205 15792
SGD 20096 20379 20904
THB 726 789 842
USD (1,2) 26084 0 0
USD (5,10,20) 26125 0 0
USD (50,100) 26153 26173 26366
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,146 26,146 26,366
USD(1-2-5) 25,101 - -
USD(10-20) 25,101 - -
EUR 30,393 30,417 31,674
JPY 161.51 161.8 170.54
GBP 35,068 35,163 36,147
AUD 18,606 18,673 19,257
CAD 19,011 19,072 19,653
CHF 33,119 33,222 33,992
SGD 20,284 20,347 21,020
CNY - 3,793 3,914
HKD 3,305 3,315 3,432
KRW 16.52 17.23 18.63
THB 774.89 784.46 834.71
NZD 15,231 15,372 15,729
SEK - 2,806 2,888
DKK - 4,067 4,185
NOK - 2,790 2,871
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,252.75 - 7,013.73
TWD 756.1 - 910.33
SAR - 6,925.86 7,249.9
KWD - 83,927 88,747
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,116 26,146 26,366
EUR 30,296 30,418 31,600
GBP 35,014 35,155 36,165
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 32,929 33,061 33,996
JPY 161.28 161.93 169.21
AUD 18,585 18,660 19,256
SGD 20,313 20,395 20,979
THB 793 796 831
CAD 18,977 19,053 19,632
NZD 15,323 15,857
KRW 17.13 18.82
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26224 26224 26366
AUD 18553 18653 19579
CAD 18943 19043 20058
CHF 32954 32984 34571
CNY 3794.1 3819.1 3954.3
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30358 30388 32111
GBP 35044 35094 36851
HKD 0 3355 0
JPY 161.63 162.13 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15315 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20256 20386 21117
THB 0 755.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16450000 16450000 16750000
SBJ 15000000 15000000 16750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,176 26,226 26,366
USD20 26,176 26,226 26,366
USD1 26,176 26,226 26,366
AUD 18,587 18,687 19,794
EUR 30,488 30,488 31,899
CAD 18,888 18,988 20,296
SGD 20,325 20,475 21,250
JPY 162.09 163.59 168.13
GBP 34,933 35,283 36,142
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,703 0
THB 0 791 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/04/2026 07:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80