Quỹ Bảo hiểm y tế là cơ chế tài chính chứ không phải quỹ từ thiện

Hà My
(TBTCO) - Theo chuyên gia, để đảm bảo an toàn, cân đối Quỹ Bảo hiểm y tế, phải coi quỹ là cơ chế tài chính, chứ không phải quỹ từ thiện thì mới đảm bảo được sự công bằng, bền vững. Quỹ chỉ bền vững khi bền vững cả đầu vào lẫn đầu ra.
aa

Gia tăng áp lực với Quỹ Bảo hiểm y tế

Nghị quyết số 20 - NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII đặt ra mục tiêu hướng tới thực hiện bao phủ chăm sóc sức khỏe và bảo hiểm y tế (BHYT) toàn dân; mọi người dân đều được quản lý, chăm sóc sức khỏe; được bảo đảm bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tham gia BHYT và thụ hưởng các dịch vụ y tế. Trong đó, mục tiêu phấn đấu năm 2025, tỷ lệ bao phủ BHYT đạt 95% dân số, năm 2030 đạt trên 95% dân số tham gia BHYT. Để thực hiện được mục tiêu này, bên cạnh đảm bảo quyền lợi BHYT cho người tham gia thì việc quản lý, sử dụng Quỹ BHYT nhằm đảm bảo tính bền vững của quỹ là rất quan trọng.

Tuy nhiên, việc quản lý, sử dụng Quỹ BHYT đảm bảo tính bền vững của quỹ hiện nay vẫn còn là thách thức. Nhiều năm nay, câu chuyện bội chi Quỹ BHYT vẫn là vấn đề “nóng”. Theo thống kê của Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam, số chi BHYT tăng mạnh từ năm 2016 khi bắt đầu thực hiện áp giá dịch vụ y tế kết cấu tiền lương. Tốc độ gia tăng chi khám chữa bệnh (KCB) BHYT bình quân trong giai đoạn 2014 - 2019 là 18%, riêng giai đoạn 2020 - 2021, số chi BHYT giảm do tác động của dịch Covid-19.

Bệnh nhân khám chữa bệnh chờ lấy thuốc tại Bệnh viện Bạch Mai. Ảnh: Luyện Vũ
Bệnh nhân khám chữa bệnh chờ lấy thuốc tại Bệnh viện Bạch Mai. Ảnh: Luyện Vũ

Sau 1 năm thực hiện thông tuyến KCB BHYT tuyến tỉnh, ông Lê Văn Phúc - Trưởng Ban Thực hiện chính sách BHYT (BHXH Việt Nam) cho biết, người dân dễ dàng tiếp cận dịch vụ y tế chất lượng cao, được KCB tại các cơ sở y tế tuyến trên theo yêu cầu, được hưởng quyền lợi điều trị nội trú BHYT như đi khám đúng tuyến, giảm thời gian làm thủ tục chuyển tuyến. So sánh tỷ trọng lượt nội trú trái tuyến trong tổng lượt nội trú của hai năm 2021 - 2020 cho thấy sự gia tăng số lượt đi KCB trái tuyến tại tuyến tỉnh tăng cao ở tất cả các vùng (trừ khu vực Đông Nam Bộ có xu hướng giảm nhẹ), trong đó khu vực Trung du và miền núi phía Bắc tăng hơn 300%; khu vực đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung tăng trên dưới 100%. Trong quý I/2022, số lượt nội trú trái tuyến tỉnh của toàn quốc và tất cả các vùng kinh tế - xã hội tiếp tục có xu hướng gia tăng so với cùng kỳ năm trước (32,6%, tăng 5,2% so với cùng kỳ năm 2021). Điều đáng nói, có nhiều bệnh có thể điều trị ở tuyến huyện, nhưng bệnh nhân vẫn vượt tuyến lên tỉnh để điều trị như: đẻ ngôi thường; đục thủy tinh thể ở người già; đau vùng cổ gáy, viêm ruột thừa, viêm phế quản...

