Tích cực triển khai công tác thu và phát triển người tham gia bảo hiểm xã hội ngay từ đầu năm

Mai Lâm
(TBTCO) - Với tinh thần khẩn trương, tận dụng thời gian bắt tay vào thực hiện nhiệm vụ ngay từ đầu năm 2024, bảo hiểm xã hội các địa phương đã bám sát tình hình thực tiễn, chỉ đạo triển khai mạnh các giải pháp thu, phát triển người tham gia.
aa

Ngày 21/2, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam tổ chức Hội nghị trực tuyến triển khai công tác thu và phát triển người tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) năm 2024 của ngành.

Quyết liệt, triển khai đồng bộ, linh hoạt các giải pháp

Đánh giá về bức tranh chung trong công tác thu, phát triển người tham gia thời gian qua, Phó Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam Trần Đình Liệu nhấn mạnh, năm 2023, mặc dù triển khai nhiệm vụ trong điều kiện có nhiều khó khăn, thách thức, song toàn ngành đã nỗ lực, quyết tâm hoàn thành và vượt chỉ tiêu phát triển người tham gia BHXH, BHTN, BHYT; vượt số thu và số tiền chậm đóng giảm sâu nhất từ trước đến nay.

Trong đó, kết quả nổi bật như: tỷ lệ người tham gia BHXH, BHTN lần lượt đạt 39,25%; 31,6% lực lượng lao động trong độ tuổi; tỷ lệ bao phủ BHYT tiệm cận mục tiêu BHYT toàn dân, đạt 93,35% dân số (vượt 0,15% so với Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ) với trên 93,3 triệu người tham gia và là chỉ tiêu kinh tế - xã hội, vượt mục tiêu đề ra tại Nghị quyết số 68/2022/QH15 của Quốc hội. Tỷ lệ số tiền chậm đóng/số phải thu BHXH, BHYT, BHTN thấp nhất từ năm 2016 trở lại đây (giảm từ 6% - năm 2016 xuống còn 2,69%).

Tích cực triển khai công tác thu và phát triển người tham gia bảo hiểm xã hội ngay từ đầu năm
Các điểm cầu BHXH địa phương tham dự hội nghị trực tuyến.

Ông Trần Đình Liệu cho biết, để đạt được những kết quả đó, bên cạnh sự vào cuộc mạnh mẽ của cả hệ thống chính trị, toàn ngành BHXH Việt Nam đã thống nhất từ chủ trương tới hành động để quyết liệt triển khai đồng bộ, sáng tạo, linh hoạt các giải pháp trong công tác tham mưu, đôn đốc thu, truyền thông, thanh tra, kiểm tra…

Trong năm 2023, tổng thu chi các quỹ BHXH, BHYT, BH thất nghiệp là gần 912 nghìn tỷ đồng liên quan đến hầu hết người dân, tổ chức và DN. Trong đó, tổng số thu các quỹ là hơn 472 nghìn tỷ đồng, tổng số chi các quỹ là hơn 439 nghìn tỷ đồng. Đến nay đã có 22/63 tỉnh trích ngân sách hỗ trợ thêm cho người tham gia BHXH tự nguyện, 62/63 tỉnh trích ngân sách hỗ trợ thêm cho người tham gia BHYT.

Trong đó, thực hiện chỉ đạo của lãnh đạo ngành, BHXH các địa phương đã tích cực tham mưu tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh ban hành các văn bản chỉ đạo về BHXH, BHYT; kiện toàn ban chỉ đạo thực hiện chính sách BHXH, BHYT ở các cấp; chủ động xây dựng kịch bản phù hợp, quyết liệt triển khai ở từng địa bàn…

Đến nay đã có 22/63 tỉnh huy động ngân sách địa phương hỗ trợ người dân tham gia BHXH tự nguyện, 62/63 tỉnh hỗ trợ tham gia BHYT…, góp phần quan trọng trong thực hiện mục tiêu BHXH, BHYT toàn dân theo tinh thần các Nghị quyết của Đảng.