Điều này sẽ làm tăng chi từ tiền túi do chi phí bình quân tại cơ sở y tế tuyến trên cao, chi phí đồng chi trả nội trú nhiều hơn; nguy cơ quá tải cơ sở KCB tuyến tỉnh… Mặt khác, điều này sẽ ảnh hưởng đến chính sách quản lý KCB của Nhà nước và nguồn lực KCB BHYT vì chỉ số thống kê y tế không phản ánh đúng nhu cầu KCB, mô hình bệnh tật của Việt Nam, gia tăng chi phí từ Quỹ BHYT. Theo ông Phúc, với đà này, tỷ lệ điều trị nội trú BHYT tuyến tỉnh sẽ còn tăng mạnh thời gian tới, chi phí thanh toán từ Quỹ BHYT tăng lên, gây áp lực lớn cho hệ thống, nhất là sau thời gian dịch Covid-19 được khống chế và bệnh nhân đi khám trở lại.

Giải pháp quản lý, sử dụng Quỹ Bảo hiểm y tế hiệu quả

Theo ông Lê Văn Phúc, xu thế của thế giới là tăng điều trị ngoại trú hoặc từ tuyến dưới, chăm sóc sức khỏe ban đầu để giảm mọi chi phí về sau chứ không phải tập trung điều trị nội trú. Việt Nam thì ngược lại, tỷ trọng giữa điều trị nội và ngoại trú năm 2020 là 60/40 và giờ chênh lệch tới 70/30, trong khi những năm trước đó tỷ lệ là 50/50. Vì vậy, đưa ra giải pháp cho vấn đề này, ông Phúc cho rằng, thời gian tới, cần có thêm những chính sách điều tiết hợp lý, trong đó tăng cường hệ thống y tế cơ sở, điều trị tại tuyến huyện. Những trường hợp nặng, cần thiết thì mới lên tuyến tỉnh hoặc trung ương, giảm tải cho các bệnh viện phía trên cũng như tiết kiệm chi phí cho gia đình và xã hội.

Còn theo nguyên Phó Tổng giám đốc BHXH Việt Nam Phạm Lương Sơn, để đảm bảo tính bền vững của Quỹ BHYT, bảo vệ tài chính cho người tham gia BHYT phải làm sao hướng tới không bội chi Quỹ BHYT, giảm chi trả từ tiền túi của người tham gia BHYT, chi trả hiệu quả/mua dịch vụ chiến lược, hạn chế nhập viện, kiểm soát chi phí nội trú, tăng KCB tuyến dưới, giảm KCB tuyến trên. "Phải coi Quỹ BHYT là cơ chế tài chính, chứ không phải quỹ từ thiện (mặc dù đây là một quỹ mang tính nhân văn) thì mới đảm bảo được sự công bằng, bền vững. Quỹ chỉ bền vững khi bền vững cả đầu vào lẫn đầu ra" - ông Sơn nhấn mạnh.

Nguyên Phó Tổng giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam Phạm Lương Sơn đã chỉ ra một số nguyên nhân gây tăng áp lực với Quỹ Bảo hiểm y tế như: khuyến khích nhập viện nội trú; tăng cung ứng dịch vụ y tế hơn nhu cầu; phá vỡ nguyên tắc chung của quản lý khám chữa bệnh ban đầu; khó khăn trong thực hiện phương thức thanh toán theo định suất; thiếu các “công cụ” kiểm soát chi phí: tài liệu hướng dẫn chẩn đoán và điều trị chưa đầy đủ hoặc hướng dẫn theo hướng mở; chưa có tiêu chí nhập viện nội trú; không có cơ chế kiểm soát số lượng, chất lượng dịch vụ…

Đề xuất giải pháp cho vấn đề đảm bảo tính bền vững của Quỹ BHYT, bảo vệ tài chính cho người tham gia BHYT, ông Phạm Lương Sơn cho rằng, về phạm vi, cần xây dựng danh mục dịch vụ do quỹ BHYT chi trả rõ ràng, dựa trên tính chi phí hiệu quả, có danh mục dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu/khám chữa bệnh ban đầu/danh mục dịch vụ bệnh viện. Về phương thức thanh toán, có thể áp dụng thanh toán theo khoán tổng ngân sách + định suất trong khám chữa bệnh ngoại trú, chăm sóc sức khỏe/KCB ban đầu; khoán tổng ngân sách + DRG (phương thức thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh BHYT theo định suất và theo nhóm chẩn đoán liên quan) trong KCB nội trú. Đây là một trong các biện pháp kiểm soát chi phí hiệu quả.

Đồng thời, cần phải giám sát, kiểm soát chi phí hiệu quả. Cụ thể, cần tăng cường vai trò của cơ quan BHXH: quyết định phương thức thanh toán, mua dịch vụ chiến lược; cơ chế chi trả tập trung và khuyến khích vào các dịch vụ cần; xây dựng quy trình đánh giá chất lượng dịch vụ, công khai điểm chất lượng KCB…

Hà My

Đọc thêm

VDSC: Mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt trong 3 tháng tới

VDSC: Mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt trong 3 tháng tới

Dù thị trường đang đặt cược khoảng 50% khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ tăng lãi suất vào cuối năm, nhưng Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho rằng, kịch bản này khó xảy ra và mặt bằng lãi suất tại Việt Nam khó hạ nhiệt trong 3 tháng tới, do áp lực tỷ giá, mức chênh lệch hoán đổi VND - USD vẫn cao và nguồn tiền gửi Kho bạc hỗ trợ thanh khoản khá hạn chế.
“Trọn Vạn Dặm An” - chương trình tri ân lớn nhất năm của Bảo Việt Nhân thọ với cơ hội trúng ô tô VinFast hấp dẫn

“Trọn Vạn Dặm An” - chương trình tri ân lớn nhất năm của Bảo Việt Nhân thọ với cơ hội trúng ô tô VinFast hấp dẫn

(TBTCO) - Nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập, Bảo Việt Nhân thọ chính thức triển khai chương trình tri ân lớn nhất năm - “Trọn Vạn Dặm An”, với tổng giá trị quà tặng lên đến 11 tỷ đồng cùng hàng loạt giải thưởng hấp dẫn như ô tô và xe máy điện VinFast dành cho khách hàng trên toàn quốc.
Giá vàng hôm nay ngày 1/6: Giá vàng trong nước duy trì quanh 156 - 159 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 1/6: Giá vàng trong nước duy trì quanh 156 - 159 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giữ nguyên giá, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến tiếp tục duy trì trong vùng 156 - 159 triệu đồng/lượng.
Mở dư địa phát triển, quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung tăng sức hút nhờ “lãi kép”

Mở dư địa phát triển, quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung tăng sức hút nhờ “lãi kép”

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, bà Lê Vân - Giám đốc Ban Phát triển Kinh doanh Công ty TNHH Quản lý Quỹ Vietcombank (VCBF) nhấn mạnh những thay đổi mang tính định hình lại “luật chơi”, phát triển bảo hiểm hưu trí bổ sung. Trong đó, việc mở rộng danh mục đầu tư có thể giúp quỹ đạt lợi suất ròng dài hạn cạnh tranh hơn, tăng sức hấp dẫn nhờ hiệu ứng “lãi kép” từ đầu tư dài hạn và ưu đãi thuế.
Đề xuất gỡ “giấy phép con” với vàng trang sức, siết quản lý vàng nguyên liệu tạm nhập tái xuất

Đề xuất gỡ “giấy phép con” với vàng trang sức, siết quản lý vàng nguyên liệu tạm nhập tái xuất

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề xuất đưa hoạt động sản xuất, gia công, kinh doanh mua bán vàng trang sức, mỹ nghệ ra khỏi danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Đồng thời, siết chặt quản lý hoạt động tạm nhập vàng nguyên liệu để tái xuất, không được bán, chuyển giao, sử dụng vào mục đích khác trên thị trường trong nước.
PGBank sắp chốt quyền chia cổ tức 7,5%, tiếp tục hành trình tăng vốn lên 10.000 tỷ đồng

PGBank sắp chốt quyền chia cổ tức 7,5%, tiếp tục hành trình tăng vốn lên 10.000 tỷ đồng

(TBTCO) - PGBank vừa chốt ngày 10/6 là ngày đăng ký cuối cùng để thực hiện quyền trả cổ tức bằng cổ phiếu tỷ lệ 7,5%, đồng thời tiếp tục triển khai kế hoạch tăng vốn điều lệ lên 10.000 tỷ đồng còn dang dở.
Ngân hàng Nhà nước lên tiếng về chương trình sử dụng vàng để giao dịch bất động sản

Ngân hàng Nhà nước lên tiếng về chương trình sử dụng vàng để giao dịch bất động sản

(TBTCO) - Chiều ngày 29/5, Ngân hàng Nhà nước đã có những thông tin liên quan đến chương trình doanh nghiệp hỗ trợ khách hàng sử dụng vàng để giao dịch bất động sản.
Ông Phạm Quang Dũng thôi giữ chức Phó Tổng Giám đốc, tiếp tục đảm nhiệm vị trí mới tại Eximbank