Tăng cường thu, giảm số tiền chậm đóng

Nhận định về tình hình lao động tác động tới công tác thu, phát triển người tham gia BHXH, BHYT, BHTN năm 2024, ông Dương Văn Hào - Trưởng Ban Quản lý Thu - Sổ, Thẻ (BHXH Việt Nam) cho biết, tỷ lệ lao động quay lại làm việc ở các địa phương khá lạc quan, có những địa phương đạt tỷ lệ 100%... Đây là cơ sở thuận lợi để cơ quan BHXH đẩy mạnh triển khai các giải pháp thu, phát triển người tham gia ngay từ đầu năm.

Tuy nhiên, dự báo trong năm sẽ còn nhiều khó khăn, thách thức, đòi hỏi tiếp tục cần triển khai đồng bộ, mạnh mẽ hơn nữa các giải pháp đôn đốc thu, phát triển người tham gia BHXH, BHYT.

Tích cực triển khai công tác thu và phát triển người tham gia bảo hiểm xã hội ngay từ đầu năm
Ông Dương Văn Hào - Trưởng Ban Quản lý Thu - Sổ, Thẻ phát biểu tại hội nghị

“Căn cứ kế hoạch được giao, BHXH tỉnh giao chỉ tiêu cho từng huyện, tổ chức dịch vụ thu và triển khai các giải pháp để phát triển người tham gia trên địa bàn; phát động phong trào thi đua trong công tác thu, giảm số tiền chậm đóng BHXH, BHYT, BHTN để động viên, khích lệ các tổ chức, cá nhân có nhiều thành tích, sáng kiến hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” - ông Dương Văn Hào nhấn mạnh.

Đánh giá bối cảnh năm 2024 có cả yếu tố thuận lợi và khó khăn, ông Trần Đình Liệu yêu cầu BHXH các tỉnh, thành phố tiếp tục nêu cao quyết tâm, chủ động, sáng tạo xây dựng các kịch bản, giải pháp cụ thể ở từng nhóm đối tượng, rõ chỉ tiêu ở từng mảng công tác.

Bên cạnh đó, phát huy mạnh mẽ vai trò tham mưu của cơ quan BHXH để tăng cường sự vào cuộc của cấp ủy, chính quyền địa phương. Đặc biệt, tiếp tục nêu cao hơn nữa vai trò của ban chỉ đạo các cấp, nhất là cấp xã, gắn với nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức dịch vụ thu.

Giao chỉ tiêu đến cấp huyện, xã

Để hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ của ngành, BHXH Việt Nam yêu cầu BHXH các tỉnh, thành phố bám sát vào chỉ đạo của BHXH Việt Nam xây dựng các giải pháp tổ chức thực hiện hiệu quả, trong đó tập trung các giải pháp. Trong đó, chủ động tham mưu với cấp uỷ, chính quyền địa phương đưa chỉ tiêu bao phủ BHXH, BHYT, BHTN vào Nghị quyết của HĐND các cấp.

Đồng thời, giao chỉ tiêu phát triển người tham gia đến cấp huyện, cấp xã; tham mưu kế hoạch, nội dung giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện để hoàn thành các chỉ tiêu được giao về độ bao phủ BHXH, BHYT, BHTN.

Mai Lâm

Đọc thêm

Siết kỷ luật để thị trường bảo hiểm phát triển bền vững

Siết kỷ luật để thị trường bảo hiểm phát triển bền vững

(TBTCO) - Nghị định số 78/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực từ ngày 1/5/2026 sẽ nâng trần xử phạt bằng tiền, mở rộng thẩm quyền xử phạt cho nhiều cấp và bổ sung hình thức xử phạt trên môi trường điện tử. Qua đó, chấn chỉnh và xử nghiêm các sai phạm, bảo vệ quyền lợi người tham gia bảo hiểm và củng cố sự phát triển bền vững của thị trường.
21 năm đồng hành, Chubb Life Việt Nam nâng chuẩn phục vụ trên toàn quốc

21 năm đồng hành, Chubb Life Việt Nam nâng chuẩn phục vụ trên toàn quốc

(TBTCO) - Sau 21 năm hiện diện tại Việt Nam, Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) triển khai chuyển đổi toàn diện hệ thống văn phòng kinh doanh và trung tâm phục vụ khách hàng trên toàn quốc trong bối cảnh thị trường bảo hiểm nhân thọ đang chuyển dịch theo hướng lấy chất lượng dịch vụ làm yếu tố khác biệt then chốt thay vì chỉ dựa vào đặc tính sản phẩm. Đây được xem là bước chuyển chiến lược nhằm xây dựng một hành trình dịch vụ liền mạch, chuyên nghiệp và lấy khách hàng làm trọng tâm.
Vietcombank ra mắt thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO

Vietcombank ra mắt thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) vừa phối hợp cùng Visa và Công ty TNHH MTV Đường sắt Hà Nội (Hanoi Metro) chính thức ra mắt dòng thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO. Sản phẩm được phát triển theo định hướng kết nối dịch vụ tài chính với hạ tầng giao thông đô thị, mang đến giải pháp thanh toán thuận tiện, đồng thời hướng tới khuyến khích các hành vi tiêu dùng bền vững trong đời sống hàng ngày.
Tỷ giá USD hôm nay (26/3): Thế giới tăng, Ngân hàng Nhà nước giảm

Tỷ giá USD hôm nay (26/3): Thế giới tăng, Ngân hàng Nhà nước giảm

Sáng ngày 26/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.102 VND, giảm 2 VND so với phiên giao dịch trước. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) tăng 0,19%, hiện ở mức 99,63 điểm.
Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Kim TT/AVPL 16,860 ▼200K 17,160 ▼200K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Nguyên Liệu 99.99 15,800 ▼550K 16,000 ▼550K
Nguyên Liệu 99.9 15,750 ▼550K 15,950 ▼550K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,550 ▼350K 16,950 ▼350K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,500 ▼350K 16,900 ▼350K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,430 ▼350K 16,880 ▼350K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Hà Nội - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Đà Nẵng - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Miền Tây - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Tây Nguyên - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Miếng SJC Nghệ An 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Miếng SJC Thái Bình 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,670 ▼600K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,700 ▼600K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,685 ▼20K 17,152 ▼200K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,685 ▼20K 17,153 ▼200K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,683 ▼20K 1,713 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,683 ▼20K 1,714 ▼20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,663 ▼20K 1,698 ▼20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,619 ▼1980K 168,119 ▼1980K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,613 ▼1500K 127,513 ▼1500K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,726 ▼1360K 115,626 ▼1360K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,838 ▼1220K 103,738 ▼1220K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 90,253 ▼1166K 99,153 ▼1166K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,064 ▼834K 70,964 ▼834K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Cập nhật: 26/03/2026 23:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17741 18014 18592
CAD 18522 18799 19416
CHF 32608 32992 33637
CNY 0 3470 3830
EUR 29820 30092 31120
GBP 34375 34766 35700
HKD 0 3237 3439
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14944 15527
SGD 19984 20267 20795
THB 717 780 834
USD (1,2) 26084 0 0
USD (5,10,20) 26125 0 0
USD (50,100) 26153 26173 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,908 29,932 31,173
JPY 160.68 160.97 169.67
GBP 34,530 34,623 35,601
AUD 17,945 18,010 18,579
CAD 18,689 18,749 19,319
CHF 32,804 32,906 33,674
SGD 20,093 20,155 20,826
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.13 16.82 18.19
THB 765.08 774.53 824.92
NZD 14,915 15,053 15,406
SEK - 2,766 2,846
DKK - 4,003 4,119
NOK - 2,672 2,750
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,163.18 - 6,915.14
TWD 744.21 - 896.03
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,549 88,351
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26219 26219 26357
AUD 17914 18014 18942
CAD 18694 18794 19810
CHF 32851 32881 34459
CNY 3754.3 3779.3 3914.7
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30000 30030 31756
GBP 34667 34717 36469
HKD 0 3355 0
JPY 161.64 162.14 172.68
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15040 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20140 20270 21005
THB 0 747.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16850000 16850000 17150000
SBJ 15000000 15000000 17150000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,173 26,223 26,357
USD20 26,173 26,223 26,357
USD1 26,173 26,223 26,357
AUD 17,982 18,082 19,194
EUR 30,134 30,134 31,551
CAD 18,645 18,745 20,058
SGD 20,226 20,376 20,945
JPY 162.19 163.69 168.27
GBP 34,565 34,915 35,797
XAU 16,848,000 0 17,152,000
CNY 0 3,665 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 23:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80