Ông Phạm Quang Dũng thôi giữ chức Phó Tổng Giám đốc, tiếp tục đảm nhiệm vị trí mới tại Eximbank

(TBTCO) - Ngày 29/5/2026, Ngân hàng TMCP Xuất Nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) cho biết đã nhận được đơn đề nghị thôi đảm nhiệm chức vụ Phó Tổng Giám đốc của ông Phạm Quang Dũng kể từ ngày 1/6/2026.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,550 15,850
Kim TT/AVPL 15,550 15,850
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,550 15,850
Nguyên Liệu 99.99 14,550 14,750
Nguyên Liệu 99.9 14,500 14,700
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,150 15,550
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,100 15,500
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,030 15,480
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 155,500 158,500
Hà Nội - PNJ 155,500 158,500
Đà Nẵng - PNJ 155,500 158,500
Miền Tây - PNJ 155,500 158,500
Tây Nguyên - PNJ 155,500 158,500
Đông Nam Bộ - PNJ 155,500 158,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,550 15,850
Miếng SJC Nghệ An 15,550 15,850
Miếng SJC Thái Bình 15,550 15,850
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,550 15,850
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,550 15,850
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,550 15,850
NL 99.90 14,200
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,250
Trang sức 99.9 15,040 15,740
Trang sức 99.99 15,050 15,750
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,555 15,852
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,555 15,853
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,553 1,583
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,553 1,584
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,533 1,568
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 148,748 155,248
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,862 117,762
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,885 106,785
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,908 95,808
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 82,674 91,574
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,642 65,542
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Cập nhật: 02/06/2026 05:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18347 18623 19204
CAD 18509 18786 19405
CHF 32896 33281 33941
CNY 0 3849 3942
EUR 30023 30296 31327
GBP 34617 35009 35947
HKD 0 3227 3430
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15357 15945
SGD 20054 20337 20867
THB 723 786 840
USD (1,2) 26051 0 0
USD (5,10,20) 26092 0 0
USD (50,100) 26121 26135 26394
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,114 26,114 26,394
USD(1-2-5) 25,070 - -
USD(10-20) 25,070 - -
EUR 30,200 30,224 31,546
JPY 160.8 161.09 170.14
GBP 34,868 34,962 36,028
AUD 18,585 18,652 19,282
CAD 18,740 18,800 19,419
CHF 33,259 33,362 34,218
SGD 20,211 20,274 20,995
CNY - 3,821 3,952
HKD 3,296 3,306 3,431
KRW 16.16 16.85 18.26
THB 772.31 781.85 833.59
NZD 15,392 15,535 15,935
SEK - 2,802 2,889
DKK - 4,041 4,167
NOK - 2,801 2,889
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,214.15 - 6,986.39
TWD 759.38 - 916.39
SAR - 6,905.92 7,245.6
KWD - 83,643 88,650
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,104 26,124 26,394
EUR 30,081 30,202 31,404
GBP 34,768 34,908 35,942
HKD 3,289 3,302 3,420
CHF 33,047 33,180 34,129
JPY 161.14 161.79 169.21
AUD 18,550 18,624 19,228
SGD 20,242 20,323 20,920
THB 788 791 826
CAD 18,712 18,787 19,370
NZD 15,477 16,026
KRW 16.67 18.29
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26172 26172 26394
AUD 18543 18643 19568
CAD 18696 18796 19810
CHF 33164 33194 34777
CNY 3830.7 3855.7 3990.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30214 30244 31967
GBP 34923 34973 36731
HKD 0 3355 0
JPY 161.54 162.04 172.58
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15464 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20217 20347 21075
THB 0 752.6 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15550000 15550000 15850000
SBJ 13500000 13500000 15850000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,147 26,197 26,394
USD20 26,147 26,197 26,394
USD1 23,882 26,197 26,394
AUD 18,598 18,698 19,799
EUR 30,357 30,357 31,767
CAD 18,662 18,762 20,069
SGD 20,300 20,450 21,013
JPY 161.99 163.49 168.05
GBP 34,815 35,165 36,031
XAU 15,598,000 0 15,902,000
CNY 0 3,739 0
THB 0 790 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/06/2026 05:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80